Download miễn phí Tình hình hoạt động của công ty cổ phần sơn Hải Phòng số 2
LỜI MỞ ĐẦU - 1 -
Phần I : Tổng quan về công ty cổ phần sơn Hải Phòng số 2 - 1 -
PHẦN I : TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SƠN HẢI PHÒNG SỐ 2
1.2 Đặc điểm nghành nghề sản xuất kinh doanh của công ty. - 2 -
1.2.1 Khái niệm về sơn - 3 -
1.2.2 Phân loại sơn - 3 -
1.2.3 Quy trình sản xuất sơn: - 3 -
1.2.3.1 Sơn nước (ướt) - 3 -
Quy trình sản xuất sơn nước - 5 -
1.2.3.2 Sơn bột - 6 -
1.3 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý. - 9 -
1.4 Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm gần - 11 -
PHẦN II : ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI ĐƠN VỊ - 13 -
2.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty - 13 -
2.2 Đặc diểm vận dụng chế độ kế toán tại Công ty. - 14 -
2.2.1 Một số chính sách kế toán chủ yếu tại Công ty. - 14 -
2.2.2 Đặc điểm vận dụng chứng từ kế toán - 14 -
2.2.3 Đặc điểm vận dụng chế độ kế toán - 14 -
2.2.4 Đặc điểm vận dụng chế độ sổ kế toán. - 15 -
2.2.5 Đặc điểm vận dụng chế độ báo cáo kế toán - 15 -
2.3 Đặc điểm một số phần hành kế toán chủ yếu tại công ty - 15 -
2.3.1 Hạch toán kế toán tài sản cố định (TSCĐ) - 15 -
2.3.2 Hạch toán kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ. 19
2.3.3 Hạch toán kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương. 22
2.3.4 Hạch toán kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. 25
2.3.5 Hạch toán kế toán vốn bằng tiền 28
PHẦN III - ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH 30
CHUNG CỦA ĐƠN VỊ 30
3.1 Đánh giá hoạt động chung của công ty 30
3.2 Những ưu nhược điểm của HĐKT 30
3.2.1 Những ưu điểm 30
3.2.2 Nhược điểm
http://s1.liketly.com/flash/edoc/web-viewer.html?file=jh2i1fkjb33wa7b577g9lou48iyvfkz6-demo-2016-02-05-tinh_hinh_hoat_dong_cua_cong_ty_co_phan_son_hai_phong_so_2_O1xRCg9r3A.png /tai-lieu/tinh-hinh-hoat-dong-cua-cong-ty-co-phan-son-hai-phong-so-2-89716/ Để tải tài liệu này, vui lòng Trả lời bài viết, Mods sẽ gửi Link download cho bạn ngay qua hòm tin nhắn. Ket-noi - Kho tài liệu miễn phí lớn nhất của bạn
Ai cần tài liệu gì mà không tìm thấy ở Ket-noi, đăng yêu cầu down tại đây nhé:
Nhận download tài liệu miễn phí
Tóm tắt nội dung tài liệu:
nên luôn phải sử dụng loại phụ gia làm khô. Các phụ gia này là các hợp chất của Co, Mn, Pb,... đóng vai trò khâu mạch alkyd giúp sơn khô nhanh hơn.
Phụ gia chống lắng đa phần là các bentonit có tác dụng tạo 1 lớp mạng lưới trong màng sơn, từ đó giúp nâng đỡ các hạt bột màu và bột phụ trợ có tỷ trọng cao.
Phụ gia chống chảy, tạo độ nhớt giả là các phụ gia mà khi thêm vào sẽ phản ứng với chất tạo màng, tạo mạng không gian chật hẹp hơn, làm tăng độ nhớt của sơn, tăng bám dính và có tác dụng chống chảy khi sơn với lớp dày.
Dung môi
Dung môi đóng vai trò pha loãng trong sơn. Các loại dung môi được sử dụng chủ yếu bao gồm: xylen, toluen, MEK, MIBK, butyl acetate,....
Quy trình sản xuất sơn nước
Như đã trình bày ở trên, không kể các công đoạn sản xuất các nguyên liệu cho sơn thì quy trình sản xuất sơn bao gồm các công đoạn sau:
- Muối, ủ
- Nghiền
- Pha
- Đóng gói
Muối, ủ
Công đoạn này yêu cầu khuấy trộn toàn bộ lượng bột cần dùng cùng các phụ gia cần thiết khuếch tán trong chất tạo màng và dung môi. Lượng chất tạo màng và dung môi sử dụng phải phù hợp để độ nhớt thuận lợi cho quá trình khuấy trộn. Giai đoạn này được gọi là giai đoạn muối.
Ủ là giai đoạn để hỗn hợp muối trong 1-2 ngày cho bột được ngấm dầu thật tốt. Tuy nhiên, ngày nay do chất lượng nguyên liệu tốt hơn nhiều và quá trình khuấy trộn được tối ưu giai đoạn này thường được bỏ qua.
Nghiền
Giai đoạn này giúp các loại bột được nghiền nhỏ, đạt đến độ mịn yêu cầu của sơn.
Các loại máy nghiền được sử dụng chủ yếu trong công nghiệp sơn là mày nghiền bi. Có nhiều loại máy nghiền bi được sử dụng như là máy nghiền ngang, máy nghiền đứng, máy nghiền rọ,...
Giai đoạn pha
Giai đoạn này là giai đoạn bổ sung dung môi, chất tạo màng, các phụ gia cần thiết còn lại để sơn đạt độ nhớt, độ chảy, tỷ trọng, và các chỉ tiêu yêu cầu khác. Giai đoạn này được thực hiện trong máy khuấy.
Đóng gói sản phẩm
Sau khi sơn đã đạt các chỉ tiêu chất lượng sẽ được đóng gói và lưu kho hay xuất xưởng.
1.2.3.2 Sơn bột
Sơn bột đã được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau: làm lớp sơn bảo vệ cho các sản phẩm có màu trắng, nhất là làm lớp sơn lót cho khung xe ôtô. Hiện nay, với sự phát triển của các khoáng chất thiên nhiên, nhất là sự phát triển của titan đioxit nanô, sơn bột càng có nhiều triển vọng ứng dụng. Sơn bột gần như 100% không bay hơi trong khi sơn dung môi có hàm lượng rắn chỉ 40%. Ở dạng bột rất mịn, sơn bột rất dễ chảy ở ngoài không khí và có thể sơn bằng phương pháp phun tĩnh điện và khá thân thiện với môi trường. Các hạt bột có khả năng tích tĩnh điện đủ để bám dính thành một lớp bột mỏng, đồng nhất trên bề mặt kim loại sơn phủ được nối đất. Hệ liên kết hữu cơ trong sơn được lựa chọn thích hợp để sơn nóng chảy thành một lớp màng mỏng đều, liên tục ở nhiệt độ 1000C, đóng rắn ở nhiệt độ 150-2000C và bám rất chắc trên bề mặt cần phủ.
Khác với khi phủ màng sơn bằng công nghệ tráng men và dùng sơn ướt, với sơn bột, người ta có thể tạo ra lớp sơn có độ dày tương tự như hai loại sơn trên chỉ sau một lần sơn. Rất nhiều các sản phẩm có lớp phủ bảo vệ-trang trí màu trắng mà trước đây người ta phải sử dụng công nghệ tráng men thì nay đã được thay thế hoàn toàn bằng sơn bột vì lớp sơn có độ bóng, độ bền cơ học cao, chống rạn nứt, trầy sước, số lần sơn giảm và dễ dàng sửa chữa các lỗi khi sơn, trong khi nhiệt độ và thời gian sấy giảm từ 10000C và vài giờ (trong trường hợp tráng men) xuống chỉ còn 2000C và 30 phút.
Nhiệt độ sấy thấp cho phép sử dụng nhiều loại chất màu hữu cơ sáng màu hơn để thay thế bột màu ôxít kim loại thường có màu tối. Bề mặt của lớp sơn bột có độ bóng, chống chịu sước, độ bền va đập và mài mòn đạt yêu cầu bảo vệ an toàn và trang trí cho hầu hết các sản phẩm có màu trắng. Tính nguyên vẹn của các lớp sơn bột cao hơn so với các lớp sơn ướt là do nó không chứa các chất dễ bay hơi. Một ưu điểm vượt trội khác của sơn bột là tỷ lệ thất thoát khi sơn rất thấp và lượng thất thoát dễ dàng thu hồi để sử dụng lại. Về mặt lý thuyết, tỉ lệ sử dụng của sơn bột là 100% nhưng trên thực tế sử dụng trong công nghiệp tỉ lệ thất thoát khi phun chỉ nhỏ hơn 2%, vì vậy thoả mãn được cả về mặt giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường.
Trước khi sơn, các bộ phận kim loại được làm sạch dầu mỡ, xử lý sơ bộ rồi được sơn trong buồng phun sấy có thiết kế đặc biệt trước khi đi qua lò gia nhiệt để kết thúc quá trình đóng rắn của màng sơn.
Quá trình sản xuất sơn bột
Bao gồm các công đoạn sau: Phối trộn, tạo hỗn hợp nóng chảy, ép đùn, nghiến mịn và đóng gói sản phẩm.
Phối trộn các thành phần: Trước tiên các thành phần của sơn phải được phối trộn thật kỹ nhằm đạt tới một độ đồng nhất theo yêu cầu. Hầu hết các loại sơn bột đều chứa bột màu (có độ mịn cao), nhựa rắn (ở dạng vảy, dạng viên hay dạng nghiền thô), các chất trợ chảy (là các polyacrylat dạng lỏng có độ nhớt cao mang trên chất mang là zeolit), các chất phụ gia rắn (có tác dụng hỗ trợ loại bỏ không khí trong quá trình tạo màng và các chất xúc tác được sử dụng để làm tăng tốc độ đóng rắn của màng sơn). Quá trình phối trộn tốc độ cao là một phương pháp rất tốt nhưng cần tiến hành rất cẩn thận để đảm bảo chất nhựa kết dính không bị nghiền nhỏ quá mức và là lý tưởng nếu nó có kích cỡ 2-4 mm khi kết thúc quá trình phối trộn.
Bột màu titan đioxit thường có cỡ hạt dưới cỡ micron và các hạt này có xu hướng kết tụ nên có thể bám dính lên thành của thùng khuấy. Việc bổ sung các chất độn như barit tự nhiên hay canxi cacbonat có cỡ hạt lớn hơn sẽ làm giảm sự kết tụ của các hạt titan điôxit và trợ giúp quá trình phân tán đồng nhất trong bước thứ hai của quá trình sản xuất-tạo hỗn hợp nóng chảy. Lượng chất độn đưa vào tốt nhất đối với các loại sơn trắng bóng là 22% tổng khối lượng với 18% là TiO2. Trong các loại sơn có màu nhạt chất màu được đưa vào tỷ lệ 10% bao gồm cả chất màu trắng và tỷ lệ chất độn chiếm tới 30% tổng khối lượng. Sơn bột màu đen bóng chứa tới 2% muội than đen và 40% chất độn.
Công đoạn tạo hỗn hợp nóng chảy và ép đùn sản phẩm là một quá trình liên tục và được tiến hành trong một máy ép đùn có thiết kế đặc biệt. Qua phễu nạp tại cửa vào, hỗn hợp thu được sau quá trình phối trộn trên được đưa vào vùng nung nóng của máy ép đùn bằng cơ cấu vít dẫn. Hỗn hợp nóng chảy được đưa tới cửa ra của máy ép đùn và được ép thành các dải băng nhỏ giữa hai trục lăn được làm lạnh. Khi dải băng này đã nguội, có thể dễ dàng đập thành các mảnh vụn bằng một máy đập cơ khí.
Nghiền mịn và đóng gói sản phẩm: Ở công đoạn nghiền mịn, các thiết bị nghiền hiện đại có thể được sử dụng để kiểm soát phân bố cỡ hạt trong sản phẩm. Sản phẩm đã nghiền sẽ được đưa qua hai xyclon để tách cát hạt thô (ở xyclon thứ 1) và các hạt quá mịn (sau xyclon thứ 2) sẽ được đưa tới thiết bị thu gom. Trên thực tế, nếu được ki