§Ò tµi khoa häc
A – PHẦN MỞ ĐẦU
I.Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu.
1).Cơ sở lý luận
Từ khi đất nước được đổi mới, mục tiêu GD nói chung của nước ta theo
cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, được
hiến pháp năm 1992 ghi rõ ở điều 35 “ GD là quốc sách hàng đầu, nhà nước phát
triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Mục
tiêu của giáo dục là hoàn thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực
của công dân, đào tạo người lao động có tay nghề, năng động sáng tạo có niềm tin
đạo đức trong sáng, có niềm tự hào dân tộc, có ý trí vươn lên góp phần làm cho
dân giàu nước mạnh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Riêng môn giáo dục đạo đức hiện nay Đảng và nhà Nước ta đặc biệt quan
tâm: Một là do “ con người là động lực của sự nghiệp xậy dựng xã hội mới đồng
thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “ (Văn kiện hội nhị lần thứ tư BCHTW
Đảng khoá VII ). Hai là do điều “ Đặc biệt đáng lo ngại là trong một bộ phận học
sinh sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống
thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất
nước ” ( Văn kiện hội nghị lần thứ hai của BCHTW Đảng khoá VIII ). Vì vậy, hội
nghị đã ghi “ Tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, lòng yêu nước, ” đồng
thời nhấn mạnh:” đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, khắc phục lối truyền
thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học. Nâng cao năng lực tự
học và thực hành cho học sinh”.
Xuất phát từ những giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kì công
nghiệp hoá - hiện đại hoá, từ mục tiêu, đặc trưng của giáo dục đạo đức cho học
sinh tiểu học đối với sự phát triển nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
Văn Tám.
*Mục đích.
- Tìm ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng GD đạo đức cho học
sinh của nhà trường.
- Làm tài liệu tham khảo.
- Có thể áp dụng vào công tác giáo dục đạo đức của nhà trường.
*Nhiệm vụ.
Trong khuôn của đề tài này chúng tôi trình bày bốn vấn đề chính sau:
- Xây dựng cơ sở lý thuyết.
- Khảo sát, phân tích thực trạng, tìm ra những nguyên nhân chủ yếu.
- Đề ra các biện pháp nhằm cải tạo thực trạng.
- Kết luận và đề xuất kiến nghị.
III. Đối tượng và khách thể nghiên cứu.
- Đối tượng : Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức
cho học sinh.
2
§Ò tµi khoa häc
- Khách thể: Các phương pháp, hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh
của giáo viên, gia đình; việc tự học, tự rèn, và sự thể hiện các chuẩn mực, hành vi
đạo đức của học sinh.
IV. Giả thuyết khoa học.
- Nếu các biện pháp của nhóm nghiên cứu được áp dụng vào công tác giáo
dục đạo đức cho học sinh tiểu học của địa bàn nơi trường đóng thì chất lượng giáo
dục đạo đức cho học sinh sẽ đạt hiệu quả cao hơn.
- Nếu giáo viên chủ nhiệm lớp biết cách phối kết hợp với nhà trường, gia
§Ò tµi khoa häc
Những giá trị đạo đức của một thời kỳ lịch sử phải xuất phát từ những yêu
cầu khách quan của sự phát triển xã hội và phải góp phần phát triển nhân cách,
phát triển con người, góp phần vào việc thiết lập mối quan hệ giữa con người với
con người, con người với tự nhiên, với môi trường sống nhằm làm cho xã hội phát
triển. Xuất phát từ yêu cầu đó, trong những năm gần đây chúng ta đã và đang thực
hiện công cuộc đổi mới nội dung chương trình, phương pháp dạy học nói chung,
phương pháp dạy học đạo đức nói riêng. Đó cũng chính là vấn đề then chốt của
chính sách đổi mới giáo dục Việt Nam trong giai đoạn mới hiện nay. Đổi mới
phương pháp dạy học sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm của các thế hệ
học tò – chủ nhân tương lai của đất nước. Chúng ta đều biết không phải cái gì cũ
cũng tồi và cái gì mới cũng hoàn hảo. Hiệu quả hay không của phương pháp dạy
học là do người giáo viên tiến hành nó như thế nào. Xét bản thân phương pháp
dạy học thì không có phương pháp nào là phương pháp tồi, không có phương
pháp nào là phương pháp tích cực hay thụ động mà phương pháp ấy trở lên tích
cực hay tồi, thụ động khi ta không khai thác hết tiềm năng của nó hoặc sử dụng nó
không đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng. Mục đích cuối cùng của đổi mới
PPDH là làm thế nào để học sinh phải thực sự tích cực, chủ động tự giác, luôn
trăn trở tìm tòi suy nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả
cách thức để có được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của
mình.
- Giáo viên được trực tiếp tham gia các lớp bồi dưỡng, cập nhật những
thông tin mới nhất về thay đổi nội dung chương trình và phương pháp dạy học.
- Nhà nước đầu tư trang thiết bị dạy học ( SGV, vở bài tập, đồ dùng dạy và
học, ).
- Ở nhà trường, trong các buổi họp hội đồng, chuyên môn, họp khối giáo
viên đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học
3).Những giá trị cơ bản của con người Việt nam thời kỳ công nghiệp
hoá - hiện đại hoá.
Xuất phát từ vai trò vị trí của đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách ,
từ vị trí của con người trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội và tự nhiên với
tư cách là chủ thể giải quyết hàng loạt các mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội, giữa
quyền lợi và nghĩa vụ, giữa vật chất và tinh thần, giữa dân tộc và nhân loại. Vì
vậy có thể xác định hệ thống các chuẩn mực đạo đức( giá trị đạo đức) theo năm
nhóm phản ánh các mối quan hệ chính mà con người phải giải quyết.
3.1-Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện lý tưởng sống của cá nhân phù hợp với
yêu cầu đạo đức xã hội.
- Có lý tưởng XHCN, thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
- Yêu quê hương, đất nước.
- Tự cường và tự hào dân tộc chính đáng.
5
§Ò tµi khoa häc
- Tin tưởng vào Đảng và đường lối đổi mới của Đảng.
- Ý nghĩa của những chuẩn mực đạo đức thể hiện tư tưởng chính trị sẽ góp phần
định hướng cho lý tưởng sống cho mỗi cá nhân. Đạo đức của mỗi con người là
sống, làm việc, rèn luyện vì “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”. Vì lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà trước mắt là quan
tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu CNH – HĐH đất nước.
3.2-Nhóm chuẩn mực thể hiện sự hoàn thiện của bản thân:
- Biết tự trọng.
- Tự tin (Tin vào bản thân, tin vào sự hoàn thiện của đát nước).
- Tự lập
- Khiêm tốn: Là người biết tôn trọng người khác hơn chính bản thân mình đánh
giá người khác cao hơn sự tự đánh giá mình, phù hợp vợi sự thật khách quan
( cần phân biệt lòng khiêm tốn với tính tự ti và tự cao).
- Hợp tác: Đồng cảm biết chia sẻ, đoàn kết, hữu nghị.
- Bình đẳng:
+ Lễ độ lịch sự, tế nhị.
+ Tôn trọng mọi người.
- Thuỷ chung và gữ chữ tín.
3.4-Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ đối với công việc:
- Làm việc có trách nhiệm cao.
- Có lương tâm ( tâm đối với nghề: yêu nghề mến trẻ)
- Tôn trọng pháp luật.
- Tôn trọng lẽ phải( chân lý) và dám đấu tranh vì lẽ phải.
- Dũng cảm, liêm khiết.
- Năng động, sáng tạo.
- Thích ứng (thích ứng với môi trường làm việc, môi trường sống, thích ứng với
công việc).
Những giá trị trên sẽ là động lực giúp mỗi cá nhân nâng cao hiệu quả hoạt
động, hoàn thiện nhân cách, học tập, lao động và hoạt động xã hội.
Những chuẩn mực nêu trên ở góc độ nhất định thể hiện tập trung ý thức, trách
nhiệm của mỗi công dân trong xã hội.
3.5-Nhóm chuẩn mực đạo đức liên quan đến xây dựng môi trường sống ( Môi
trường tự nhiên- xã hội)
- Xây dựng gia đình hạnh phúc.
- Tự giác, quan tâm, tham gia giữ gìn bảo vệ tài nguyên, môi trường tự nhiên.
- Xây dựng xã hội công bằng, dân chủ.
- Bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh, khủng bố.
- Bảo vệ, phát huy truyền thống, di sản văn háo dân tộc, nhân loại, chống tệ nạn
xã hội và bệnh tật hiểm nghèo.
7
4.2- Các chuẩn mực hành vi đạo đức trong chương trình có tính đồng tâm:
- Do năng lực nhận thức và kinh nghiệm sống còn ở trình độ thấp học sinh
lớp 1 và ngay cả những học sinh lớp trên của tiểu học chưa thể nắm ngay được
khái niệm đạo đức một cách đầy đủ, toàn vẹn với bản chất vốn có của nó mà có
khả năng nắm dần dần những dấu hiệu của khái niệm. Những dấu hiệu đó dần dần
được khái quát ở mức độ nhất định từ lớp này sang lớp khác. Cuối cùng ở học
sinh hình thành được những khái quát sơ đẳng đầu tiên về chuẩn mực đạo đức.
8
§Ò tµi khoa häc
- Vì vậy trong quá trình dạy học đạo đức tiểu học, khi dạy một chuẩn mực
hành vi đạo đức nào đó có tình đồng tâm thì cần tận dụng những điều có liên quan
mà học sinh đã học từ lớp dưới và ngược lại khi dạy các chuẩn mực đó ở lớp dưới
thì cần chuẩn bị cho các em có khả năng tiếp thu chuẩn mực này ở lớp trên tránh
tình trạng dạy lớp nào biết lớp đó.
4.3-Những chuẩn mực hành vi đạo đức được giới thiệu bằng những mẫu hành
vi đạo đức qua các hoạt động dạy học, các dạng bài tập
4.4. Mỗi bài đạo đức được thực hiện trong hai tiết
4.5. Do đặc điểm của lứa tuổi nên việc giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học
cần tập trung vào luyện tập cho các em những chuẩn mực và quy tắc đạo đức đơn
giản , hình thành thói quen , hành vi đạo đức. Đối với học sinh tiểu học cần đặc
biệt chú ý những thói quen sau đây :
- Thói quen biết lễ độ ( chào hỏi lễ phép, cảm ơn, xin lỗi khi cần thiết), tôn
trọng mọi người ( không làm phiền, không nói to nơi công cộng hoặc người khác
đang làm việc, ).
- Thói quen cư xử ân cần, sẵn sàng giúp đỡ người khác, trước hết là người
Thực trạng của việc
giáo dục đạo đức của nhà trường hiện nay.
I.Vài nét khái quát về trường tiểu học Lê Văn Tám.
Trường TH Lê Văn Tám là một trường mới được thành lập (tháng 10 năm
2004) cơ sở vật chất hầu như không có gì. Tổng số giáo viên của nhà trường là 12
người, trình độ chuyên môn cũng như năng lực giảng dạy không đồng đều, cụ thể:
Trình độ đại học: 03 đ/c chiếm 25 %.
Trình độ THSP (12 + 2): 04 đ/c chiếm 33,3 %.
Trình độ THSP (9 + 3): 03 đ/c chiếm 25 %.
Trình độ sơ cấp: 02 đ/c chiếm 16.7 %.
Tổng số học sinh toàn trường:
Năm học: 2004 – 2005 là 340 em.
Năm học: 2005 – 2006 là 218 em.
Trường toạ lạc tại thôn Nông Kon xã Đắk Dục huyện Ngọc Hồi. Là vùng sâu
vùng xa, vùng dân tộc thiểu số ( học sinh là người dân tộc thiểu số chiếm 98 %)
có con đường Hồ Chí Minh đi qua, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn song
cũng đang trên đà phát triển, nền kinh tế thị trường đã và đang tác động không
nhỏ đến vấn đề đạo đức của học sinh – một nhân cách đang hình thành đang và
phát triển. Mặt bằng dân trí thấp, không đồng đều, công tác xã hội hoá giáo dục
chưa được đề cao.
II.Thực trạng của công tác giáo dục đạo dức hiện nay của nhà trường.
1).Kết quả đạt được( năm học 2004 – 2005).
( Theo báo cáo tổng kết năm học của Nhà trường )
10
§Ò tµi khoa häc
để tiến hành trưng cầu ý kiến của 140 phụ huynh và học sinh của trường. Kết quả
đạt được, cụ thể như sau: ( Có bảng tổng hợp kèm theo).
11
§Ò tµi khoa häc
*Đối với phụ huynh học sinh: Chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến của 140
phụ huynh. Trong đó, có 125 người có quan niệm và nhận thức đúng đằn, xác
định rõ mục tiêu về công tác giáo dục đạo đức cho con em mình, có hình thức
giáo dục phù hợp. Còn lại 15 phụ huynh học sinh chưa có quan niệm, nhận thức
và chưa xác định rõ mục đích của công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, chưa
có hình thức giáo dục phù hợp vì lý do:
- Một số gia đình mải lo làm ăn kinh tế nên không có thời gian giáo dục
con, có gia đình cha mẹ đi làm rẫy xa và ở lại đó cả tuần mới về một lần nên việc
các em ăn uống, học hành phải tự mình lo lấy, có gia đình cho rằng giáo dục đạo
đức là do nhà trường giáo dục còn họ không biết chữ, không biết cách giáo dục
(họ khoán trắng cho nhà trường).
- Một số gia đình do cha mẹ mắc vào rượu chè, cờ bạc, gia đình mâu thẫu
thường xuyên cãi nhau nên các em chán học sinh hư hỏng đua đòi, chơi bời lêu
lổng,
- Cá biệt có gia đình không bao giờ quan tâm đến việc học hành của con cái
mình. Khi chúng tôi hỏi cũng không biết con mình học lớp mấy, học cô thầy nào,
hàng ngày đi làm gì, ở đâu và bao giờ về,
*Đối với học sinh: chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến của 140 em và kết
quả đạt được cụ thể như sau:
- 128/ 140 em được hỏi xác định được đúng quan niệm, mục đích, nhận
thức và có phương pháp tự rèn luyện đạo đức thường xuyên. 127/140 em tự đánh
học sinh. Song cũng cần nhìn nhận những nguyên nhân từ phía nhà trường, các
đoàn thể trong và ngoài nhà trường, các cấp chính quyền địa phương,như:
- Một bộ phận giáo viên chưa xác định rõ mục tiêu, vị trí và vai trò của giáo
dục đạo đức trong nhà trường, chưa thực sự quan tâm giáo dục học sinh một cách
thường xuyên, thiếu nhiệt tình, chưa đi sâu đi sát tìm hiểu hoàn cảnh cũng như
những tâm tư tình cảm của các em. Còn coi môn học đạo đức là môn phụ nên
chưa đầu tư đúng mức cho bài dạy còn qua loa đại khái, chẳng hạn: Bài dạy quy
định dạy trong 2 tiết và mỗi tiết dạy trong 35 - 40 phút thế nhưng chỉ dạy khoảng
15 – 20 phút. Thậm chí tiết thứ hai của bài không dạy,
- Chưa thực sự tạo được uy tín, niền tin nơi học sinh. Chưa thường xuyên
quan tâm, thăm hỏi và giúp đỡ học sinh đúng mức.Chưa thực sự là tấm gương
sáng cho học sinh noi theo.
- Các cấp quản lý giáo dục và chính quyền địa phương có lúc có nơi chưa
quan tâm chỉ đạo sâu sát kịp thời, các đoàn thể chưa có nhiều những phong trào,
những sân chơi lành mạnh thực sự mang ý nghĩa giáo dục cao cho học sinh.
Chương 3.
Một số biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng của công tác giáo dục đạo đức ở nhà trường.
13
§Ò tµi khoa häc
I).Cơ sở để xác lập biện pháp.
Xã hội loài người được xây dựng trên bản chất nhân văn. ở một xã hội, một
cộng đồng cụ thể nếu tính nhân văn càng thể hiện rõ bao nhiêu thì xã hội đó, cộng
đồng đó càng văn minh, càng tốt đẹp bấy nhiêu.
Vào thời kì mới của nền giáo dục nước ta hiện nay, tính nhân văn được thể
§Ò tµi khoa häc
em với bản thân, gia đình, nhà trường cộng đồng, môi trường tự nhiên và ý nghĩa
của việc thực hiện các chuẩn mực đó.
- Từng bước hình thành kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi của bản thân và
những người xung quanh theo các chuẩn mực hành vi đã học; kĩ năng lựa chọn và
thực hiện các hành vi ứng xử phù hợp với chuẩn mực trong các mối quan hệ và
tình huống đơn giản của cuộc sống.
- Từng bước hình thành thái độ tự trọng, tự tin, yêu thương con người, yêu
cái thiện, cái đúng, cái tốt; không đồng tình với cái ác, cái sai, cái xấu.
- Giáo dục đạo đức là một quá trình hình thành cho học sinh ý thức đạo
đức, hành vi và thói quen đạo đức.Giúp các em chuyển hoá các chuẩn mực đó
thành niềm tin. Niềm tin đạo đức sẽ tạo cho các em có sức mạnh “chế biến”
những tri thức thành hành vi, thói quen đạo đức.
Tình cảm đạo đức được coi là “chất men” thúc đẩy các em biến ý thức hành
vi, thói quen đạo đức một cách thoải mái, dễ chịu không bị gượng ép, máy móc.
Hành vi đạo đức xét cho cùng là biểu hiện sinh động bộ mặt đạo đức của con
người, hành vi này phải được thực hiện phù hợp với các chuẩn mực đã được xã
hội quy định, phải được thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc một cách tự giác với động
cơ đúng đắn. Hành vi đạo đức được lặp đi lặp lại sẽ trở thành thói quen đạo đức,
thói quen đạo đức gắn liền với nhu cầu về đạo đức.
Trong quá trình giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng giáo viên
và những người làm công tác giáo dục cần phải nắm vững được vị trí, vai trò, mục
tiêu của giáo dục để từ đó góp phần giúp học sinh của mình phát triển một cách
toàn diện mang trong mình phẩm chất đạo đức tạo thành cốt lõi của một nhân
cách con người Việt Nam trong giai đoạn mới. Những phẩm chất đó là: Trí tuệ
phát triển, ý trí cao và tình cảm đẹp.
II.Các biện pháp cụ thể.
giáo dục khác.
- Xác định rõ vị trí vai trò và mục tiêu giáo dục đạo đức trong trường tiểu
học. Biết kế thừa và chọn lọc những truyền thống, những phẩm chất đạo đức tốt
đẹp trong giáo dục học sinh.
- Nhà trường cùng các đoàn thể thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt
ngoại khoá, sinh hoạt đội, sao nhi đồng, để học sinh vui chơi và học tập.
- Bồi dưỡng cho các em những hiểu biết ban đầu về các chuẩn mực đạo đức
sơ đẳng trong các mối quan hệ, thông qua năm nhóm chuẩn mực hành vi đạo đức
đã xác định.
- Ở tiểu học do học sinh còn nhỏ tuổi chưa tích luỹ được nhiều kinh nghiệm
đặc biệt là trình độ nhận thức còn thấp nên những chuẩn mực đạo đức cần giáo
dục cho các em phải được đưa ra dưới dạng các chuẩn mực hành vi đạo đức cụ
thể chứ không phải dưới dạng lý luận trừu tượng – nghĩa là học phải đi đôi với
hành, lý thuyết phải gắn liền với thực tiễn. Để các em có thể thực hiện được
16
§Ò tµi khoa häc
những chuẩn mực hành vi đạo đức thì trong các giờ học đạo đức hay trong các
hoạt động ngoại khoá cần đưa ra các mẫu hành vi tốt – xấu, đúng – sai, các tình
huống giả định để các em so sánh, nhận xét tự tìm ra những điều cần học.
VD. Khi dạy bài “ Lịch sự khi nhận và gọi điện thoại” - Đạo đức lớp 2.
Giáo viên cần tổ chức cho học sinh được tham gia trực tiếp gọi và nhận
điện thoại, trực tiếp trao đổi qua điện thoại ( mô hình điện thoại trò chơi, ).Từ
đó các em khác nghe và đánh giá việc giao tiếp đó đã thể hiện sự lịch sự hay
chưa. Giáo viên đưa ra một số tình huống cụ thể để học sinh nhận xét và đưa ra ý
kiến để sửa chữa những tình huống mà các em cho là chưa đúng.
nền tảng, những gì đã hình thành và định hình ở trẻ em sẽ rất khó thay đổi, khó
cải tạo lại. Với những đặc điểm như trên đòi hỏi sự chuẩn xác với tính khoa học,
tính nhân văn cao ở một nền giáo dục, ở nhà trường nhất là ở mỗi giáo viên.
II. Đề xuất, kiến nghị.
- Sự quan tâm, lãnh chỉ đạo của ngành và các cấp quản lý giáo dục cần sâu
sát và kịp thời hơn nữa.
- Thường xuyên tổ chức các hội thi, hội diễn và các hội thảo chuyên đề, các
lớp tập huấn chuyên đề về giáo dục đạo đức; cung cấp đồ dùng dạy, học và các tài
liệu tham khảo, Tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh tham gia để học tập trau
dồi kiến thức, phẩm chất đạo đức /
NỘI DUNG THĂM DÒ
Ý KIẾN VÀ CÁC CÂU HỎI TƯƠNG ỨNG
************
STT Nội dung cần nghiên cứu Số lượng câu hỏi
01 Quan niệm về giáo dục đạo đức 02
02 Mục đích của việc giáo dục đạo đức 02
03 Nhận thức về giáo dục đạo đức 02
04 Phương pháp rèn luyện đạo đức 03
05 Hình thức giáo dục đạo đức 03
06 Tự đánh giá kết quả giáo dục đạo đức 02
Tổng số 14
18
§Ò tµi khoa häc
NỘI DUNG CÂU HỎI
§Ò tµi khoa häc
Không thích Bình thường Thích học
Giải thích:
2./ Để trở thành con ngoan trò giỏi em phải làm gì ?
a. Học thật giỏi.
b. Ngoan ngoãn lễ phép vâng lời ông bà, cha mẹ và thầy cô giáo,
c. Đoàn kết, giúp đỡ mọi người.
d. Cả ba ý trên.
3./ Môn đạo đức có cần thiết với lứa tuổi các em không ?
a. Rất cần b.Có cũng được. c. Không cần
Giải thích:
4.Em tự đánh giá về bản thân mình như thế nào ?
5./ Các em có những quyền lợi gì ?
6./ Bổn phận của các em là phải làm gì ?
c.Tuân thủ theo yêu cầu, mệnh lệnh của người lớn.
d. Ý kiến khác:
5./Anh (chị) hãy nêu một vài biện pháp và hình thức giáo dục đạo đức mà anh
(chị) đã, đang áp dụng ?
21
§Ò tµi khoa häc
Trường TH Lê Văn Tám
PHIẾU TRƯNG CẦU Ý KIẾN
( V/v giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học )
1./ Em có thích học môn đạo đức không ? (Em chọn ý kiến nào dưới đây và giải
thích).
Không thích Bình thường Thích học
Giải thích:
Khoa tiểu học – Trường cao đẳng sư phạm Kon Tum.
Đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh tiểu học – Dự án phát
triển giáo viên tiểu học – Bộ giáo dục.
Giáo trình: Giáo dục tâm lý lứa tuổi – Trường Đại học sư phạm I Hà Nội -
1998.
23
§Ò tµi khoa häc
24