I:
T VN
1/ Lý do chọn đề tài
Nh chúng ta đều biết: Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh THCS là
vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết trong việc tạo lập văn bản. Từ đó, giúp học
sinh hình thành ý thức và nhân cách cũng nh trình độ học vấn cho các em ngay khi
đang học bậc học THCS và trởng thành sau này. Qua việc rèn luyện kĩ năng viết
đoạn văn, ta rèn cho học sinh ý thức tự tu d ỡng, biết yêu thơng, quí trọng gia đình,
bạn bè, có lòng yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hớng tới những tình cảm cao đẹp
nh lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái
ác và cũng từ đó rèn cho các em tính tự lập, có t duy sáng tạo, bớc đầu có năng lực
cảm thụ các giá trị chân, thiện, mĩ trong nghệ thuật. Tr ớc hết là trong văn học có
năng lực thực hành và năng lực sử dụng Tiếng Việt nh một công cụ để t duy và giao
tiếp.
Để rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết đoạn văn, giáo viên phải h ớng dẫn cho
các em cách thức viết đoạn văn, cách sử dụng vốn từ ngữ, diễn đạt câu trong đoạn
văn, bố cục đoạn văn trong một văn bản, cách sử dụng các ph ơng tiện liên kết trong
đoạn văn. Tuỳ theo từng phơng thức diễn đạt khác nhau mà viết theo lối qui nạp,
diễn dịch, song hành hay móc xích.
Để viết đợc đoạn văn phải có nhiều câu kết hợp tạo thành, cũng nh vậy để tạo
thành văn bản yêu cầu phải có các đoạn văn liên kết với nhau mà thành (khi đã dùng
các phơng tiện liên kết trong văn bản).
Tuy vậy, trong giai đoạn hiện nay, có rất nhiều
những phơng tiện hiện đại, thông tin đại chúng cập nhật
liên tục khiến cho học sinh lao vào con đ ờng say mê
nghiện sách vở bị lãng quên, ham bạo lực điện tử, sách
kiếm hiệp. Vì vậy, các em không còn ham đọc sách, ham
nghiên cứu. Cho nên, việc viết một đoạn văn lại càng là
vấn đề đáng quan tâm khi chúng ta rèn luyện cho các
sinh tạo lập đợc những văn bản văn học.
Đến cải cách giáo dục (1980 2001), Tập làm văn là một phần của môn
TiếngViệt, quan niệm dạy môn này và Tiếng Việt có tính chất nh là công cụ để học
tốt các môn học khác. Làm văn là quá trình giúp học sinh xây dựng văn bản.
Giai đoạn hiện nay: phân môn Tập làm văn có tính độc lập nh ng có mối quan hệ
trực tiếp đến phần Văn và phần Tiếng Việt.
Lần thay sách giáo khoa này, phân môn Tập làm văn đ ợc tích hợp cùng phân
môn Văn và Tiếng Việt trong ch ơng trình Ngữ Văn mới. Các kiểu văn bản của Tập
làm văn chính là trục để xây dựng nội dung, ch ơng trình Ngữ Văn THCS từ năm học
2002 2003.
3/ Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu
a. Mục đích.
Phân môn Tập làm văn giúp cho học sinh nắm đ ợc các thể loại trong chơng trình
tập làm văn ở THCS nh Tự sự, Miêu tả, Biểu cảm, Nghị luận, Thuyết minh, Điều
hành. Từ đó, giúp học sinh biết vận dụng các thể loại văn bản để phục vụ cho học
tập, trong đời sống. Đặc biệt đề tài này sẽ giúp cho các em biết cách xây dựng đoạn
văn với bố cục đoạn văn dù ngắn hay dài đều phải đảm bảo mặt nội dung và hoàn
chỉnh về hình thức, hớng dẫn cho các em rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn theo bố cục
ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết luận.
Mỗi đoạn văn đều bao hàm một ý chính của nó. ý chính đó, có thể đứng ở đầu
đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc đứng cuối đoạn văn theo cách qui nạp hoặc ý
chính của các câu bình đẳng nhau, ngang hàng nhau theo cách song hành.
Qua đó, rèn luyện cho học sinh kĩ năng diễn đạt đúng và hay bằng các hình thức
nói hoặc viết, tập vận dụng một cách sáng tạo, tổng hợp những kiến thức đã tiếp thu
đợc qua các môn Văn Tiếng Việt và những kiến thức văn hoá xã hội để có thể nói
và viết theo yêu cầu, đề tài khác nhau, những kiểu văn bản khác nhau mà cuộc sống
đặt ra cho các em.
Viết đoạn văn (trong phân môn Tập làm văn còn trực tiếp rèn luyện cho học sinh
nh sau:
Chơng trình Tập làm văn THCS đồng tâm với chơng trình Tập làm văn của Tiểu
học nhng ở yêu cầu cao hơn, tiếp tục và hoàn chỉnh chơng trình ở THCS, mở rộng
các thể văn mới hơn, yêu cầu cao hơn đối với học sinh. Chơng trình Tập làm văn có
mối quan hệ khá rõ ràng: Giữa Văn Tiếng Việt Tập làm văn. Để trở thành thao
tác tốt viết đoạn văn, giáo viên hớng dẫn học sinh nh cách dùng từ đặt câu và cao
hơn là dựng đoạn. Vì vậy, có thể nói học sinh đợc học và thực hành 15 loại văn bản ở
bậc THCS, đủ để giao tiếp bằng văn bản và tiếp tục học lên ở những bậc trên.
a.Phơng pháp lí thuyết.
Bớc đầu dạy cho học sinh những khái niệm về từng thể loại văn, làm quen với
những đề văn mẫu, những bài văn mẫu và tìm hiểu cụ thể từng bài qua các tiết học:
Lí thuyết về đoạn văn. Qua đó, giúp học sinh học, tìm hiểu cách xây dựng đoạn văn,
bố cục đoạn văn, các câu chốt (câu chủ đề) trong đoạn văn, viết theo các cách diễn
dịch, qui nạp, song hành, móc xích Từ đó, cho học sinh tập viết đoạn văn, có vận
dụng lí thuyết về thể loại văn ấy. Tuy nhiên, phơng pháp lí thuyết không quá nặng.
b.Phơng pháp nghiên cứu, tìm hiểu.
Học sinh là chủ thể trong quá trình dạy học để phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của các em trong quá trình tiếp nhận. Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu
cho học sinh tự thân vận động là chính, giáo viên im lặng đến mức tối đa để khuyến
khích học sinh sáng tạo trong giờ Tập làm văn. Vậy, trong tiết học Tập làm văn mà
đặc biệt là tiết rèn luyện viết đoạn văn, hớng dẫn các kĩ năng nghiên cứu, tìm hiểu để
vận dụng các kiến thức đã học để dựng đoạn theo đặc điểm thể loại để tạo lập văn
bản.
c.Phơng pháp kiểm tra, khảo sát.
Với phơng pháp này, đòi hỏi học sinh phải thực hành liên tục, chắc chắn các
thao tác từ lí thuyết về thể loại sau đó đến nghiên cứu, tìm hiểu. Từ đó, ta mới đi vào
kiểm tra, khảo sát để thấy đợc sự vận dụng tổng hợp, để sáng tạo văn bản qua nhiều
bớc trong quá trình rèn luyện các kĩ năng. Đó là điều kiện để đánh giá học sinh
ngời đọc. Kĩ năng dựng đoạn văn gắn với kĩ năng luyện nói trên lớp. Có triển khai ý
thành đoạn cũng mới tiến hành đợc. Đây là những thao tác, những kĩ năng có khi
thực hiện và rèn luyện đồng thời cùng một lúc.
Qua đó, ta có thể hiểu đợc: Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt
đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xống dòng và thờng biểu
đạt một ý tơng đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thờng do nhiều câu tạo thành. Đoạn văn th ờng có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ đ ợc dùng làm đề
mục hoặc các từ ngữ đợc lặp lại nhiều lần (th ờng là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa)
nhằm duy trì đối tợng đợc biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn
gọn, thờng đủ hai thành phần chính và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn (hay còn gọi
là câu chốt). Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm rõ chủ đề của
đoạn bằng các phép diễn dịch, qui nạp, song hành
Khi chuyển từ đoạn này sang đoạn khác, cần sử dụng các ph ơng tiện liên kết để
thể hiện quan hệ ý nghĩa của chúng. Có nhiều ph ơng tiện liên kết trong đoạn văn:
dùng từ ngữ có tác dụng liên kết, quan hệ từ, đại từ, chỉ từ, các cụm từ thể hiện ý liệt
kê, so sánh, đối lập, tổng kết, khái quát,và dùng câu nối trong đoạn văn. Đoạn văn
liên kết nhằm mục đích tạo sự liền mạch một cách hợp lí, tạo tính chỉnh thể cho văn
bản.
Nh vậy, các phơng tiện liên kết vốn mang ý nghĩa, nhng đồng thời chúng cũng
là hình thức làm rõ tính liên kết của nội dung đoạn văn. Mặt khác, lại có những ph ơng tiện liên kết đồng nghĩa, gần nghĩa với nhau, nên cần lựa chọn các ph ơng tiện
liên kết cho phù hợp với ý đồ chủ quan của ngời viết, với sự việc đợc phản ánh và
tình huống giao tiếp cụ thể.
Vì vậy, chúng ta cần tận dụng những hiểu biết và khả năng trên của học sinh để
phát huy tính tích cực, tính chủ động và sáng tạo của học sinh trong việc rèn luyện kĩ
năng viết đoạn văn đợc tốt và làm nền tảng cho chơng trình THPT. Mặc dù vậy, học
sinh ở các trờng THCS, phần lớn có khuynh hớng không thích học văn mà đặc biệt là
phân môn tập làm văn. Và vì thế nó đã ảnh hởng rất nhiều đến việc tiếp thu, vận
dụng sáng tạo các kĩ năng viết đoạn văn của các em.
II/ Thực trạng viết đoạn văn của học sinh
SL
%
SL
%
0
0
20
23,5
Trung bình
SL
%
yếu, kém
SL
%
43
22
50,5
I/ Đặc điểm của đoạn văn
- oạn văn có bố cục ba phần.
Mở đoạn:
Phát triển đoạn:
Kết thúc đoan
II/ Yêu cầu của đoạn văn
đoạn văn có những yêu cầu cụ thể nhằm giúp học sinh nắm một cách khái quát
về mặt hình thức cũng nh nội dung đoạn văn. Từ đó, các em mới có thể viết đoạn
(xây dựng đoạn) đúng với yêu cầu. Đoạn văn với việc nâng cao năng lực cảm thụ văn
học của học sinh là những yêu cầu, nội dung liên quan mật thiết với nhau.
Về mặt hình thức của đoạn văn :
Yêu cầu trớc hết là học sinh phải nắm đợc dấu hiệu, qui ớc khi viết đoạn văn
Đoạn văn là một phần của văn bản đ ợc tính từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng đến
chỗ chấm xuống hàng.
Trớc khi viết đoạn văn, giáo viên h ớng dẫn cho các em tìm hiểu đề, xác định ý
và từ việc xác định đợc ý chính của bài mà đi đến xây dựng câu chủ đề. Việc viết câu
chủ đề đúng với ý chính đã tìm đ ợc ở trên sẽ giúp học sinh định h ớng cách lựa chọn
nội dung trình bày theo cấu trúc diễn dịch, qui nạp hay các kiểu cấu trúc khác. Đồng
thời cũng định hớng cho các em lựa chọn các phép liên kết, phơng tiện liên kết, cách
dùng từ ngữ cho phù hợp với cảm xúc trong bài viết của mình.
Câu chủ đề có thể đứng ở đầu đoạn (theo cấu trúc diễn dịch), có thể đứng ở cuối
đoạn (theo cấu trúc qui nạp) v.vCâu chủ đề phải mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn
gọn, hàm xúc và thờng đủ hai thành phần chính của câu : chủ ngữ và vị ngữ. Các câu
còn lại trong đoạn văn có nhiệm vụ diễn giải, chứng minh, làm rõ hoặc kết luận những
cảm xúc đã thể hiện trong câu chủ đề.
Các câu trong đoạn văn phải đợc liên kết với nhau một cách chặt chẽ bằng các
phép liên kết, phơng tiện liên kết, từ ngữ- câu liên kết, hoặc các mối quan hệ phụ
thuộc, không phụ thuộc giữa các đoạn văn mở bài, thân bài, kết bài.
4. Cách viết đoạn văn
Trớc hết, giáo viên hớng dẫn học sinh nắm một cách khái quát yêu cầu của các
đoạn văn mở bài, đoạn văn thân bài, đoạn văn kết bài.
Đoạn văn mở bài: Khái quát đợc cảm xúc, tình cảm của ngời viết
Đoạn thân bài: Triển khai mạch cảm xúc, tình cảm của ng ời viết bằng việc sử
dụng những từ ngữ gợi cảm xúc, tình cảm. Lần l ợt nêu lên những suy nghĩ của riêng
mình về những khía cạnh của tác phẩm. Không lan man, dàn đều mà nên xoáy sâu vào
các trọng tâm, trọng điểm. Phải đi a qua b, c, d.
Đoạn kết bài: Nêu lên những cảm nghĩ chung, có thể đánh giá và liên hệ. Tránh
dài dòng, trùng lặp, đơn điệu.
Có lúc phải khen chê. Khen, chê chính là viết lời bình. Giáo viên qua những bài
giảng cụ thể, qua việc hớng dẫn đọc sách sẽ giúp các em làm quen dần cách bình
văn, biến thành kĩ năng, kĩ xảo. Lúc nào viết đ ợc lời bình hay, sâu sắc thì bài cảm
nghĩ mới thực sự mang vẻ đẹp trí tuệ.
Có lúc phải biết liên tởng so sánh. Từ hiện tợng này mà nghĩ, mà nhớ đến hiện tợng khác tức là liên tởng.
4.1.Cách viết đoạn mở bài .
Trớc hết phải nói rằng mở bài hay nhất là đạt hai yêu cầu sau:
Tính khái quát.
Tính định hớng.
Từ đó, ta có thể trình bày một đoạn văn mẫu (đoạn mở bài) để học sinh học tập,
bắt chớc(bắt chớc nhng không ghi chép nguyên mẫu), rồi vận dụng cách bài ấy cho
bài của mình.
4.2. Cách viết đoạn thân bài
Quá trình viết đoạn văn thân bài, giáo viên lu ý học sinh: Giọng văn, hơi văn
không gò bó, khô khan, đảm bảo đợc các yêu cầu diễn đạt, dùng từ, đặt câu, lựa chọn
các đặc điểm, nội dung trình bày của đoạn văn. Nghĩa là tuỳ thuộc vào mạch cảm
xúc của ngời viết mà có cách lựa chọn cho thích hợp.
Từ đề bài trên đây, ta có thể viết các đoạn văn thân bài nh sau( lu ý mỗi đoạn
dân tộc, danh nhân văn hóa. Trong hoạt động và lãnh đạo cách mạng, mỗi khi gặp
hoàn cảnh đặc biệt nào đó, Người thường hứng khởi làm thơ. mỗi bài thơ của Bác là
một mảnh tâm hồn trong sáng, cao đẹp, hài hòa chất nghệ sỹ và chiến sỹ. Bài thơ “
Cảnh khuya”- sáng tác 1947 là một tác phẩm như thế.
2. Đoạn văn kết bài:
“ Cảnh khuya” vừa tả cảnh ngụ tình, vừa trực tiếp giãi bày tình cảm, tâm trạng của
Bác Hồ vào những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp gian khổ.
Đọc bài thơ, chúng ta vô cùng cảm mến, trân trọng tình yêu thiên nhiên và tấm lòng
yêu nước, tinh thần trách nhiệm lớn lao của Người đối với dân, với nước.
3. Đoạn văn thân bài viết theo lối diễn dịch:
Càng về cuối, kỉ niệm tuổi thơ càng da diết, cảm động. Qua những dòng thơ êm
nhẹ, thánh thót như những nốt nhạc trong veo, hình ảnh người bà hiện lên đẹp như
một bà tiên vậy. Bà dành tất cả sức lực và tình thương yêu cho đứa cháu nhỏ. Bà đã
tần tảo, chắt chiu chăm sóc, nâng đỡ từng quả trứng, từng chú gà con, như chắt
chiu , nâng đỡ những ước mơ hạnh phúc nhỏ bé, đơn sơ của đứa cháu yêu.Hình ảnh
đứa cháu mặc bộ quần áo mới mua từ công lao nuôi gà của bà ban tặng, hồn nhiên,
ngây thơ làm sao?Chỉ là cái quần chéo go, cái áo cánh trúc bâu là những thứ vải rẻ
tiên mà ngày nay ít dùng nhưng đứa cháu vô cùng cảm động, sung sướng.Đấy đâu
chỉ là bộ quần áo dài rộng, cựa quậy một tí đã kêu sột soạt mà đấy còn là biết bao
hạnh phúc, biết bao tấm lòng của bà dành cho cháu.
4. Đoạn văn thân bài viết theo lối quy nạp:
Hình ảnh và tâm trạng người thiếu niên - những chiến sỹ chống Mỹ thời tuổi ấu
thơ - được khắc họa chân thực, mang bản chất nông dân, bản sắc Việt Nam, thật là
đáng trân trọng. Đó là những con người giản dị, được lớn lên trong tình yêu thương,
nâng đỡ của quê hương, của những người ruột thịt. Được hưởng hạnh phúc ấy, họ
thực sự cảm động và mãi nhớ ơn quê hương, ông bà, cha mẹ.Riêng với nữ sỹ Xuân
Quỳnh, có lẽ mối tình sâu nặng và ân nghĩa nhất là tình bà cháu. Nếu không nhớ
thương, không biết ơn bà, làm sao mà viết được những câu thơ, ghi lại được kỉ niệm
học: Cách cảm thụ các dạng Tập làm văn - Lớp 6,7
- Về thời gian: Dạy - Học 3 tiết/lớp. Bố trí học 2 buổi chiều (Ngoài giờ học
chính khoá).
- Ra đề: Yêu cầu của đề bài phải mang tính vừa sức, tính khoa học, chính xác,
phù hợp với đối tợng học sinh lớp 7.
Đề bài1: Cảm nhận của em sau khi đọc bài thơ "Cảnh khuya" của Hồ Chí Minh.
(Lớp 7A)
Đề bài2: Cảm nhận của em về bài thơ "Rằm tháng giêng" của Hồ Chí Minh.
(Lớp 7B)
* Qui trình Dạy - Học
ở lớp 7A - Chúng tôi thực hiện các bớc sau:
Hoạt động 1: Khởi động bằng việc kiểm tra sự chuẩn bị ở nhà của các em và
GV chọn một bài văn biểu cảm cho HS đọc tr ớc lớp rồi xác định các phần trong bài
làm của ngời viết - Trình bày các ý chính trong mỗi phần: Mở bài, Thân bài, kết bài.
Hoạt động 2: GV tổ chức cho HS ôn tập các đơn vị kiến thức đã học về văn
Biểu cảm. Cụ thể:
I/ Khái niệm văn Biểu cảm.
II/ Đặc điểm của văn Biểu cảm.
III/ Các yêu cầu khi làm bài văn Biểu cảm.
Hoạt động 3: GV tổ chức cho ngời học viết các đoạn văn biểu cảm theo yêu cầu
của ngời dạy. Đối tợng biểu cảm là một số tác phẩm thơ, hoặc đoạn thơ.
Hoạt động 4: GV cho lớp tiến hành thảo luận và nhận xét, đánh giá các đoạn
văn của HS.
Hoạt động 5: GV củng cố kiến thức và tiến hành khảo sát bằng đề bài sau:
Cảm nhận của em về bài thơ "Rằm tháng giêng" của Hồ Chí minh.
Hoạt động 6: GV thu bài và dặn dò HS.
1
2
%
2,4
4,7
Kh¸
SL
11
17
%
26,2
39,5
Trung b×nh
SL
%
22
52,4
25
41,8
yÕu, kÐm
SL
%
8
19,0
6
làm văn của các em. Từ đó, học sinh có dịp để uốn nắn điều chỉnh, hạn chế những
lệch lạc trong nhận thức, đời sống t tởng tình cảm của của các em. Cũng từ đó, hiệu
quả giáo dục của Tập làm văn nói chung, viết đoạn văn nói riêng đ ợc nâng cao và đợc học sinh yêu thích.
Qua việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn, học sinh đ ợc uốn nắn, điều chỉnh, hạn
chế những thiếu sót trong quá trình làm văn ở những cấp học cao hơn. Ngoài ra các
em còn đợc bồi dỡng về tâm hồn, trí tuệ, biết rung động tr ớc cái đẹp, biết hớng tới
giá trị thẩm mĩ, có năng lực sử dụng ngôn ngữ, bjiết tích luỹ vốn tri thức và vận dụng
trong giao tiếp ở mọi hoàn cảnh khác nhau. Dùng từ đặt câu, viết đoạn sẽ đ ợc các em
vận dụng tốt trong mọi điều kiện để h ớng tới cái chân thiện mĩ, biết tự hào và
sử dụng Tiếng Việt trong sáng, hoàn mĩ hơn.
Cũng từ việc rèn kĩ năng viết đoạn giúp học sinh vận dụng để viết đ ợc nhiều
đoạn văn và viết tốt ở nhiều thể loại.
2. Tuy nhiên, việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn vẫn còn nhiều hạn chế. Vì
đây là một tiết khó của môn học, nếu đơn thuần giáo viên không h ớng dẫn cụ thể về
cách tìm hiểu đề, tìm ý, mỗi ý t ơng ứng với bao nhiêu đoạn trong văn bản. Hoặc học
sinh cha tìm đợc câu chủ đề để từ đó phát triển mở rộng thành đoạn văn. Để tích hợp
đợc với văn và Tiếng Việt, giáo viên ch a hớng dẫn khái niệm đoạn văn, câu chủ đề,
quan hệ giữa các câu và cách trình bày đoạn văn. Qua đó, giúp học sinh rèn luyện kĩ
năng viết đoạn văn theo các yêu cầu về cấu trúc và ngữ nghĩa.
Hạn chế nữa là trong ch ơng trình SGK Ngữ Văn THCS học sinh không đ ợc học
các nội dung trình bày trong đoạn văn theo các đặc điểm, cấu trúc diễn dich, qui nạp,
song hành, móc xích. Do đó, khi xây dựng đoạn văn, học sinh rất lúng túng trong
việc đặt vị trí câu chủ đề trong đoạn.
Hơn nữa, trong quá trình luyện viết các đoạn văn, học sinh còn lúng túng trong
việc tìm hiểu đề, xác định ý, xây dựng câu chủ đề. Khi lựa chọn các phép liên kết
câu, liên kết đoạn trong văn bản các em còn vụng về, đôi khi không nắm vững các
đơn vị kiến thức này. Và việc lựa chọn, dùng từ đặt câu ở một số học sinh còn nhiều
hạn chế: nh dùng từ, ngữ không trong sáng, thiếu trau chuốt, từ ngữ không có tính
Vì vậy, chúng ta cần quan tâm hơn nữa để phát huy những tài năng sẵn có còn
tiềm ẩn trong mỗi cá nhân học sinh, giúp các em hoàn thiện nhân cách, phát huy vốn
tri thức của nhân loại làm giàu cho quê hơng đất nớc.