PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆT TRÌ
TRƯỜNG TIỂU HỌC GIA CẨM
===== *** =====
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
PHÂN MÔN CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5
Người thực hiện: Trần Thị Thu Hường
Chức vụ: Giáo viên
Chuyên môn: Đại học Tiểu học
1
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chúng ta đều biết:"Nhân cách của con người chỉ có thể được hình thành
thông qua hoạt động và giao tiếp". Để xã hội tồn tại và phát triển, để giao tiếp
được thuận tiện, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có ngôn ngữ riêng. Tiếng Việt là
ngôn ngữ thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong cuộc sống hàng
ngày, để giao tiếp ngoài ngôn ngữ riêng. Tiếng việt là ngôn ngữ thống nhất trên
toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Trong cuộc sống hàng ngày, để giao tiếp ngoài ngôn
ngữ nói còn có ngôn ngữ viết. Ngôn ngữ biết đóng vai trò đặc biệt quan trọng
trong giao tiếp của các quốc gia nói chung cũng như Việt Nam nói riêng. Yêu
cầu đầu tiên, đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ viết là phải viết đúng chính tả.
Chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không bị cản
trở giữa các địa phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời trước và
đời sau.
Vì vậy, việc dạy đúng chính tả phải được coi trọng ngay từ buổi đầu đối với
học sinh tiểu học. Phân môn chính tả ở tiểu học có nhiệm vụ chủ yếu rèn luyện
cho học sinh nắm các quy tắc và thói quen viết đúng với chuẩn chính tả Tiếng
Việt. Cùng với các phân môn khác, chính tả giúp cho học sinh chiếm lĩnh Việt
văn hoá - Công cụ để giao tiếp, tư duy. Ngay từ bậc tiểu học, trẻ cần phải được
môn học chính tả một cách khoa học, cẩn thận để có sử dụng công cụ này suốt
những năm tháng trong thời kỳ học tập ở nhà trường cũng như suốt cuộc đời.
Nhưng trên thực tế hiện tượng học sinh viết sai chính tả là khá phổ biến. Cụ
Âm vị /b/ được biểu thị bằng chữ cái"b"
Ngữ âm học thực hành chủ yếu tập trung vào rèn luyện phát âm đúng. Phát
âm đúng gắn liền với viết đúng (chính âm gắn liền với chính tả). Do đó cơ chế
của việc viết đúng phải dựa trên đọc đúng, đọc đúng là cơ sở viết đúng. Để phát
huy một cách có ý thức, đặc biệt là vùng phương ngữ việc dạy chính tả cần phải
theo sát nguyên tắc này. Nghĩa là phải tôn trọng việc phát âm, lấy phát âm để
điều chỉnh chữ viết.
2.2 Những bất hợp lý của chữ quốc ngữ
Ở tiếng Việt nguyên tắc cơ bản là nguyên tắc ngữ âm học. Ngoài ra chính
tả tiếng Việt còn được xây dựng trên một số nguyên tắc nữa như nguyên tắc
3
truyền thống lịch sử, nguyên tắc khu biệt Những nguyên tắc này không đồng
nhất với nguyên tắc ngữ âm học, do vậy chính tả tiếng Việt còn có những hợp
lý. Cụ thể trong tiếng Việt có hiện tượng. Cách phát âm ở những vùng miền
khác nhau (phương ngữ). Bên cạnh đó lại có trường hợp từ mang hai biến thể
phát âm, khó có thể nói biến âm nào là chuẩn.
Ví dụ: Chòng chành - tròng trành
Nhún nhảy - Dún dẩy
Hoặc có khi có một cách phát âm nhưng lại có hai cách viết
Ví dụ:
i: trong lí luận
/i/ y: trong Lý Thường Kiệt
Bản thân hệ thống âm vị tiếng Việt còn có một số âm vị không ghi thống
nhất một âm có thể ghi bằng nhiều chữ.
Ví dụ:
c( con cuốc)
/c/ k:(cái kim)
q: (Tổ quốc)
Trước những bất hợp lý trên, việc xác định trọng điểm chính tả cần cho dạy
học sinh vùng phương ngữ, một mặt phải coi trọng hệ thống âm chuẩn toàn dân,
động để học sinh bắt chước và noi theo. Ngoài ra việc đổi mới các phương pháp
dạy học và giúp học sinh nắm bắt các mẹo luật chính tả cũng hết sức cần thiết để
học sinh viết đúng.
Trong phạm vi nghiên cứu của chuyên đề, tôi xin được thống kê số liệu học
sinh mắc lỗi chính tả của khối 5 đầu năm học như sau:
5
STT Lớp
Tổng
Các lỗi chính tả thường mắc
l - n d/gi/r/ch;tr/s/x Cấu trúc âm tiết
1 5A 48 4 em 9 em 2 em
2 5B 48 3 em 7 em 3 em
3 5C 43 4 em 10 em 0 em
4 5D 42 5 em 10 em 3 em
5 5E 48 3em 8em 0em
6 5G 45 3em 7em 3em
7 5H 43 2em 8em 2em
2. Thực tế về giảng dạy chính tả của giáo viên tiểu học.
Trước hết phải nói đến trình độ đào tạo của giáo viên không đồng đều và
việc tổ chức dạy - học môn Chính tả chưa được khoa học. Những tồn tại trên
dẫn đến chất lượng học chính tả của học sinh còn nhiều hạn chế. Để khắc phục
tình trnạg này, việc đối mới phương pháp dạy học phân môn Chính tả là hết sức
cần thiết, phải giúp học sinh nắm được các quy tắc chính tả,. các mẹo luật chính
tả phù hợp với trình độ tiếp thu của các em, hình thành kỹ năng, kỹ xảo chính tả,
bỏ thói quen phát âm sai dẫn đến viết sai.
3. Chương trình sách giáo khoa
Sách giáo khoa môn Tiếng việt ở tiểu học đã xác định được những trọng
điểm chính tả cơ bản cần dạy cho học sinh. Các bài tập chính tả trong sách giáo
khoa ở tiểu học cũng khá đa dạng, phù hợp với từng khối lớp và cấu trúc đi từ dễ
đến khó.
lớp ở từng địa phương được lựa chọn để dạy cho phù hợp với đặc điểm của học
sinh địa phương.
Phần nội dung tự chọn là phần viết đúng các từ mà phát âm của tiếng địa
phương lệch so với chuẩn trong mỗi bài học. Trong trường hợp các bài tập tự
chọn trong sách giáo khoa không phù hợp với đặc điểm phát âm của tiếng địa
phương nơi có trường lớp mình dạy, giáo viên có thể soạn bài tập thay thế cho
bài tập ở sách giáo khoa sao cho nội dung bài thay thế phù hợp với đặc điểm
7
phát âm của tiếng địa phương dẫn đến lỗi chính tả học sinh lớp mình, trường
mình thường mắc.
3.Biện pháp 3: Giáo viên cần sử dụng phương pháp và hình thức dạy
học phù hợp
- Phương pháp rèn luyện theo mẫu: Thực hiện phương pháp này, giáo
viên cần đọc mẫu các từ mà học sinh dễ mắc lỗi, học sinh nghe và phát âm lại
cho đúng các từ đó. Tiếp theo giáo viên yêu cầu học sinh phân tích tiếng mắc
lối thành các phần âm đầu, vần và thanh điệu, từ đó học sinh nhớ cách ghi các
bộ phận của tiếng để viết đúng. trước khi viết bài chính tả, học sinh viết từ này
ra bảng con. Một biện pháp cần thực hiện để dạy học chính tả theo mẫu là tổ
chức cho các nhóm học sinh lập sổ tay chính tả của nhóm. Giáo viên hướng dẫn
học sinh ghi các lỗi chính tả mà học sinh trong nhóm mắc trong các bài viết và
cách viết đúng các từ đó. Sau khi ghi các từ mắc lỗi và cách sửa, học sinh cần
ghi thêm các từ em biết có các âm đầu, vần, thanh, các từ là tên riêng tương tự
như các từ mà em đã mắc lỗi để giúp các em biết cách viết đúng nhiều từ.
- Phương pháp thực hành giao tiếp.
Thực hành giao tiếp trong dạy học chính tả là chủ yếu thực hành giao tiếp
bằng chữ viết ghi lại các đơn vị có nghĩa. Muốn cho học sinh học tập theo
phương pháp này, giáo viên cần cho học sinh biết nghĩa của các đơn vị giao tiếp
(từ, câu), chuẩn chữ viết của các đơn vị này, sau khi hoàn thành bài viết, cần cho
học sinh kiểm tra lại để sửa lỗi sao cho các đơn vị giao tiếp trong bài đều đúng
với chuẩn chính tả.
sinh không mắc vào lỗi sai đó nữa).
5. Hướng dẫn bài tập chính tả (6 - 8')
Đây là bước giáo viên cần lưu ý giúp học sinh rèn luyện kỹ năng chính tả.
C. Hoạt động nối tiếp (Củng cố - Dặn dò) (1 - 2')
9
5. Biện pháp 5: Để nâng cao chất lượng phân môn Chính tả cho học
sinh lớp 5 cần:
5.1 Thực hiện soạn bài kế hoạch bài học dạy chính tả một cách nghiêm túc,
chu đáo.
Soạn bài dạy chính tả là công việc của từng giáo viên. Bản chất của hoạt
động soạn bài tập là một kế hoạch thực hiện bài học đảm bảo tính khả thi với
từng lớp học do từng giáo viên phụ trách. Giáo viên xác định mục tiêu của bài
về các phương diện kiến thức, kỹ năng, thái độ. Giáo viên xác định rõ mục tiêu
của bài về các phương diện kiến thức, kỹ năng, thái độ. Giáo viên cần chỉ ra các
đồ dùng dạy học mình tự chuẩn bị hoặc học sinh chuẩn bị ngoài những đồ dùng
do sách giáo viên gợi ý (đồ dùng dạy học bao gồm cả những phiếu học tập, các
đồ dùng để tổ chức trò chơi, tổ chức các cuộc thi cho học sinh). Giáo viên cần
chỉ rõ các hoạt động dạy học cụ thể sẽ thực hiện trong giờ học, cụ thể là từng
hoạt động học sinh làm gì, kết quả cần đạt ra sao, cần củng cố cho học sinh
những kiến thức và kỹ năng nào?
5.2 Người giáo viên phải đặt phân môn Chính tả nằm trong mối quan hệ
giữa các phân môn khác của tiếng Việt, đặc biệt là phân môn Tập đọc và Luyện
từ và câu.
Học sinh muốn viết đúng từ thì phải hiểu được nghĩa của từ và phát âm
đúng. Trong các giờ Tập đọc chúng ta dành nhiều thời gian hơn cho việc sửa lỗi
phát âm cho học sinh, đặc biệt là hai âm"- n". Giáo viên cần phát âm mẫu cho
học sinh học tập và yêu cầu học sinh phát âm lại cho chính xác. Ngoài ra giáo
viên hướng dẫn học sinh viết đúng chính tả trên cơ sở hiểu đúng nghĩa của từ.
5.3 Soạn một số bài tập chính tả phù hợp với đặc điểm của học sinh.
Để thực hiện tốt mục tiêu của phân môn chính tả và tránh áp đặt không cần
lỡ làng (nhỡ nhàng"
Tuy nhiên, tất cả các mẹo luật trên chỉ ở mức độ tương đối, người giáo viên
phải biết vận dụng linh hoạt để giảng dạy cho học sinh.
11
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Qua việc tìm hiểu nguyên nhân và xác định được những trọng điểm
chính tả cho học sinh ở trường Tiểu học Gia Cẩm , tôi đã đưa ra một số
biện pháp cùng với ban giám hiệu và tập thể giáo viên nhà trường áp dụng
và thực nghiệm giảng dạy trên khối lớp 5 của trường. Qua gần một năm
học, được sự chỉ đạo sát sao của ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên
môn, cùng với sự nỗ lực của tập thể giáo viên khối 5 chúng tôi đã thu được
một kết quả cụ thể như sau:
STT Lớp
Tổng
số
Các lỗi chính tả thường mắc
l - n d/gi/r/ch;tr/s/x Cấu trúc âm tiết
1 5A 48 0 em 2 em 0em
2 5B 48 0 em 1 em 1 em
3 5C 43 1 em 2 em 0 em
4 5D 42 2 em 3 em 0 em
5 5E 48 1em 1em 1em
6 5G 45 0em 2em 1em
7 5H 43 1em 1em 0em
* Hiệu quả: Sau khi áp dụng một số biện pháp được trình bày ở phần trên
tôi thấy số lượng học sinh mắc các lỗi chính tả giảm đi rõ rệt.
12
PHẦN III .KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luân: Việc tìm ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
phân môn Chính tả cho học sinh lớp 5 là hết sức quan trọng và cần thiết. Chúng
Gia CÈm, năm 2014
Người viết SKKN
Trần Thị Thu Hường
14
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bùi Văn Huệ, Tâm lý Tiểu học, năm 1994
2. Nguyễn Minh Thuyết( chủ biên), SGK Tiếng Việt 5, NXB Giáo dục, năm
2012
3. Lê Văn Hồng, Tâm lý học Sư phạm, năm 1994
4. Lê Phương Nga, Phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học, năm 2005
15