1
bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Vinh
---------- ----------
Trần thanh thắng
ứng dụng lí thuyết ngữ pháp văn bản
vào việc xây dựng hệ thống bài tập rèn
luyện kĩ năng
viết văn bản làm văn ở tiểu học
luận văn thạc sĩ giáo dục học
Vinh - 2006
2
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại học Vinh
---------- ----------
Trần thanh thắng
ứng dụng lí thuyết ngữ pháp văn bản
vào việc xây dựng hệ thống bài tập rèn
luyện kĩ năng
viết văn bản làm văn ở tiểu học
Tác giả
4
Mục lục
mở đầu...........................................................................................1
Chơng 1.
Trang
Cơ sở lí luận và thực tiển của vấn đề nghiên cứu.......7
1.1. Cơ sở lí luận........................................................................................7
1.1.1. Một số vấn đề chung về lí thuyết Ngữ pháp văn bản..........7
1.1.2. Văn bản...............................................................................10
1.1.3. Đoạn văn.............................................................................17
1.1.4. Liên kết và liên kết câu trong văn bản...............................26
1.2. Thực trạng dạy Tập làm văn viết ở tiểu học....................................40
1.2.1. Thực trạng hoạt động tổ chức dạy học của giáo viên.............40
1.2.2. Thực trạng về nhận thức và thực hành ứng dụng LTNPVB của
HS vào quá trình học Tập làm văn ở tiểu học........................43
Chơng 2.
Thiết kế hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết văn bản
làm văn ở tiểu học.........................................................47
2.1. Khảo sát chơng trình sách giáo khoa phân môn Tập làm văn........47
2.2. Thiết kế hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết văn bản làm văn ở
tiểu học dựa trên lí thuyết Ngữ pháp văn bản.................................56
Trang
Cơ sở lí luận và thực tiển của vấn đề nghiên cứu.......6
1.1. Cơ sở lí luận........................................................................................6
1.1.5. Một số vấn đề chung về lí thuyết Ngữ pháp văn bản..........6
1.1.6. Văn bản.................................................................................8
1.1.7. Đoạn văn.............................................................................14
1.1.8. Liên kết và liên kết câu trong văn bản...............................23
1.2. Thực trạng dạy Tập làm văn viết ở tiểu học....................................35
1.2.1. Thực trạng hoạt động tổ chức dạy học Tập làm văn viết của
giáo viên tiểu học...............................................................................35
1.2.2. Thực trạng về nhận thức và thực hành ứng dụng lí thuyết
NPVB của HS vào quá trình học Tập làm văn ở tiểu học.....38
Tiểu kết chơng 1.................................................................................41
Chơng 2.
Thiết kế hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết văn bản
làm văn ở tiểu học.........................................................42
2.1. Khảo sát chơng trình sách giáo khoa phân môn Tập làm văn........42
2.2. Thiết kế hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết văn bản làm văn ở
tiểu học dựa trên lí thuyết Ngữ pháp văn bản.................................51
2.2.1. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng liên kết câu...................51
2.2.2. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng xây dựng đoạn và tách đoạn
.................................................................................................58
2.2.3. Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng làm văn..........................63
Tiểu kết chơng 2................................................................................76
Chơng 3. Dạy học thực nghiệm......................................................77
sinh ngại học phân môn này. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến
tình trạng này là do hạn chế về kiến thức cơ sở và phơng pháp dạy Tập làm
văn của giáo viên.
Cùng với các lí thuyết về giao tiếp, hoạt động lời nói, phong cách ngôn
ngữ... Lí thuyết Ngữ pháp văn bản là một trong số những tiền đề lí thuyết quan
trọng trong việc dạy học phân môn Tập làm văn. Lí thuyết ngữ pháp văn bản
mới đợc giới thiệu rộng rãi ở nớc ta trong vòng hơn một chục năm gần đây nhng đã thu đợc những thành tựu đáng khích lệ. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có
những chơng trình bồi dỡng thờng xuyên cho giáo viên về vấn đề này nhng hiệu
quả thu đợc cha cao. Giáo viên còn lúng túng trong quá trình vận dụng lí thuyết
Ngữ pháp văn bản vào dạy học Tập làm văn.
7
Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi thấy, tìm hiểu lí thuyết Ngữ pháp văn
bản là một vấn đề trăn trở của nhiều giáo viên, đặc biệt là việc xây dựng hệ thống
bài tập rèn luyện kĩ năng viết văn bản làm văn ở tiểu học dựa trên lí thuyết này
Từ những yêu cầu về khoa học và thực tiễn đó chúng tôi mạnh dạn đi sâu
vào nghiên cứu đề tài: ứng dụng lí thuyết ngữ pháp văn bản vào việc xây
dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết văn bản làm văn ở tiểu học .
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Ngữ pháp văn bản là một lí thuyết mới đợc đa vào nớc ta trong những
năm gần đây. Đây là một bộ môn khoa học còn non trẻ, ít đợc các nhà nghiên
cứu quan tâm, chú ý. Đặc biệt là việc ứng dụng những thành tựu của lí thuyết
Ngữ pháp văn bản trong dạy học Tập làm văn ở tiểu học.
Năm 1986, nhóm tác giả Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần
Ngọc Thêm đã cho ra đời cuốn: Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn [3].
Nội dung cuốn sách đã trình bày một cách tinh giản những vấn đề và kết quả
nghiên cứu thể hiện có trong lĩnh vực Ngữ pháp văn bản - Một bộ môn rất trẻ của
Ngôn ngữ học. Cuốn sách không trình bày về Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm
viết văn bản làm văn ở tiểu học cha thực sự đợc quan tâm. Việc xây dựng đợc
hệ thống bài tập này sẽ giúp quá trình sản sinh văn bản làm văn của học sinh
đợc tốt hơn, hỗ trợ đắc lực cho việc giao tiếp của các em, giúp giáo viên có
một cách dạy tốt hơn, đạt hiệu quả cao hơn, góp phần nâng cao chất lợng môn
Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng.
3. Mục đích nghiên cứu
- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lí luận và thực tiễn cho việc rèn
luyện kĩ năng năng viết văn bản làm văn cho học sinh tiểu học.
- Xây dựng đợc hệ thống bài tập phù hợp nhằm rèn luyện kĩ năng viết
văn bản làm văn cho học sinh tiểu học.
4. Đối tợng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tợng nghiên cứu
-
Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết văn bản làm văn cho học
sinh tiểu học.
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học phân môn Tập làm văn ở tiểu học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
9
5.1. Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
5.2. Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng viết văn bản làm văn
cho học sinh tiểu học
5.3. Thực nghiệm s phạm
6. Giả thuyết khoa học
Chúng tôi giả định rằng: Nếu xây dựng đợc hệ thống bài tập nhằm rèn
11
Chơng 1
Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.1. cơ sở lí luận
1.1.1. Một số vấn đề chung về lí thuyết Ngữ pháp văn bản
1.1.1.1. Sự hình thành lí thuyết Ngữ pháp văn bản
Trớc đây, việc nghiên cứu và giảng dạy các vấn đề về ngôn ngữ th ờng chỉ dừng lại ở đơn vị câu. Ngời ta thờng quan niệm rằng câu là đơn vị
cao nhất của ngôn ngữ mà với nó con ngời có thể thực hiện đợc mục đích
t duy và giao tiếp. Những gì thuộc vấn đề trên câu (đoạn văn, văn bản) nếu
có đợc sự chú ý nghiên cứu, giảng dạy thờng bị gạt sang môn Tập làm văn.
Song càng ngày thực tế càng cho thấy rằng hoạt động t duy và giao tiếp
bằng ngôn ngữ không phải chỉ đợc tiến hành và đạt đợc mục đích bằng câu và
các đơn vị dới câu (âm vị, hình vị, từ) mà trong đại đa số trờng hợp chúng ta
đều thể hiện trong một chuỗi câu có liên hệ qua lại với nhau. Chuỗi câu đó có
một tổ chức chặt chẽ về lôgic, ngữ nghĩa và ngữ pháp, Chuỗi câu đó chính là
văn bản. Bởi vậy, việc nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ giao tiếp, góc độ chức
năng, không thể không nghiên cứu văn bản.
Mặt khác, trong lĩnh vực nghiên cứu cũng không thể chỉ giới hạn trong
phạm vi câu: nhiều vấn đề thuộc về câu nhng lại liên quan đến những yếu tố ở
ngoài câu. Nếu chỉ giới hạn trong phạm vi câu thì không thể lí giải đợc các sự
kiện của câu. Hơn nữa việc nghiên cứu chỉ giới hạn ở câu sẽ không có tác
dụng tích cực, giúp ích cho việc sử dụng ngôn ngữ trong lĩnh vực giao tiếp
một hoạt động thờng xuyên phải tổ chức các câu thành những đơn vị lớn hơn.
Đó chính là văn bản.
Sự quan tâm và mở rộng nghiên cứu ngôn ngữ ở lĩnh vực trên câu đã
biểu hiện rõ rệt trong thời gian từ những năm năm mơi trở lại đây, ở nớc ta thì
NPVB là một bộ môn mới trong ngôn ngữ học, Sự ra đời của nó là do
những nhu cầu của thực tiễn đòi hỏi và những kết quả tất yếu của sự vận động
nội tại trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ. Những vấn đề lí thuyết mà NPVB đặt
ra và các kết quả nghiên cứu mà nó thu đợc đã có sức cuốn hút sự chú ý đông
đảo của các nhà giáo.
13
Lí thuyết NPVB ra đời và đã đợc Bộ Giáo dục đa vào chơng trình bồi
dỡng thờng xuyên chu kì 1992 1996, 1997 2000. Từ đây lí thuyết
NPVB đợc đa vào áp dụng trong việc giảng dạy phân môn Tập làm văn của
nhà trờng tiểu học. Sự ra đời của lí thuyết NPVB với việc mở rộng đối tợng
nghiên cứu (cả văn bản nghệ thuật và văn bản phi nghệ thuật) đã giúp chúng ta
thoát khỏi những lúng túng trong việc giảng dạy phân môn Tập làm văn.
Nhữmg vấn đề mà lí thuyết này đặt ra tuy có mới mẻ nhng không phải là hoàn
toàn xa lạ với GV và HS. Có điều, những vấn đó đã trở lại với chúng ta một
cách hệ thống, đầy đủ, có lí luận và chính xác hơn.
Chơng trình phân môn Tập làm văn năm 2000 nhìn chung đã vận dụng
những thành tựu hệ thống các kiến thức của lí thuyết NPVB một cách tơng đối
triệt để. HS đợc làm quen với nhiều thể loại văn bản khác nhau nh: miêu tả, kể
chuyện, viết th và đặc biệt là các loại văn bản thông thờng (Đơn từ, lập kế
hoạch, bu thiếp, thời khoá biểu). Bên cạnh đó các em cũng đ ợc học về kết
cấu của một văn bản (mở bài, thân bài, kết bài), cách xây dựng một đoạn văn
(đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn có câu chủ đề), cách liên kết các câu trong
văn bản (phép lặp, phép thế, phép nối), quy trình sản sinh văn bản và các kĩ
năng tơng ứng Việc xây dựng chơng trình theo quan điểm này đã tạo nhiều
điều kiện thuận lợi cho GV và HS trong quá trình dạy học phân môn.
1.1.2. Văn bản
1.1.2.1. Khái niệm văn bản.
1.1.2.2. Đặc trng của văn bản
Văn bản bao gồm nhiều đặc trng, nhng đặc trng cơ bản nhất cơ bản nhất
đó là tính chỉnh thể. Tính chỉnh thể này biểu lộ qua một số phơng diện sau:
- Mỗi văn bản tập trung vào việc thể hiện một chủ đề. Chủ đề này có
thể đợc phát triển qua một số chủ đề bộ phận, nhng toàn văn bản luôn đảm
bảo tính nhất quán về chủ đề.
- Mỗi văn bản thờng trình bày trọn vẹn một nội dung thông báo. Tất
nhiên tính trọn vẹn này có nhiều mức độ khác nhau, nhng văn bản thờng đạt đến
một mức độ trọn vẹn nhất so với các đơn vị thấp hơn nó (câu, đoạn văn).
- Tính nhất quán về chủ đề và tính trọn vẹn về nội dung khiến cho
mỗi văn bản dễ dàng đợc gọi tên bằng một tiêu đề hoặc có thể dễ dàng đặt cho
mỗi văn bản một tiêu đề,
15
- Mỗi văn bản có một tổ chức kết cấu bên trong chặt chẽ. Đó không
phải là một tập hợp hỗn độn của các câu. Các câu có quan hệ qua lại chặt chẽ
và chiếm giữ một vị trí nhất thích hợp trong văn bản. Các mối liên hệ này tạo
nên kết cấu của một văn bản. Đó là kết cấu của một chỉnh thể.
1.1.2.3. Kết cấu của văn bản
Kết cấu của văn bản là kết quả của việc sắp đặt, tổ chức các bộ phận
ngôn từ có nghĩa của văn bản theo một cấu trúc nhất định. Kết cấu của văn
bản là yếu tố quy định tính chất của văn bản cũng nh phong cách của kiểu loại
và phong cách của ngời tạo lập văn bản. Một kết cấu văn bản ở dạng đầy đủ nhất,
thờng dùng gồm có bốn phần: Tiêu đề, phần mở đầu, phần chính, phần kết.
a. Tiêu đề
Việc đặt tiêu đề cho một văn bản ngày nay đã trở thành một nghệ
thuật phức tạp mà yếu tố chi phối là mục đích sử dụng văn bản. Có nhiều loại
tiêu đề khác nhau:
Đây là phần tóm lợc, tổng kết, khái quát hoá và nâng cao nội dung đã
đợc đề cập ở phần thân. Phần kết cũng có khi gợi mở ra hớng giải quyết tiếp
vấn đề, hoặc nêu những cảm nghĩ, những bài học bổ ích đợc rút ra từ những
vấn đề mà nội dung trình bày.
Phần kết cũng là phần chấm khép lại văn bản, làm cho văn bản măng
tính hoàn chỉnh.
Có hai loại kết thờng gặp đó là kết đóng và kết mở.
- Kết đóng: Là sự kết thúc có tóm tắt nội dung chính, hoặc kiểu kết
thúc đồng thời và giải quyết trọn vẹn các bố cục, có kết quả, có nêu nhận xét,
cảm tởng. Loại kết này thờng dùng cho văn bản khoa học, văn bản chính luận,
văn bản hành chính
- Kết mở: Là lối kết mà nội dung, vấn đề còn đang gợi mở, tình tiết
câu chuyện cha có kết quả cuối cùng Nó có sức khơi gợi để ng ời đọc tự suy
nghĩ, rút ra những kết luận nào đó. Các loại văn bản nghệ thuật nhất là văn
bản có hàm ngôn, các văn bản ngắn ngời viết có thể sử dụng loại kết này.
Ngoài dạng đầy đủ nh vậy, còn có những loại văn bản có kết cấu không
đủ các thành phần. Có văn bản chỉ có phần mở đầu và phần chính, có văn bản
chỉ có phần chính và phần kết, lại có văn bản chỉ có phần chính. Còn tiêu đề
của văn bản cũng có thể có, có thể không. Song tối thiểu nhất văn bản cũng
17
phải có phần chính; chẳng hạn nh các câu tục ngữ, ca dao, các thông báo ngắn
trên báo, một bức điện
Ví dụ:
Có công mài sắt có ngày nên kim.
(Tục ngữ)
1.1.2.4. Các giai đoạn sản sinh văn bản
Theo lí thuyết NPVB quy trình sản sinh một văn bản liên kết gồm bốn
vọng, ớc muốnđể từ đó ngời phát lựa chọn cách thức tổ chức, thể hiện các kiến
thức kĩ năng tạo lập văn bản: lựa chọn ngôn từ, chi tiết, hình ảnh, dùng từ, đặt câu,
dựng đoạn, bài theo một kiểu nhất định để đạt đợc đích giao tiếp đặt ra.
- Cách thức trình bày: Đây chính là yêu cầu gợi ý về việc lựa chọn
thể loại văn bản.
b. Giai đoạn lập đề cơng (hay làm dàn bài, dàn ý)
Đề cơng của văn bản bao gồm nhiều ý chính, luận điểm cơ bản cùng
với những luận cứ cần thiết, nghĩa là những điều cốt yếu trong văn bản. Nhiệm
vụ của ngời tạo tập văn bản là phải sắp xếp các ý chính, luận điểm, luận cứ
thành bộ khung cho văn bản. Đề cơng chính là cơ sở cho việc tiến tới cho việc
sản sinh một văn bản hoàn chỉnh.
Đề cơng văn bản bao gồm hai loại:
- Đề cơng sơ lợc: Nêu lên nội dung cơ bản của các phần, các chơng,
các mục thông qua tên gọi của chúng.
- Đề cơng chi tiết: Đề cơng chi tiết không những chỉ có những ý lớn,
những luận điểm cơ bản mà còn có các ý nhỏ, các dẫn chứng cụ thể. Loại đề
cơng này thể hiện khá đầy đủ nội dung của văn bản.
c. Giai đoạn thực hiện văn bản
Từ đề cơng đã có ngời viết chuyển hoá thành văn bản. Vì vậy sau giai đoạn
định hớng và lập đề cơng là giai đoạn hoàn chỉnh văn bản. Tuy nhiên để viết đợc
một văn bản hoàn chỉnh, ngời viết phải trải qua các giai đoạn luyện tập công phu
về khả năng dùng từ đặt câu, dựng đoạn, tách đoạn, dùng các phơng tiện liên kết
sao cho phù hợp và cuối cùng tiến lên viết một văn bản hoàn chỉnh.
d. Giai đoạn kiểm tra văn bản
Việc kiểm tra văn bản nhằm xem xét lại văn bản đã tạo ra đợc có phù
hợp với các bớc đã thực hiện hay không. Nếu sai sót cần điều chỉnh lại.
19
20
Có ý kiến lại cho rằng: Đoạn văn là một phần của văn bản nằm giữa hai
chỗ xuống dòng. Nếu theo quan niệm này thì khái niệm đoạn văn đang còn rất
chung chung, cha đợc định hình cụ thể.
ở đây, chúng tôi thống nhất hiểu khái niệm về đoạn văn theo quan
điểm của tác giả Phan Mậu Cảnh: Đoạn văn là một bộ phận của văn bản do
câu tạo thành theo một cấu trúc nhất định, đợc tách ra một cách hoàn chỉnh,
rõ ràng về mặt hình thức. [9. 117]
- Về mặt nội dung: Đoạn văn có thể hoàn chỉnh hoặc không hoàn
chỉnh. Khi đoạn văn hoàn chỉnh về mặt nội dung thì mỗi đoạn văn sẽ là đoạn
ý, còn khi đoạn văn không hoàn chỉnh về mặt nội dung thì mỗi đoạn văn sẽ là
một đoạn lời. Đoạn ý là loại đoạn đợc sử dụng nhiều nhất trong quá trình dạy
học Tập làm văn ở bậc tiểu học.
- Về mặt hình thức: Đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Những dấu hiệu
dễ nhận thấy của tính hoàn chỉnh là: lùi đầu dòng, viết hoa, dấu kết đoạn
Đây là những dấu hiệu cần thiết giúp chúng ta nhận diện chính xác đoạn văn
trong mọi trờng hợp.
Ví dụ:
Em bé mới mời tuổi. Bữa cơm, bé nhờng hết thức ăn cho em. Hàng
ngày, Bé đi câu cá bống về băm sả, hoặc đi lợm vỏ đạn giặc ở ngoài gò về cho
mẹ. Thấy cái thau, cái vung rỉ ngời ta vứt, Bé đem về cho ông Mời quân giới.
Những hôm mẹ đi đánh bốt, bé thờng leo lên cây dừa để ngóng tin.
Hôm nay gió ngoài sông Hậu vẫn thổi vào lồng lộng. Nắng lên làm cho
trời cao và trong xanh. Bé lại leo lên cây dừa. Đứng trên đó, Bé trông thấy con
đò, xóm chợ, rặng trâm bầu, cả những nơi mà ba má bé đang đánh giặc.
(Nguyễn Thi)
Phần trích trên gồm có ba đoạn văn. Đoạn một có nội dung giới thiệu
cho việc dựng đoạn, sản sinh văn bản mà còn giúp cho việc đọc và tiếp nhận
văn bản một cách dễ dàng.
1.1.3.3. Các loại đoạn văn
Đoạn văn đợc phân loại theo những tiêu chí khác nhau. Ngời ta có thể
phân loại đoạn văn theo kết cấu, theo nội dung, theo câu chủ đề ở đây
chúng tôi thống nhất phân loại đoạn văn theo kết cấu. Bao gồm:
22
a. Đoạn diễn dịch: Là đoạn văn có câu (hoặc một số câu) chứa đựng
nội dung thông tin khái quát đứng ở vị trí đầu đoạn, các câu còn lại mang ý
nghĩa cụ thể, minh hoạ.
Ví dụ:
Thiên nhiên hạ Long chẳng những kì vĩ mà còn duyên dáng. Nét duyên dáng
của Hạ long chính là cái tơi mát của sóng nớc, cái rạng rỡ của đất trời. Sóng nớc của
Hạ Long quanh năm trong xanh. Đất trời Hạ Long bốn mùa sáng nắng. Bốn mùa
của Hạ Long mang trên mình một màu xanh đằm thắm: Xanh biếc của biển,
xanh lam của núi, xanh lục của trời. Màu xanh ấy nh trờng cửu, lúc nào cũng
bát ngát, cũng trẻ trung, cũng phơi phới.
(Vịnh Hạ Long, TV 5 - tập 1, tr 70)
b. Đoạn quy nạp: Là đoạn văn có cấu trúc ngợc lại với đoạn diễn dịch.
Các câu diễn đạt ý cụ thể đứng trớc, câu (hoặc một số câu) mang nội dung
thông tin khái quát đứng ở vị trí cuối đoạn.
Ví dụ:
Hồ Chủ Tịch nói: Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là
làm sao cho nớc ta hoàn toàn đợc độc lập, nhân dân ta hoàn toàn đợc tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng đợc học hành. Nguyện vọng đó
chi phối mọi ý nghĩ và hành động trong suốt cuộc đời của Ngời.
(Theo Trờng Chinh)
có nhiều đoạn văn phối hợp những kết cấu trên. Thờng gặp là sự phối hợp giữa
kết cấu diễn dịch và kết cấu song song: Câu đầu của đoạn nêu ý khái quát,
các câu sau cụ thể ý khái quát này nhng phát triển nó một cách song song ở
các phơng diện khác nhau.
Ví dụ:
Chợ Hòn Gai buổi sáng la liệt tôm cá. Những con tôm khoẻ, vớt lên
hàng giờ vẫn giãy đành đạch, vảy xám hoa đen lốm đốm. Những con cá chim
mình dẹt nh hình con chim lúc sải cánh bay, thịt ngon vào loại nhất nhì.
Những con cá nhụ béo núc, trắng lốp, bóng mợt nh đợc quét một lớp mỡ ngoài
vậy. Những con cá song tròn, thịt căng lên từng ngấn nh cổ tay của trẻ lên ba,
da xanh ánh, hàng chân choi choi nh muốn bơi.
(Theo Thi Sảnh)
24
Cũng có những loại đoạn văn kết hợp kết cấu song song với kết cấu
quy nạp: Các câu đầu đoạn biểu hiện ý cụ thể và phát triển chúng song song
với nhau, câu cuối cùng nâng lên thành ý khái quát.
Ví dụ:
Làng xóm ta xa kia lam lũ quanh năm đói rách. Làng xóm ngày nay
bốn mùa nhộn nhịp cảch làm ăn tập thể. Đâu đâu cũng có trờng học, nhà gửi
trẻ, nhà hộ sinh, câu lạc bộ, sân và kho của hợp tác xã, nhà mới của xã viên.
Đời sống vật chất ngày càng ấm no, đời sống tinh thần ngày càng tiến bộ.
(Hồ Chí Minh)
Bên cạnh đó cũng có những đoạn văn phối hợp cấu trúc diễn dịch với
cấu trúc quy nạp, kết quả là các câu văn trong đoạn phát triển tiểu chủ đề của
đoạn theo hớng tổng phân hợp.
Ví dụ:
Ông tôi vốn là thợ gò hàn loại giỏi. Có lần, chính mắt tôi đã trông thấy
1.1.3.5. Liên kết đoạn văn
Các đoạn văn trong văn bản thể hiện sự liên kết với nhau nhờ các phơng tiện thuộc các phơng thức nhất định. Các phơng tiện này có thể chính là
các phơng tiện liên kết các câu trong đoạn, có thể là các phơng tiện chuyên
dùng để liên kết các đoạn trong văn bản. Các phơng tiện này có thể nằm ở câu
giáp ranh giữa các đoạn, cũng có thể nằm ở các câu mở đoạn của các đoạn.
Ngoài ra để liên kết đoạn trong văn bản ngời ta cũng có thể dùng các kí hiệu
riêng để liên kết.
a. Các phơng tiện nằm ở các câu giáp ranh
- Lặp từ ngữ
Ví dụ :
Ước mơ muôn thuở của con ngời hèn mọn đã trở thành hiện thực.
Xét trong hoàn cảnh lịch sử lúc bất giờ- cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ
XIX- ớc mơ ấy là biểu hiện của cuộc sống vùng lên mãnh liệt của nhân dân.
(Lê Trí Viễn)
- Thế bằng đại từ (kết hợp với lặp từ ngữ
Ví dụ :
Nghệ thuật phản ánh đời sống và phục vụ đời sống. Thoát li đời
sống, nghệ thuật nhất định khô héo.