BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Tùng
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN
VĂN
CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Tùng
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN
VĂN
CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học văn
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THANH BÌNH
Thành phố Hồ chí Minh - 2012
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 6
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.................................................................... 7
6. Đóng góp của luận văn................................................................................ 7
7. Cấu trúc luận văn ........................................................................................ 8
CHƯƠNG 1
ĐOẠN VĂN TRONG VĂN TỰ SỰ, HUYẾT
MINH VÀ NGHỊ LUẬN ................................................................. 9
1.1 Đoạn văn..................................................................................................... 9
1.1.1 Khái niệm đoạn văn ......................................................................................9
1.1.2 Đặc điểm của đoạn văn ..............................................................................11
1.1.3 Những yêu cầu chung của đoạn văn .........................................................11
1.1.4 Một số vấn đề chung của đoạn văn ............................................................15
1.2. Đoạn văn trong văn tự sự, thuyết minh và nghị luận ......................... 30
1.2.1 Đoạn văn trong văn tự sự ...........................................................................30
1.2.2 Đoạn văn trong văn thuyết minh ...............................................................34
1.2.3 Đoạn văn trong văn nghị luận ...................................................................36
Chương 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN
KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT
......................................................................................................... 42
2.1. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn .............................. 45
2.1.1 Một số lưu ý khi rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn .....................................45
2.1.2 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn ....................................45
2.1.3 Bài tập rèn luyện kĩ năng phát hiện và chữa lỗi đoạn văn. ......................82
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. THPT: Trung học phổ thông.
2. THCS: Trung học cơ sở
3. GV: Giáo viên
4. HS: Học sinh.
5. SGK: Sách giáo khoa
6. VBTS: Văn bản tự sự
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Hình 2.1 Sơ đồ hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn.
Hình 2.2 Sơ đồ hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn trong văn tự
sự, đoạn văn thuyết minh, đoạn văn nghị luận.
DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ KẾT QUẢ
THỰC NGHIỆM VÀ ĐỐI CHỨNG
Bảng 3.1. Thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm và đối chứng.
Bảng 3.3. Thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm và đối chứng.
Bảng 3.5. Thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm và đối chứng.
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ THỐNG KÊ KẾT QUẢ
THỰC NGHIỆM VÀ ĐỐI CHỨNG
Hình 3.2. Biểu đồ thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm
và đối chứng.
Hình 3.4. Biểu đồ thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm
và đối chứng.
Hình 3.6. Biểu đồ thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm
trường phổ thông.
Xuất phát từ vai trò và vị trí của môn học Ngữ văn trong đó có phần Làm văn
ở nhà trường phổ thông, nhiều nhà nghiên cứu tâm huyết với phần học này đã có
những đóng góp đáng kể nhằm làm thay đổi nội dung và phương pháp dạy học. Tuy
nhiên, thực tế dạy học Làm văn ở nhà trường phổ thông vẫn còn nhiều bất cập. Dù
đã có những định hướng đổi mới nhưng vẫn còn có những vấn đề cần được quan
tâm hơn nữa trong tiến trình thực thi tinh thần đổi mới phương pháp dạy học như:
quan điểm đổi mới dạy - học cách dạy của giáo viên, cách học của học sinh, cách ra
đề thi, kiểm tra…tất cả các yếu tố trên đều có liên quan đến phương pháp dạy học
Ngữ văn nói chung và dạy học Làm văn nói riêng.
Trong dạy học Làm văn, giáo viên đánh giá kết quả bài làm của học sinh qua
các kĩ năng như: trình bày, bố cục, lập dàn ý, xây dựng đoạn…Vì vậy, phân môn
2
Tập làm văn có tốt hay không là cách sử dụng từ ngữ, viết câu, phân đoạn. Nội
dung có cảm xúc hay không là kết quả cho sự rèn luyện của hai phân môn Văn học
và tiếng Việt. Nhưng học tốt văn học và Tiếng Việt chưa chắc đã làm tốt một bài
làm văn nếu các em không nắm được các bước cơ bản khi tiến hành làm một bài
Tập làm văn đó là những bước gì, mỗi bước có điểm gì cần lưu ý. Đặc biệt hơn là
cái sai lớn nhất của các em là không biết phân đoạn như thế nào cho phù hợp, đa số
học sinh làm bài phần thân bài là một đoạn văn là điều rất đáng lo ngại.
Như chúng ta được biết, văn bản là một chỉnh thể thống nhất thường bao
gồm nhiều đoạn văn. Vì vậy, để tạo được một văn bản thì vấn đề xây dựng đoạn văn
là khâu có vị trí quan trọng rất đáng kể khi tạo lập văn bản. Các đoạn văn trong văn
bản thường tách ra một cách rõ rệt, lại vừa cần có sự liên kết với nhau. Bên trong
mỗi đoạn văn rất cần có sự liên kết của các câu theo những mô hình cấu trúc nhất
định và tạo nên những kiểu kết cấu của đoạn văn khác nhau. Thế nên, việc hình
thành hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng rất quan trọng trong dạy học Làm văn, nó
nghị luận nói riêng là những công trình khiến chúng tôi quan tâm nhiều nhất bởi đây
sẽ là những tư liệu quý giá, sát thực với đề tài mà chúng tôi triển khai. Những công
trình nghiên cứu về Làm văn này đã cung cấp cho chúng tôi các tri thức công cụ
làm cơ sở lí luận khoa học để triển khai đề tài. Đó là những công trình:
Lê A (1990), Một số vấn đề dạy và học Làm văn, ĐH Sư phạm Hà Nội.
GS Phan Trọng Luận (2002) (Chủ biên), Phương pháp dạy Văn NXB Giáo
dục.
Nguyễn Quốc Siêu (2004), “Kĩ năng làm văn nghị luận ở phổ thông”, NXB
Giáo dục.
Nhiều tác giả, Nâng cao kĩ năng làm bài văn nghị luận (2006), NXB Giáo
dục.
Mai Thị Kiều Phượng (2009), Giáo trình phương pháp dạy và học kĩ năng
làm văn…NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
PGS.TS. Đỗ Ngọc Thống (2007) (Chủ biên), TS. Phạm Minh Diệu,TS.
Nguyễn Thành Thi, Làm văn, (Dùng cho các trường Cao đẳng Sư phạm), NXB Đại
học Sư phạm. Công trình này đã cung cấp cho chúng tôi cở sở lí thuyết về văn tự
sự, văn thuyết minh và văn nghị luận sát với đề tài mà chúng tôi đang thực hiện.
4
Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu về Tiếng Việt có liên quan đến
dạy học Làm văn của các nhà nghiên cứu tên tuổi đã giúp chúng tôi rất nhiều trong
việc thực hiện đề tài, đó là các công trình:
Lê A (chủ biên) (1997), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, NXB Giáo dục.
Diệp Quang Ban (2002), Giao tiếp, Văn bản, Mạch lạc, Liên kết, Đoạn văn
NXB Khoa học Xã hội.
Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm (2000), Ngữ
pháp văn bản và việc dạy làm văn, NXB Giáo dục.
Trần Ngọc Thêm (1985), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, NXB Giáo
những nhà nghiên cứu, nhà giáo có tâm huyết với nghề đăng trên các tạp chí khoa
học:
Lê Thị Anh (2004), Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn tự sự trong quá trình
dạy văn bản tự sự cho học sinh lớp 6 - THCS (Luận văn thạc sĩ) Trường Đại học Sư
phạm, Hà Nội.
Mai Văn Năm (2010), Một số dạng bài tập rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn
văn nghị luận cho học sinh lớp 10, Giáo dục (231), 37- 39.
Phan Thị Mĩ Tiên (2007), Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ để tạo lập văn
bản tự sự cho học sinh THCS (Luận văn thạc sĩ), Trường Đại học Sư phạm,
Tp.HCM.
Nguyễn Thị Ly Na (2008), Từ thực tế viết văn nghị luận của học sinh trung
học phổ thông xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn (Luận văn thạc
sĩ), Trường Đại học Sư phạm, Tp.HCM.
Lê Thị Hiền (2008), Dạy thực hành làm văn ở bậc phổ thông theo quan điểm
giao tiếp (Luận văn thạc sĩ), Trường Đại học Sư phạm, Tp.HCM.
Tuy nhiên những công trình nghiên cứu trên chưa đi sâu vào hệ thống bài tập
rèn kĩ năng viết đoạn cho học sinh về đoạn văn và đoạn văn trong văn tự sự, thuyết
minh, nghị luận có trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 10. Chính vì vậy, quan
tâm đến phần Làm văn trong chương trình Ngữ văn bậc THPT nói chung và phần
Làm văn 10 nói riêng, đặc biệt quan tâm đến kĩ năng viết đoạn văn - bước quan
trọng của quá trình tạo lập văn bản, chúng tôi hướng đến đề tài “Xây dựng hệ thống
bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 THPT”. Nghiên cứu đề
tài, chúng tôi mong muốn góp phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp dạy học
6
Làm văn hiện nay và nhằm giúp giáo viên có một hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng
viết đoạn văn để dạy học tốt hơn.
Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng để thống kê các tài liệu liên quan đến phân
môn Làm văn; thống kê các phiếu tham khảo ý kiến của giáo viên và học sinh về
thực tế dạy học làm văn; thống kê kết quả thực nghiệm sư phạm.
Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các nội dung về thực hành Làm
văn, kết quả thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm.
Phương pháp phân tích ngôn ngữ
Phương pháp này được sử dụng để phân tích các đơn vị ngôn ngữ (từ, câu)
mà học sinh vận dụng khi làm bài để đưa ra các nhận xét, đánh giá và giải pháp phù
hợp khi giúp học sinh rèn luyện kĩ năng Làm văn.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp này được sử dụng để thực nghiệm các giáo án và đề xuất kiểm
nghiệm khả năng ứng dụng của dạy học rèn kĩ năng viết đoạn cho học sinh cũng
như xem xét mức độ đúng đắn, tính khả thi của luận văn này.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Ý nghĩa khoa học: xây dựng quan niệm đầy đủ, khoa học và toàn diện về
quan điểm dạy học mới và về tính thực hành của giờ học Làm văn.
Ý nghĩa thực tiễn: bổ sung hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng Làm văn, đặc
biệt kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 10 Trung học phổ thông nhằm giúp học
sinh tạo lập một đoạn văn hoàn chỉnh, thật hiệu quả.
6. Đóng góp của luận văn.
Với đề tài này, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ trong hoạt động
nghiên cứu và dạy học Làm văn hiện nay bằng phương pháp thực hành.
Khẳng định tính thực hành và vai trò của bài tập trong dạy học Làm văn.
Xây dựng và cung cấp cho giáo viên, học sinh một hệ thống bài tập rèn luyện kĩ
năng viết đoạn văn.
những ý kiến thống nhất về đoạn văn để tiện việc thực hiện đề tài.
Dưới đây, là một số quan niệm về đoạn văn:
Trong các tài liệu về Ngữ pháp văn bản đã thừa nhận: “Giữa câu và văn bản
có một đơn vị ngữ pháp. Đơn vị này được gọi bằng những tên gọi khác nhau: chỉnh
thể cú pháp phức hợp, chỉnh thể trên câu, thành tố của văn bản, khổ văn xuôi, đoạn
văn, đó là đơn vị trung gian giữa câu văn bản. Ngoại trừ văn bản chỉ có một câu,
thông thường văn bản có nhiều câu. Nhưng câu không phải là đơn vị cấu tạo nên
văn bản mà chỉ là đơn vị trực tiếp cấu tạo nên đơn vị trung gian này. “Chỉnh thể
trên câu là đơn vị ngữ pháp có sự gắn bó nội tại chặt chẽ, có một kết cấu nhất định
và thể hiện hoàn chỉnh một tiểu chủ đề. Còn đoạn văn là một bộ phận của văn bản
mang nhiều màu sắc phong cách” (Phong cách cá nhân và phong cách chức năng)
[54,tr.7].
Trong bài giảng Tiếng Việt thực hành cho sinh viên trường Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn, giáo sư Trần Ngọc Thêm viết: “Đoạn văn là bộ phận của
văn bản bao gồm một tập hợp câu liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình
thức, thể hiện một tiểu chủ đề trong văn bản và được tách ra khỏi đoạn văn khác
10
bằng dấu hiệu chấm qua hàng, được bắt đầu bằng chữ cái viết hoa thụt đầu
dòng”[65, tr.3].
Đoạn văn, coi như một cấu tạo văn bản nhỏ nhất. Ở đấy các kiến thức về
văn bản, về cấu trúc ngoài liên kết được vận dụng [6, tr.3].
Trong quyển Làm văn do phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống chủ biên, Nhà Xuất
bản Đại học Sư phạm ấn hành năm 2007, đã nêu rõ cấu trúc của đoạn văn như sau:
“Trong một văn bản, đoạn văn là đơn vị ngôn bản trọng yếu. Một đoạn văn hoàn
chỉnh có cấu trúc như sau:
- Mở đầu đoạn: nêu luận điểm A
- Thân đoạn: Triển khai A bằng a1, a2, a3
Vì vậy, dùng khái niệm đoạn văn trong việc xây dựng các văn bản là hoàn
toàn hợp lý.
Chúng tôi thống nhất với những cách hiểu trên làm cơ sở lí thuyết để căn cứ
vào đó thực hiện hệ thống bài tập cho luận văn.
1.1.2 Đặc điểm của đoạn văn
Đoạn văn có những đặc điểm cơ bản sau đây:
* Đoạn văn là đơn vị tạo thành văn bản: đơn vị cấu tạo nên văn bản chính là
đoạn văn. Đoạn văn có cấu tạo lớn hơn câu.
* Đoạn văn có dấu hiệu, hình thức rõ ràng, được thể hiện ở chỗ:
- Đoạn văn được mở đầu bằng cách thụt đầu dòng, viết hoa và kết thúc bằng
dấu chấm xuống dòng.
- Đoạn văn thường sử dụng các phương tiện liên kết hình thức để liên kết các
câu trong một đoạn văn.
- Đoạn văn thường chứa câu chủ đề.
- Mỗi đoạn văn đều phải thể hiện một phong cách thống nhất chung với
toàn bộ văn bản. Đoạn văn sẽ là phương tiện phân đoạn về mặt phong cách.
1.1.3 Những yêu cầu chung của đoạn văn
1.1.3.1 Đoạn văn phải có sự thống nhất nội tại chặt chẽ
Một là, mỗi đoạn văn trong bài làm văn thường biểu hiện một ý, một tiểu
chủ đề. Vì vậy, các câu trong đoạn văn phải thống nhất hữu cơ với nhau, thể hiện
tập trung nội dung của đoạn văn hay chủ đề con của đoạn văn. Như vậy, bắt buộc
mỗi câu đều phải hướng về đối tượng được nói đến và bắt buộc phải thể hiện rõ các
mối quan hệ giữa các câu với đối tượng ấy trong một đoạn văn. Nói cách khác, các
câu phải hướng đến một nội dung mà đoạn văn sẽ triển khai. Mặt khác, muốn tất cả
các câu trong đoạn văn cùng biểu hiện được một tiểu chủ đề thì bắt buộc các câu
12
trong đoạn văn ấy phải tuân thủ theo nguyên tắc phát triển, theo trình tự logic hay
13
chẽ về mặt logic. Tính chặt chẽ này được thể hiện ở việc phản ánh đúng đắn sự tồn
tại, vận động của hiện thực nói tới trong đoạn văn này ở chính ngay việc trình bày
về hiện thực đó. Để đạt được tính chặt chẽ về logic trong việc thể hiện sự tồn tại,
vận động của hiện thực, đoạn văn cần phản ánh chính xác hiện thực để sao cho hiện
thực hiện ra trong tác phẩm đúng như nó vốn có. Để đạt được tính chặt chẽ trong
việc trình bày, đoạn văn cần phải có sự thống nhất giữa các ý; ý sau không mâu
thuẫn với ý trước, phủ nhận ý trước; ý sau nối tiếp ý trước, phát triển, giải thích
hoặc chứng minh cho ý trước; các ý đưa vào trong đoạn văn cần được trình bày, sắp
xếp theo đúng quy luật của nhận thức, tư duy.
Ví dụ:
Cuộc đời tôi là một chuỗi nếu như. Từ nhỏ, tôi chỉ mong muốn là một ông
chủ nông trại như bố tôi, và không chịu học nếu như mẹ tôi không bắt tôi phải sống
ở Luân Đôn. Tôi sẽ trượt trong kì thi vào đại học y, nếu như tôi không phải là một
thanh niên giỏi bơi lội, có thể đại diện cho nhà trường trong những kì thi Olympic
thể thao của sinh viên. Tôi sẽ suốt đời làm một thầy thuốc nông thôn, nếu như giáo
sư Wright không chọn tôi làm phụ tá cho ông tại phòng thí nghiệm riêng, nơi tôi tìm
ra Pênêxilin. Phát minh này, tôi dự tính phải 15-20 năm mới triển khai được trong
thực tế, nếu như chiến tranh thế giới không xảy ra , thương vong không nhiều đến
mức các loại thuốc chưa kiểm tra cũng được phép sử dụng, thì pênêxilin chưa
chứng minh được công hiệu của mình và bản thân tôi chưa được giải Noben.
(Hóa học ngày nay - 3/1993)
1.1.3.2 Đoạn văn phải đảm bảo có quan hệ chặt chẽ với các đoạn văn khác trong
văn bản
Khi đi vào trong văn bản, đoạn văn không đứng biệt lập, tách rời hoàn toàn
với các đoạn văn khác nhau trong văn bản mà chúng phải vừa được tách ra một
cách hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ, đồng thời vừa phải liên kết chặt chẽ với các đoạn
văn khác nhau trong văn bản. Tức là đoạn văn này phải nằm ngay trong mối quan
hệ với đoạn văn khác, hoặc có thể làm cho rõ ý, hoặc bổ sung ý, hoặc theo quan hệ
các chợ Bến Thành, Cầu Muối đánh thức cả thành phố dậy với những tiếng máy nổ
giòn.
Thành phố mình đẹp quá! Đẹp quá đi!
(Nguyễn Mạnh Tuấn)
15
b. Cái tật “nói chữ” không chỉ có hại ở chỗ nói gây khó hiểu cho người nghe,
người đọc, làm cho tiếng ta vốn là trong sáng, hóa ra đục và tối; tật xấu đó còn đưa
đến một thói quen khá nguy hiểm là dùng chữ sẵn, điệu nói sẵn để lắp vào bất cứ
trường hợp này, nghĩa là dùng cái “sáo” thường khi chẳng có ý nghĩa gì, để thay
thế sự suy nghĩ, những ý và tình chân thật, xuất phát từ đáy lòng và diễn tả bằng
tiếng nói thông thường, mộc mạc, hồn nhiên và có ý vị.
(Phạm Văn Đồng)
1.1.4 Một số vấn đề chung của đoạn văn
1.1.4.1 Cách trình bày nội dung đoạn văn
Là một đơn vị cơ bản của văn bản, đoạn văn có cấu trúc rất linh hoạt và
nhiều khi phụ thuộc vào phong cách, cá tính của người viết. Trên đại thể, có thể
nhận thấy các kiểu trình bày nội dung đoạn văn có những kiểu cấu trúc chủ yếu như
sau:
- Đoạn văn có cấu trúc diễn dịch:
Đoạn văn có cấu trúc diễn dịch thường có chỉ có một câu chủ đề mang ý
nghĩa khái quát, có chức năng liên kết bao quát nằm ở vị trí đầu đoạn văn, còn các
câu còn lại là các câu cụ thể có cấu trúc song song ngang bằng, liên kết ngang với
nhau, hoặc cũng có thể chúng có mối liên hệ phụ thuộc có chức năng minh họa cho
câu chủ đề khái quát.
Ví dụ:
“Nhật kí trong tù” canh cánh một tấm lòng nhớ nước. Chân bước đi trên
đất Bắc mà lòng vẫn hướng về Nam, nhớ đồng bào trong cảnh lầm than, có lẽ nhớ
quát ở đầu đoạn văn, đồng thời, những câu cụ thể này hướng đến câu chủ đề thứ hai
nằm ở vị trí cuối đoạn văn có tính chất kết luận cho toàn bộ đoạn văn.
Ví dụ:
Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp, đẹp như thế nào đó là điều rất khó nói.
Chúng ta không thể nói tiếng ta đẹp như thế nào, cũng như không thể phân tích cái
đẹp của ánh sáng của thiên nhiên. Nhưng đối với chúng ta là người Việt Nam,
chúng ta cảm thấy và thưởng thức một cách tự nhiên cái đẹp của tiếng nước ta,
tiếng nói của quần chúng nhân dân trong ca dao và dân ca, lời văn của các nhà văn
17
lớn. Có lẽ tiếng Việt của chúng ta đẹp bởi vì tâm hồn của người Việt nam rất đẹp,
bởi vì cuộc sống, cuộc đấu tranh của nhân dân ta từ trước tới nay là cao quý, là
vĩ đại, nghĩa là rất đẹp.
(Phạm Văn Đồng)
- Đoạn văn có cấu trúc móc xích kết hợp với cấu trúc song song.
Khác với ba loại trên, đoạn văn có cấu trúc móc xích kết hợp với cấu trúc
song song có thể có câu chủ đề hoặc cũng có thể không có câu chủ đề. Nhưng loại
đoạn văn có cấu trúc này có có lối kết cấu và triển khai đặc biệt ở chỗ: ý của câu sau
kế tiếp ý của câu trước được lặp lại được thay thế bằng từ ngữ tương đương ở phần
đầu của câu kế theo sau. Các câu trong đoạn văn vừa móc xích, vừa thể hiện mối
quan hệ phụ thuộc vừa kết hợp song song với nhau.
Ví dụ:
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những
người yêu nước và thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong
những bể máu.
(Hồ Chí Minh)
- Đoạn văn có cấu trúc song hành
Khác với bốn loại trên, đoạn văn có cấu trúc song hành hoàn toàn không chứa