phần thứ nhất : đặt vấn đề
I/ Lý do chọn đề tài
Đã từ lâu, Rốn luyn k nng vit on vn cho hc sinh THCS là vấn đề
hết sức quan trọng và cần thiết trong việc tạo lập văn bản. Từ đó, giúp học sinh
hình thành ý thức và nhân cách cũng nh trình độ học vấn cho các em ngay khi
đang học bậc học THCS và tr ởng thành sau này. Qua việc rèn luyện kĩ năng viết
đoạn văn, ta rèn cho học sinh ý thức tự tu d ỡng, biết yêu th ơng, quí trọng gia
đình, bạn bè, có lòng yêu n ớc, yêu chủ nghĩa xã hội, biết h ớng tới những tình
cảm cao đẹp nh lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm
ghét cái xấu, cái ác và cũng từ đó rèn cho các em tính tự lập, có t duy sáng tạo,
b ớc đầu có năng lực cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật. Tr ớc
hết là trong văn học có năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt nh
một công cụ để t duy và giao tiếp.
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên phải h ớng dẫn
cho các em cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ, diễn đạt câu trong
đoạn văn, bố cục đoạn văn trong một văn bản, cách sử dụng các ph ơng tiện liên
kết trong đoạn văn. Tuỳ theo từng ph ơng thức diễn đạt khác nhau mà viết theo lối
qui nạp, diễn dịch, song hành hay móc xích.
Để viết đ ợc đoạn văn phải có nhiều câu kết hợp tạo thành, cũng nh vậy để
tạo thành văn bản yêu cầu phải có các đoạn văn liên kết với nhau mà thành (khi
đã dùng các ph ơng tiện liên kết trong văn bản).
Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều
những ph ơng tiện hiện đại, thông tin đại chúng cập
nhật liên tục khiến cho học sinh lao vào con đ ờng say
mê nghiện sách vở bị lãng quên, ham bạo lực điện
tử, sách kiếm hiệp. Vì vậy, các em không còn ham
đọc sách, ham nghiên cứu. Cho nên, việc viết một
đoạn văn lại càng là vấn đề đáng quan tâm khi chúng
ta rèn luyện cho các em.Hơn thế nữa, tập làm văn là
môn học thực hành tổng hợp ở trình độ cao của môn Văn Tiếng Việt, môn
học tốt các môn học khác. Làm văn là quá trình giúp học sinh xây dựng văn bản.
Giai đoạn hiện nay: phân môn Tập làm văn có tính độc lập nh ng có mối
quan hệ trực tiếp đến phần Văn và phần Tiếng Việt.
Lần thay sách giáo khoa này, phân môn Tập làm văn đ ợc tích hợp cùng phân
môn Văn và Tiếng Việt trong ch ơng trình Ngữ Văn mới. Các kiểu văn bản của
Tập làm văn chính là trục để xây dựng nội dung, ch ơng trình Ngữ Văn THCS từ
năm học 2002 2003.
III/ Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu
1. Mục đích .
Tập làm văn với mục đích giúp cho học sinh nắm đ ợc các thể loại trong ch -
ơng trình tập làm văn ở THCS nh Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Nghị luận, Thuyết
minh, Điều hành. Từ đó, học sinh biết vận dụng các thể loại văn bản để phục vụ
cho học tập, trong đời sống. Đặc biệt đề tài này sẽ giúp cho các em biết cách xây
dựng đoạn văn thuộc các thể loại nói trên, với bố cục đoạn văn dù ngắn hay dài
đều phải đảm bảo mặt nội dung và hoàn chỉnh về hình thức, h ớng dẫn cho các
em rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn theo bố cục ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết
luận.
Mỗi đoạn văn đều bao hàm một ý chính của nó. ý chính đó, có thể đứng ở
đầu đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc đứng cuối đoạn văn theo cách qui nạp
hoặc ý chính của các câu bình đẳng nhau, ngang hàng nhau theo cách song hành.
Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng các hình
thức nói hoặc viết, tập vận dụng một cách sáng tạo, tổng hợp những kiến thức đã
tiếp thu đ ợc qua các môn Văn Tiếng Việt và những kiến thức văn hoá xã hội
để có thể nói và viết theo yêu cầu, đề tài khác nhau, những kiểu văn bản khác
nhau mà cuộc sống đặt ra cho các em.
Viết đoạn văn (trong phân môn Tập làm văn còn trực tiếp rèn luyện cho học
sinh một số đức tính nh lòng nhân ái, tính trung thực, sự kiên trìBởi vì môn này
góp phần phát triển trí t ởng t ợng óc sáng tạo, biết phân biệt: đúng, sai, tốt, xấu,
phải, trái Từ đó, nuôi d ỡng tâm hồn học sinh h ớng tới cái chân, thiện, mĩ .
2. Nhiệm vụ
làm văn có mối quan hệ khá rõ ràng: Giữa Văn Tiếng Việt Tập làm văn.
Để trở thành thao tác tốt viết đoạn văn, giáo viên hớng dẫn học sinh nh cách
dùng từ đặt câu và cao hơn là dựng đoạn. Vì vậy, có thể nói học sinh đợc học và
thực hành 15 loại văn bản ở bậc THCS, đủ để giao tiếp bằng văn bản và tiếp tục
học lên ở những bậc trên.
1. Ph ơng pháp lí thuyết .
B ớc đầu dạy cho học sinh những khái niệm về từng thể loại văn, làm quen
với những đề văn mẫu, những bài văn mẫu và tìm hiểu cụ thể từng bài qua các
tiết học: Lí thuyết về đoạn văn. Qua đó, giúp học sinh học, tìm hiểu cách xây
dựng đoạn văn, bố cục đoạn văn, các câu chốt (câu chủ đề) trong đoạn văn, viết
theo các cách diễn dịch, qui nạp, song hành, móc xích Từ đó, cho học sinh tập
viết đoạn văn, có vận dụng lí thuyết về thể loại văn ấy. Tuy nhiên, ph ơng pháp lí
thuyết không quá nặng.
2. Ph ơng pháp nghiên cứu, tìm hiểu.
Học sinh là chủ thể trong quá trình dạy học để phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của các em trong quá trình tiếp nhận. Trong quá trình nghiên cứu,
tìm hiểu cho học sinh tự thân vận động là chính, giáo viên im lặng đến mức tối
đa để khuyến khích học sinh sáng tạo trong giờ Tập làm văn. Vậy, trong tiết học
Tập làm văn mà đặc biệt là tiết rèn luyện viết đoạn văn, h ớng dẫn các kĩ năng
nghiên cứu, tìm hiểu để vận dụng các kiến thức đã học để dựng đoạn theo đặc
điểm thể loại để tạo lập văn bản.
3. Ph ơng pháp kiểm tra, khảo sát .
Với ph ơng pháp này, đòi hỏi học sinh phải thực hành liên tục, chắc chắn các
thao tác từ lí thuyết về thể loại sau đó đến nghiên cứu, tìm hiểu. Từ đó, ta mới đi
vào kiểm tra, khảo sát để thấy đ ợc sự vận dụng tổng hợp, để sáng tạo văn bản
qua nhiều b ớc trong quá trình rèn luyện các kĩ năng. Đó là điều kiện để đánh giá
học sinh thông qua bài kiểm tra, bài viết ở lớp (hoặc ở nhà) đòi hỏi phải đánh giá
đúng năng lực của học sinh và đòi hỏi một sự nhạy cảm của thầy tr ớc yêu cầu
thực hành của học sinh.
4. Ph ơng pháp cố vấn, chuyên gia .
bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm x ống dòng và th -
ờng biểu đạt một ý t ơng đối hoàn chỉnh. Đoạn văn th ờng do nhiều câu tạo thành.
Đoạn văn th ờng có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ đ ợc
dùng làm đề mục hoặc các từ ngữ đ ợc lặp lại nhiều lần (th ờng là chỉ từ, đại từ,
các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối t ợng đ ợc biểu đạt. Câu chủ đề mang nội
dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, th ờng đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu
hoặc cuối đoạn văn (hay còn gọi là câu chốt). Các câu trong đoạn văn có nhiệm
vụ triển khai và làm rõ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, qui nạp, song
hành
Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác, cần sử dụng các ph ơng tiện liên kết
để thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng. Có nhiều ph ơng tiện liên kết trong đoạn
văn: dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, đại từ, chỉ từ, các cụm từ thể
hiện ý liệt kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát,và dùng câu nối trong đoạn
văn. Đoạn văn liên kết nhằm mục đích tạo sự liền mạch một cách hợp lí, tạo tính
chỉnh thể cho văn bản.
Nh vậy, các ph ơng tiện liên kết vốn mang ý nghĩa, nh ng đồng thời chúng
cũng là hình thức làm rõ tính liên kết của nội dung đoạn văn. Mặt khác, lại có
những ph ơng tiện liên kết đồng nghĩa, gần nghĩa với nhau, nên cần lựa chọn các
ph ơng tiện liên kết cho phù hợp với ý đồ chủ quan của ng ời viết, với sự việc đ ợc
phản ánh và tình huống giao tiếp cụ thể.
Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên của học sinh
để phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong việc rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn đợc tốt và làm nền tảng cho chơng trình THPT. Mặc
dù vậy, học sinh ở các trờng THCS, phần lớn có khuynh hớng không thích học
văn mà đặc biệt là phân môn tập làm văn. Và vì thế nó đã ảnh hởng rất nhiều đến
việc tiếp thu, vận dụng sáng tạo các kĩ năng viết đoạn văn của các em.
II/ Thực trạng viết đoạn văn Tự sự của học sinh THCS
Cũng bộ môn Ngữ văn, nh ng theo khảo sát, phần lớn các em học phân môn
Tập làm văn còn yếu mà đặc biệt là cách dựng đoạn văn khiến cho giáo viên và
học sinh còn rất lúng túng. Th ờng thì thời l ợng quá ngắn mà kiến thức nhiều, nên
xác định đang tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ thuộc vào tình
cảm ý muốn của nhà văn.
2.Theo quan niệm trong Tập làm văn.
Trong Tập làm văn, khái niệm Tự sự đ ợc hiểu theo nghĩa rộng. Đó là ph -
ơng thức biểu đạt bằng cách kể ra các sự kiện theo mối quan hệ nào đó nh quan
hệ nhân quả, quan hệ liên t ởng.
Sách giáo khoa Tập làm văn tr ớc đây (1986 1995) không dùng khái
niệm tự sự mà dùng các khái niệm kể chuyện, trần thuật, t ờng thuật. Trong sách
giáo khoa Ngữ văn-6 Tập I- trang 28 nhà xuất bản giáo dục 2002, nêu định
nghĩa về văn tự sự nh sau:
Tự sự (kể chuyện) là ph ơng thức trình bày một chuỗi sự việc, sự việc này
dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa. Tự sự
giúp ng ơi kể giải thích sự việc, tìm hiểu con ng ơi, nêu vấn đề và bày tỏ thái độ
khen, chê.
Theo quan niệm này thì kể chuyện về sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử, t ờng
thuật một hội nghị, một vụ hoả hoạn đều thuộc ph ơng thức tự sự. Nói cách
khác khái niệm tự sự bao gồm cả nội dung trần thuật, kể chuyện đã học trong ch -
ơng trình Tập làm văn tr ớc đây.
Văn tự sự chia làm hai dạng: kể chuyện đời th ờng và kể chuyện t ởng t ợng.
+ Kể chuyện đời th ờng (kể chuyện đời sống) là kể ng ời thực, việc thực ta th -
ờng găp trong cuộc sống hàng ngày. Yêu cầu của dạng văn này phải tôn trọng sự
thật.
Có thể phân thành hai loại: kể chuyện danh nhân và kể chuyện đời th ờng.
+ Kể chuyện t ởng t ợng: khái niệm kể chuyện t ởng t ợng chỉ mang tính ớc
lệ Vì kể chuyện bao giờ cũng phải t ởng t ợng để hình dung sự việc và kể cho
ng ời khác nghe. Kể chuyện t ởng t ợng là t ởng t ợng cụ thể về số phận và cuộc
sống của một sự việc về môt kết thúc khác của một câu chuyện dẫ viết. Kể lại
chuyện cổ tích theo cách nhìn mới, cách hiểu mới, ng ời kể phải hoá thành nhân
vật. Thậm chí phải thay đổi ngôi kể để kể chuyện hấp dẫn hợp lí.
3. Mối quan hệ giữa tự sự với các ph ơng thức khác.
ở ch ơng trình Ngữ văn THCS đã cung cấp 6 kiểu văn bản dựa trên 6 ph ơng
thức biểu đạt chính. Nếu nh các ph ơng thức miêu tả, biểu cảm, tự sự chủ yếu
dùng hình t ợng, hình ảnh, cảm xúc để tái hiện hiện thực thì nghị luận dùng lí lẽ
lô gíc phán đoán nhằm làm sáng toả một ý kiến một quan điểm, t t ởng nào đó.
Các ph ơng thức trên là cơ sở của t duy hình t ợng, còn nghị luận là cơ sở của t
duy lô gíc. Chính vì thế mà trong văn bản tự sự, để ng ời đọc, ng ời nghe phải suy
nghĩ về một vấn đề nào đó, ng ời viết, ng ời kể có khi nghị luận bằng cách nêu lên
các ý kiến nhận xét cùng những lí lẽ và dẫn chứng. Nội dung đó th ờng đ ợc diễn
đạt bằng hình thức lập luận làm cho câu chuyện thêm phần triết lí.
Ví dụ 3: Chao ôi ! đối với những ng ời ở xung quanh ta, nếu ta không cố
tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc bần tiện, xấu xa bỉ ổitoàn là
những thứ để ta tàn nhẫn không bao giờ ta th ơng Vợ tôi không ác nh ng thị khổ
quá rồi. một ng ời đau chân có lúc nào quen đ ợc cái chân đau của mình để nghĩ
đến một gì khác đâu? Khi ng ời ta khổ quá thì ng ời ta chẳng nghĩ gì đến ai đ ợc
nữa. Cái bản tính tôt của ng ời ta bị những nỗi lo lắng buồn đau, ích kỉ che lấp
mất. Tôi biết vậy nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận.
Nh vậy, có thể nói rằng trong tự sự gần nh có tất cả các ph ơng thức biểu đạt
vì tự sự chính là bức tranh gần gũi nhất với cuộc sống mà cuộc sống thì hết sức
đa dạng, phong với đầy đủ tất cả các tình huống, cảnh ngộ, tất cả các kiểu nhân
vật, các mẫu ng ời mà ta gặp th ờng ngày. Vì thế mà trong văn bản tự sự có các
yếu tố khác kết hợp. Song tiêu biểu là các yếu tố miêu tả, biểu cảm và nghị luận
nh đã trình bày ở trên.
II/ Đặc điểm của đoạn văn tự sự
1.Quan niệm về đoạn văn.
2.Trong các tài liệu về ngữ pháp văn bản đã thừa nhận : Giữa câu
và văn bản có một đơn vị ngữ pháp, đơn vị này đ ợc gọi bằng những tên gọi khác
nhau: chỉnh thể cú pháp phù hợp, chỉnh thể trên câu, thành tố của văn bản, khổ
văn xuôi, đoạn vănĐó là đơn vị trung gian giữa các câu văn, văn bản. Ngoại trừ
văn bản chỉ có một câu, thông th ờng văn bản có nhiều câu. Nh ng câu không phải
là đơn vị cấu tạo nên văn bản mà chỉ là đơn vị trực tiếp cấu tạo nên đơn vị trung
của tác phẩm tự sự đ ợc thể hiện qua môt chuỗi tình tiết, thông th ờng mỗi tình tiết
đ ợc kể bằng một đoạn văn. Bởi vậy, đoạn văn tự sự có thể giới thiệu nhân vật (lai
lịch, tên họ, quan hệ, tính tình, tài năng) hoặc kể về các việc làm, hành đọng,
lời nói, kết quả và sự đổi thay do các hành động ấy đem lại. ở đoạn có lời đối
đáp giữa các nhân vật th ờng t ơng ứng với một đoạn thoại, tức là đoạn đối thoại
ấy nhằm h ớng đến một nội dung nào đó trong toàn bộ nội dung của văn bản.
đoạn thoại có thể gồm nhiều cặp thoạ cùng h ớng đến một nội dung nào đó trong
toàn bộ cuộc thoại.
Vậy, thế nào là đoạn văn tự sự ? Đoạn văn tự sự có đặc điểm gì ? Để
hiểu đ ợc vấn đề này ta xết các ví dụ sau:
Ví dụ 1 : Chẳng bao lâu, ng ời chồng mất. Bà sinh ra một đứa bé không
chân, không tay, tròn nh một quả dừa. Bà buồn lắm toan vứt đi thì đứa con bảo:
-Mẹ ơi, con là ng ời đấy. Mẹ đừng vứt con đi mà tội nghiệp. Nghĩ lại
thấy th ơng con, bà đành để con lại nuôi và đặt tên cho nó là Sọ Dừa .
Ví dụ 2 : Vị quan nọ bảo:
-Đ ợc, tôi sẽ đ a anh vào gặp vua với điều kiện anh phải chia đôi nửa
phần th ởng của nhà vua. Nếu không thì thôi.
Ng ời nông dân đồng ý. Viên quan nọ liền dẫn ông ta vào cung vua. Vua
cầm lấy viên ngọc và bảo:
-Thế anh muốn ta th ởng cho anh cái gì bây giờ ?
Ng ời nông dân bèn th a:
-Xin bệ hạ hãy th ởng cho thần 50 roi Chỉ có điều là hạ thần đã đồng
ý chia cho viên quan đã đ a thần vào đây một nửa số phần th ởng của bệ hạ. Vậy,
xin bệ hạ hãy th ởng cho mỗi ng ời 25 roi .
Xét hai phần văn bản trên, chúng ta nhận thấy t ơng ứng các nội dung
sau:
+ ở ví dụ 1 : tâm trạng của bà mẹ và thái độ của Sọ Dừa.
+ ở ví dụ 2 : sự tham lam của viên quanvà thái độ thông minh của ng ời nông
dân.
Đây là những đoạn văn tự sự trình bày những sự việc, những hành động
Phần văn bản ở ví dụ 2 gồm 2 đoạn văn tự sự t ơng ứng với hai nội dung sau:
mong muốn đ ợc dâng ngọc quí cho vua của ng ời nông dân và điều kiện của viên
quan ; thái độ của vua và câu trả lời thông minh của ng ời nông dân.
III/ yêu cầu của đoạn văn tự sự
Khái niệm đoạn văn và những vấn đề liên quan đến đoạn văn, các lớp trên
học sinh mới tiếp thu một cách hoàn chỉnh và có hệ thống. Nh ng từ lớp 6, học
sinh đã phải viết các đoạn văn tự sự, miêu tả. Vì vây, tr ớc khi h ớng dẫn học sinh
viết đoạn văn tự sự, giáo viên cần cung cấp một số vấn đề liên quan đến khái
niệm đoạn văn và những yêu cầu cụ thể khi viết đoạn văn, đặc biệt tạo cho học
sinh kĩ năng xác định câu chủ đề trong đoạn văn và viết những đoạn văn có câu
chủ đề.
Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa, lùi đầu
dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và th ờng biểu đạt một ý t ơng đối
hoàn chỉnh.
Một đoạn văn bao giờ cũng phải liên quan chặt chẽ với các đoạn văn khác
trong bài văn, nghĩa là đoạn văn ấy phải chịu sự chi phối của phong cách văn
bản. Đoạn văn tự sự phải mang màu sắc của văn bản tự sự, tức là phải kể về ng ời,
về việc, về hành động của các nhânvậth. Mỗi đoạn văn tự sự th ờng có một ý
chính diễn đạt thành một câu gọi là câu chủ đề. Các câu khác diễn đạt những ý
phụ dẫn đén ý chính đó, hoặc giải thích cho ý chính, làm cho ý chính nổi lên.
Các câu trong đoạn văn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau về nội dung (cùng h -
ớng về một vấn đề) và hình thức (các câu liên kết với nhau thông qua các ph ơng
tiện liên kết).
IV/ rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn tự sự
1 .Xác định ý của đề .
Để làm tốt bài văn tự sự, tr ớc khi làm phải đọc kĩ đề bài và nắm vững yêu
cầu của đề bài, từ đó sẽ xá định nội dung theo yêu cầu của đề. Nh vậy, xác định
của đề là suy nghĩ, định h ớng, xác định nội dung sẽ viết theo yêu cầu của đề. Cụ
thể là xác định nhân vật, sự việc, tình tiết, diễn biến, kết qua và ý nghĩa của
truyện. Nếu là truyện sáng tạo thì cần phải nghĩ về việc đặt tên truyện.
ở có bao nhiêu là nhà, làm sao tớ tìm đ ợc khỉ hào hứng
ồ
thế này nhé, tớ sẽ
vẽ lên trên cánh cổng nhà tớ. Bạn sẽ tìm thấy ngay thôi mà .
- Đoạn sử dụng phép thế .
Hùng V ơng thứ m ời tám có một ng ời con gái tên là Mị N ơng. Ng ời đẹp nh
hoa, tính nết hiền dịu. Vua cha yêu th ơng nàng hết mực, Muốn kén cho con một
ng ời chồng thật xứng đáng .
4. Cách viết đoạn văn tự sự .
Một đoạn văn tự sự thông th ờng gồm có cấu tạo ba phần: Mở bài, Thân bài,
Kết bài.
Mở bài và Kết bài th ờng đ ợc viết thành một đoạn văn, còn phần thân bài
gồm nhiều đoạn văn.
4.1 . Cách viết đoạn Mở bài :
Phần mở bài có nhiệm vụ giới thiệu nhân vật, tình huống phát sinh câu
chuyện, không gian, thời gian của câu chuyện. Nh vậy, phần này phải trả lời các
câu hỏi: câu chuyên xảy ra ở đâu ? Vào không gian nào ? Câu chuyện có mấy
nhân vật ? Nhân vật chính là ai ? Cũng có lúc ng ời ta bắt đầu từ một sự cố nào
đó, hoặc kết cục câu chuyện, số phận nhân vật, rồi ng ợc lên kể lại từ đầu.
Nhìn chung cách mở bài của bài văn tự sự rất phong phú đa dạng, bao gồm:
*Giới thiệu nhân vật và tình huống phát sinh câu chuyện. Cách mở bài này
nhằm thu hút ng ời đọc, tạo sự tò mò đối với ng ời đọc. Cách này ta th ờng thấy
trong những câu chuyện cổ tích, chuyện ngụ ngôn.
Ví dụ: Hùng V ơng thứ m ời tám có một ng ời con gái tên là Mị N ơng, ng ời
đẹp nh hoa, tính nết hiên dịu, vua cha yêu th ơng hết mực, muốn kến cho con một
ng ời chồng thật xứng đáng .
* Cách mở bài giới thiệu trực tiếp nhân vật.
Ví dụ: Cô Mắt, cậu chân, cậu Tay, bác Tai, lão Miệng từ x a vẫn sông với
nhau khá thân thiết.
* Cũng t ơng tự nh cách mở bài giới thiệu trực tiếp nhân vật nh ng có khi kể
trung tâm của tác phẩm. Không có nhân vật thì không có cốt truyện. Mọi diễn
biến mâu thuẫn và những vấn đề nảy sinh cần giải quyết đều phải biểu hiện qua
nhân vật và hành động của nhân vật. Mọi sự việc trong văn tự sự điều xoay
quanh nhân vật, do nhân vật làm và thể hiện tính cách nhân vật.
Ví dụ: Sơn Tinh, Thuỷ Tinh hai nhân vật này đ ợc khắc hoạ nh sau: Sơn
Tinh ở vùng núi Tản Viên, có tài lạ. Vẫy tay về phía Đông, phía Đông nổi cồn
bãi, vẫy tay về phía Tây, phía Tây mọc lên dãy núi đồi. Còn nhân vật Thuỷ Tinh
thì: gọi gió, gió đến, hô m a, m a về, là chúa của vùng n ớc thẳm.
Các nhân vật trong tác phẩm tự sự có quan hệ thân thiết với nhau và đều có
mối quan hệ với cốt truyện. Chính nhân vật sẽ quyết định việc lựa chọn cốt
truyện, bởi vì cốt truyện chính là hệ thống các biến cố tạo thành hệ thống quan
trọng duy nhất của tác phẩm. Xây dựng nhân vào trong quan hệ với các nhân vật
khác trong hệ thống các biến cố, sự kiện để từ đó tính cách nhân vật đ ợc bọc lộ.
Nhân vật là một đặc tr ng cơ bản của tác phẩm tự sự, vì thế việc xây dựng
đoạn văn về nhân vật giữ một vai trò quan trọng trong tác phẩm văn học.
+ Đoạn văn xây dựng sự việc:
Tự sự là trình bày một chuỗi sự việc để thông báo , giải thích, tìm hiểu, thể
hiện một điều gì (chủ đề). Do đó, muốn tự sự, ng ời ta phải chọn sự việc, liên kết
sự việc sao cho thể hiện đ ợc điều muốn nói (tức là chủ đề của truyện) làm cho
câu chuyện có ý nghĩa. Vì vậy, tự sự không đơn giản là kể việc mà kể việc sao
cho có ý nghĩa, sắp xếp theo một hệ thống đảm bảo tính liên kết giữa các sự việc,
làm cho câu chuyện phát triển một cách tự nhiên. Nếu trong một đoạn văn xây
dựng sự việc theo kiểu sáng tr a chiều tối thì không tạo câu chuyện,
hoặc chuỗi các sự vật liên tiếp không có sự kiện biến cố cũng không tạo thành
truyện bởi vì nó vô nghia. Sự việc tạo thành câu chuyện phải khác th ờng, tác
đông của sự việc phải gây biến đổi, nhằm bọc lộ ban tính, nguyên nhân bên
trong của con ng ời hay sự vật mới tạo thành truyện.
Sự việc trong văn tự sự th ờng đ ợc kể một cách cụ thể: sự việc xảy ra trong
khoảng không gian, thời gian nh thế nào (sáng, tr a, chiều, tối, thời kì nào, ở đâu)
Ví dụ: Bấy giờ ở Trung Quốc, nhà Tần vừa thành lập( năm 221-tr ớc
truyền thuyết, cổ tích. ở đó, ng ời kể bằng cách gọi tên sự vật, nhân vật. Nh ng
cũng có lúc ng ời kể có nhu cầu bọc lộ thái độ chủ quan của mình bằng cách bình
luận về một điều gì đó.
Sự thay đổi ngôi kể trong đoạn văn tự sự.
Trong tác phẩm tự sự không phải lúc nào nhà văn cũng chỉ sử dụng một
ngôi kể, để tạo nên sự hấp dẫn cho câu chuyên cần phải phối hợp các ngôi kể với
nhau. Một câu chuyện có thể kể theo ngôi thứ ba, nh ng khi tả ng ời, tả cảnh lại
nhìn nhận theo cách nhìn một nhân vật trong truyện.
Ví dụ: trong truyện Lão Hạc (Nam Cao) toàn bộ câu chuyện đ ợc kể bằng
lời của ông giáo, nh ng khi tả cảnh bắt chó, Lão Hạc than thở lại đ ợc kể bằng lời
của Lão Hạc. Đó là sự chuyển đổi ngôi kể.
* Đoạn văn tự sự kết hợp với yếu tố miêu tả và biểu cảm.
Ví dụ: Dân phu kể hàng trăm ngàn con ng ời, từ chiều đến giờ hết sức giữ gìn,
kẻ thì thuổng, ng ời thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm d ới
bùn lầy ngập quá khửu chân, ng ời nào, ng ời nấy l ớt th ớt nh chuột lột. Tình cảnh
trông thật là thảm (Phạm Duy Tốn Sống chết mặc bay).
* Đoạn văn tự sự kết hợp với yếu tố nghị luận.
Ví dụ: Nhĩ nghĩ một cách buồn bả con ng ời ta trên đ ờng đời thật khó
tránh đ ợc những điều vòng vèo hoặc chùng trình, vả lại nó đã thấy có cái gì hấp
dẫn ở bên sông đâu ? Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải, từng in gót chân khắp
mọi chân trời xa lạ mới thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi
sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh
khám phá thấy giống nh một niềm say mê ph lẫn với một nỗi ân hận, đau đớn,
lời lẽ không bao giờ giải thích khác .
4.3 . Cách viết đoạn kết bài.
Cũng nh phần mở bài, phần kết bài cũng có nhiêu cách kết thúc: thông th -
ờng kết thúc hay gắn với chủ đề câu chuyện. Hay cụ thể hơn là truyện cổ tích th -
ờng hay khép lại bằng hai chữ: từ đây, từ đó .
Ví dụ: Từ đó, oán nặng thù sâu, hàng năm Thuỷ Tinh làm m a gió, bão lụt
dâng n ớc đánh Sơn Tinh
- Thằng ranh kia ! Cứ đứng ám mãi tr ớc hàng ng ời ta thế hả ? Có xéo ngay
đi không thì bảo !
Thì ra bà chủ hiệu kem đang quát một đứa ăn xin gầy gò rách r ới.
4 . Hàng năm đã trôi qua, Thuỷ Tinh lặng lẽ ôm nỗi buôn d ới Thuỷ Cung.
Chàng nghĩ tới Mị N ơng và vẫn không thôi khao khát đ ợc cùng nàng nên vợ nên
chồng. Và có lẽ buồn hơn cả là cái tiếng xấu mà thiên hạ đã gán cho chàng kể từ
ngày giữa chàng và Sơn Tinh giao chiến để giành Mị N ơng. Thế rồi một hôm,
Thuỷ tinh quyết đi tìm Mị N ơng. Chàng từ ơbiển Đông ng ợc dòng sông Hồng
men theo con suối nhỏ để đi lên nui Tản. Một ngày. Hai ngay. Một tháng.
Hâithngs. Núi Tản kia rồi, Thuỷ Tinh nép mình sau tảng đá lớn. Chàng hy vọng
Mị N ơng sẽ ra suối
5 . Một buổi sáng, tôi đến tr ờng sớm hơn mọi ngày để làm trực nhật. Đang từ
từ đ a những lát chổi nơi hành lang, tôi chợt nghe thấy tiếng rền rĩ : Ai ! Đau
quá ! Sao tôi lại khổ thế này ! Tôi b ớc về phía có tiếng rên ấy và sững ng ời lại:
Tr ớc mắt tôi, bức t ờng hành lang loang lổ những vết x ớc và những hình vẽ. Chắc
đây là trò đùa của mấy cậu học sinh lớp 6 E đây mà.Lớp này luôn đứng bét tr -
ờng vì mấy vị tr ờng này.
Đoạn thân bài :
1. Chiều hôm qua, khi trống tr ờng đã tan, một nhóm học trò vẫn còn nán
lại. Họ thì thầm với nhau một điều gì đó rồi cả lũ kéo đi. Một lúc sau họ quay
lại, mặt cậu nào, cậu nấy đỏ phừng phừng; Quần áo thì lấm lem bụi đất. Hình
nh họ vừa đá bóng thua thì phải. Tiếng cải nhau ỏm tỏi. Tiếng gắt gỏng om sòm.
Bỗng huỵch cậu Dũng béo th ợng cả đôi giày bẩn thiểu dính đkầy bùn đất, đá
phốc vào ng ời tôi khiến tôi choáng cả ng ời. Ch a kịp định thần lại thì thêm một
cú trời giáng nữa. Tôi tối tăm cả mặt mũi. Ôi ! Cái áo trắng tinh của tôi ! Một
vài vết x ớc đã hằn lên thân thể tôi.
2. Mị N ơng thoáng đỏ mặt. Nàng không thể không chạnh lòng tr ớc lời tâm
sự chân thành của Thuỷ Tinh. Tự nàng cũng rõ rằng ngày ấy, khi cùng các lạc
Hầu bàn bạc để tìm cách chọn rể hiền. Vua cha cùng với quần thần trong triều
đã ngầm thiên vị cho Sơn Tinh. Ngay cả lúc ấy, dù thầm thán phục cả hai chàng
tất cả các cây ở khu v ờn này, hình nh ông thích nhất cây mai tử quí. Ông hay
dừng lại, chăm chút cho nó thật lâu. Có hôm, ông còn thì thầm trò chuyện với nó
nữa. Thấy lạ, tôi hỏi thì ông trả lời rằng đây là cây mai mà một ng ời đồng đội cũ
vủa ông đã đem từ miền Nam ra tặng. Nhìn mắt ông hơi chớp chớp, giọng lạc
hẳn đi, tôi có vẻ thắc mắc. Mãi ông mới nói thêm rằng ng ời đồng đội của ông đã
mất vì vết th ơng cũ tái phát. Tôi hiểu và th ơng ông tôi nhiều hơn. Từ đó, tôi càng
chăm t ới n ớc và bắt sâu cho cây mai.
7. Từ buổi ấy, tôi và Hà trở thành đôi bạn thân. Hà sống ở đây đã lâu nên
ngõ ngách nào cũng thân thuộc. Chiều chiều, chúng tôi cùng bọn trẻ trong xóm
lùa trâu ra bãi cỏ sông sau làng. Đây là v ơng quốc riêng của bọn trẻ. Thôi thì
đủ các tro: nào thả diều, nào đánh trận giả, nào nhảy dây, kéo coĐứa nào
cũng thủ sẵn một thứ quà vặt trong túi. Mấy quả ổi xanh, một nắm lạc luộc,
chùm dâu gia chín Ban đầu, thấy tôi còn ngại ngùng rụt rè, Hà kéo tay tôi ào
vào nhập cuộc. Lâu quen dần, tôi trở nên bạo dạn. Cũng chạy nhảy. Cũng hò
hét; N ớc da trắng hồng của tôi đã đ ợc nhuộm màu nh ng điều đó không làm tôi
bận tâm. Bởi vì tôi đlã có đ ợc một quãng tuổi thơ đầy ý nghĩa.
Đoạn kết bài .
1. Mị N ơng đứng lặng hồi lâu. Lời Thuỷ Tinh vẫn còn văng vẳng bên tai
nàng. Sự oán trách Thuỷ Tinh d ờng nh đã tiêu tan đâu cả. Nàng nghĩ tới những
câu nói cuối cùng của thần N ớc. Những cánh rừng đầu nguồn bị phá Môi tr -
ờng bị ô nhiễm Con ng ời cũng chịu một phần trách nhiệm tr ớc những thiên tai.
Nàng hiểu ý Thuỷ Tinh muốn nói gì. Diều nàng có thể làm đ ợc lúc này để minh
oan phần nào cho Thuỷ Tinh chính là cùng với Sơn Tinh ngăn chặn những sai
lầm của con ng ời. Phải giữ lấy những cánh rừng. Thuỷ Tinh ! Chàng hãy yên
tâm. Thiếp sẽ không phụ lòng chàng đâu ! Mị N ơng thầm nhủ trong lòng. Nàng
rời bờ suối, rảo gót quay về. Sơn Tinh con đợi nàng trên đỉnh núi kia.
2. Thế đấy các bạn ạ. Đó là một kỉ niệm sâu sắc mà bây giờ hay cho mãi về
sau này tôi không thể nào quên đ ợc. Nó trở thành một sợi dây vô hình nêu giữ
những kí ức tuổi thơ, nêu giữ những tình cảm thiêng liêng để tôi luôn tự nhắc với
lòng mình rằng: phải sống tốt hơn ! Sống tốt hơn nữa.
ra những vấn đề cần trao đổi, bàn bạc thống nhất, đồng thuận, phản bác. và
nghị luận cũng bắt đầu từ đó. Xã hội càng phát triển, nghị luận trong giao tiếp
càng phong phú, sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sông: thiên nhiên, lao động
sáng tạo, ứng xử, sinh hoạt cộng đồng ở đâu cũng cần nghị luận.
Nghị luận là loại văn trong đó ng ời viết (ng ời nói) trình bày những ý kién
của mình bằng càch dùng lí luận bao gồm cả lí lẽ và dẫn chứng để làm rõ một
vấn đề về chân lí nhằm làm cho ng ời đọc (ng ời nghe) hiểu tin, đồng tình với
những ý kiên của mình và hành động theo những diều mình đề xuất.
Văn nghị luận đ ợc viết ra nhằm xác lập cho ng ời đọc, ng ời nghe một t t ởng,
một quan điẻm nào đó. Vì thế nó th ờng có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dãn chứng
thuyết phục. Và trong bài văn, đoạn văn nghị luận th ờng có bốn đặc điểm cớ bản
sau:
1. Vấn đề có ý nghĩa xã hội là nội dung nghị luận.
Giáo s tiên sĩ Nguyễn Thanh Hùng: Thành phần nội dung quan trọng để xây
dựng nên bài văn nghị luận là vấn đề có ý nghĩa xã hội. Từ đây tác giả giải
thích thuật ngữ vấn đề, ý nghĩa xã hội của vấn đề là nhân tố nội dung quan
trọng của văn bản nghị luận.
Thuật ngữ vấn đề đ ợc nảy sinh trong quan hệ giữa cái quen thuộc, đã biết
và cái xa lạ, ch a biết vấn đề xuất hiện do nhu cầu thực tiễn và lí luận. Tìm hiểu
vấn đề, xác định rõ vấn đề. Phân tích, lí giải vấn đề và giải quyết vấn đề một
cách khách quan khoa học là tính chất nghiên cứu của quá trình nghị luận.
Ta lại biết vấn đề chỉ có thể trở thành trọng tâm bàn bạc thảo luận khi nào
vấn đề ấy chứa đựng ý nghĩa xã hội. Nó phải là vấn đề đ ợc nhiều ng ời quan tâm,
giải quyết xong vấn đề ấy sẽ có tác dụng sâu rộng tới sự phát triển của con ng ời
và xã hội vì vấn đề ấy đang đặt ra ý nghĩ lí luận vàm thực tiễn to lớn mà ch a đ ợc
giải quyết trọn ven. Với cách hiểu vấn đề nh thế sẽ thấy rõ tính chất phong phú
của ý kiến, thấy rõ sự khác nhau của các chiều h ớng bàn luận.
Biết đặt vấn đề cũng có nghĩa là lúc mở ra con đ ờng giải quyết nó.
Giải quyết vân đề là khám phá những tri thức bên ngoài hệ thống kiến thức
đã đ ợc phát hiện. Con trả lời những câu hỏi đkặt ra chỉ là việc tìm kiếm thông tin
dụng phép tu từ chuyển nghĩa để diễn đạt đầy đủ ý tứ tạo nên phong cáh tinh tế,
uyên chuyển và lí thú.
Việc vận dụng cú pháp và tu từ trong văn nghị luận không đ ợc phép xa rời
tính chất chất lo gic để việc trình bày t t ởng suy nghỉ dễ hiểu, trong sáng, hợp lí
hơn.
Văn nghị luận không chỉ nhằm thuyết phục ng ời đọc bằng ph ơng pháp t duy
lôgic thuần khiết mà còn phát hiện ra sự thật đời sống, giá trị và ý ngiã của nó.
Vì vậy, nghị luận còn chú ý giải thích vấn đề trong tiến trình lịch sử và phat triển
và phân tích mối liên hệ nội tại của vấn đề một cách cụ thể kèm dẫn chứng, chi
tiết, minh hoạ. Lập luận trong văn nghị luận chỉ thực sự có ý nghĩa thuyết phục
nếu ng ời đọc tiếp thu thông tin, hiểu thấu đáo nội dung ý ngghĩa của thông báo.
Trong văn nghị luận, t duy ngôn ngữ và lô gic có quan hệ mật thiết chặt chẽ
và gắn bó mật thiết với nhau trong quá trình hình thành văn bản.
3. Tính chỉnh thể trong cấu trúc nghị luận .
D ới ánh sáng của phong cách học văn bản, tính chỉnh thể là đặc tr ng cơ bản
của bất kì một kiểu loại văn bản nào, nó thể hiện trọn vẹn nội dung và hoàn
chỉnh về hình thức. Tính chỉnh thể của văn bản nghị luận thể hiện ở mối quan hệ
giữa các vấn đề đặt ra và cách giải quyết vấn đề giữa nội dung và hình thức, giữa
t duy và ngôn ngữ, giữa mục đích nghị luận và phong cách nghị luận.
Nói đến cùng tỉnh thể của văn nghị luận thể hiện rõ nhất ở cấu trúc nội dung
vấn đề và hệ thống trình bày, cách thức lập luận cũng nh văn phong phù hợp để
làm cho ng ời đọc hiểu rõ, nắm chắc vấn đề và con giải quyết vấn đề để thuyết
phục và hấp dẫn ng ời đọc, ng ời nghe.
Nói khác đi, bài văn nghị luận đạt tới chỉnh thể cao nếu ng ời nếu ng ời viết
hiểu một cách t ờng tận vấn đề, nắm vững mục đích nghị luận và có ph ơng tiện
ngôn ngữ, thao tác phù hợp, thấu tình đạt lí, tác động mạnh mẽ vào trí tuệ và tình
cảm, trái tim ng ời đọc, ng ời nghe.
4. Tính chất đối thoại trong văn nghị luận .
Văn nghị luận lấy việc đề xuất, bàn bạc, thảo luận, phê bình vấn đề có ý
nghĩa xã hội làm nội dung nên bao giờ nó cũng có một ai đó để giao tiếp và
ớng đó trong suốt quá trình hình thành văn bản.
Hình thức văn bản cũng có vảitò quan trọng tạo nên sự nhất quán. Sự nhất
quán đó sinh ra bởi giọng điệu, phong cách của toàn bài.
Qua hình thức nghị luận ng ời ta cần nhận đ ợc thái độ tin t ởng hay hoài nghi,
khẳng định hay phủ định, đồng tình hay phản bác. Ngoài thái độ trên, màu sắc
cảm xúc hiện qua âm h ởng hoặc cảm hứng chủ đạo của bài văn nh hùng hồn, bi
tráng, ca ngợi hay mỉa mai, thân tình hay thù địch cũng góp phần tạo nên sực
nặng thuyết phục của bài văn nghị luận.
2. Yêu cầu trong sáng.
Trong sáng ở bài văn nghị luận thể hiện bởi năng lực t duy, khả năng lập luận
và hành văn dung dị dứt khoát để ng ời đọc hiểu rõ phạm vi sâu rộng, ý nghĩa lí
thuyết và thực tiễn của vấn đề nghị luận để thoả mãn yêu cầu này, văn nghị luận em
trọng tính trọn vẹn, hoàn chỉnh t ơng đối của nội dung ý tứ và sự đầy đủ rõ ràng của
chứng cứ ninh bạch. Phải phấn đấu đẻ triển khai nội dung và hình thức của bài văn
nghị luận đày đủ, đúng dắn và đến đáy của ván đề đặt ra.
Mặt khác sự trong sáng của bài văn nghị luận có đ ợc nhờ chỗ biết tách biệt,
phân chia văn bản rõ ràng và trình bày ý tứ theo một trình tự hợp lí, tự nhiên.
Trong dòng chảy của ý tứ và quan điểm lí luận ấy phải tô đậm những ý quan
trọng một cách có chủ đích.
Không ôm đồm và phải biết tuyển lựa ý kiến, chọn lựa dấu liệu và không
lạm dụng cách hành văn đơn điệu làm chìm mờ ý t ởng của bài văn.
Phát hiện ra sự thông mạch trong t duy và sự kết dính trong diễn đạt ngôn từ
của bài văn. Tránh dùng những từ lạ, ý mới mà không hề có sự chuẩn bị tr ớc cho
tâm thế ng ời đọc.
3. Yêu cầu hài hoà .