LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất của
mình tới cô Dương Thị Mỹ Hằng, người đã hướng dẫn tận tình và thường
xuyên động viên em trong quá trình hoàn thành đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Phương pháp dạy
học Ngữ văn, khoa Ngữ văn đã tạo điều kiện và đóng góp ý kiến để em hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp.
Do thời gian và khuôn khổ cho phép của đề tài còn nhiều hạn chế nên
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến và tiếp tục xây dựng đề tài của quý thầy cô và các bạn để khóa
luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội ngày 19 tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Vũ Thị Thanh Hòa
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận là kết quả nghiên cứu của riêng tôi và có sự
hướng dẫn tận tình của cô Dương Thị Mỹ Hằng.
Khóa luận với đề tài: “Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một
số biện pháp tu từ cho học sinh THPT”. Khóa luận chưa từng được công bố
trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
Hà Nội ngày 19 tháng 5 năm2013.
1.2.1 Khảo sát về nội dung dạy học một số biện pháp tu từ trong SGK Ngữ
văn THPT. .................................................................................................. 20
1.2.2 Thực trạng dạy học của giáo viên. ..................................................... 21
1.2.3 Thực trạng học tập của học sinh. ....................................................... 22
3
1.2.4 Đánh giá chung về thực trạng. .......................................................... 23
CHƯƠNG 2. HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SỬ DỤNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TU TỪ CHO HỌC SINH THPT. ........................ 25
2.1 Nguyên tắc chung đối với việc xây dựng hệ thống bài tập. ............... 25
2.1.1 Nguyên tắc khoa học. ......................................................................... 25
2.1.2 Nguyên tắc hệ thống và phát triển...................................................... 26
2.1.3 Nguyên tắc vừa sức. .......................................................................... 27
2.1.4 Nguyên tắc tích hợp. ........................................................................... 28
2.2 Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một số biện pháp tu từ
cho học sinh THPT. .................................................................................... 30
2.2.1 Giới thiệu khái quát hệ thống bài tập. ................................................ 30
2.2.2 Hệ thống bài tập. ................................................................................ 32
2.2.2.1 Bài tập nhận diện ............................................................................. 32
2.2.2.2 Bài tập tái hiện. ................................................................................ 37
2.2.2.3 Bài tập phân tích đánh giá hiệu quả của một số biện pháp tu từ trong
văn bản......................................................................................................... 40
2.2.2.4 Bài tập tạo lập. ................................................................................. 45
2.2.2.5 Bài tập chữa lỗi. ............................................................................... 49
2.2.3 Phương hướng vận dụng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử
dụng một số biện pháp tu từ cho học sinh THPT. ...................................... 54
2.2.3.1 Phương hướng vận dụng hệ thống BTRKN sử dụng một số biện
pháp tu từ trong dạy đọc hiểu văn bản ở THPT. ........................................... 54
khác, Tiếng Việt là một công cụ giao tiếp và tư duy nên môn Tiếng Việt còn
đảm nhận thêm một chức năng kép mà các môn học khác không có. Đó là
chức năng trang bị cho học sinh công cụ để giao tiếp: Tiếp nhận và diễn đạt
mọi kiến thức khoa học của nhà trường. Có thể thấy mục tiêu của dạy học
tiếng Việt là chú trọng tới việc rèn luyện kĩ năng giao tiếp cho học sinh.
Những kĩ năng đó chỉ được hình thành thông qua hành động, mà hình thức để
thực hiện hành động đó chính là việc luyện tập thông qua các bài tập. Các bài
tập Tiếng Việt là một phương tiện có hiệu quả không thể thay thế được trong
việc giúp học sinh có năng lực ngôn ngữ, phát triển tư duy. Hoạt động cho
học sinh giải các bài tập Tiếng Việt là một điều kiện để thực hiện tốt các mục
đích dạy học tiếng Việt. Việc tổ chức tốt các hoạt động thực hành bằng bài tập
là một yêu cầu để nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt hiện nay.
Trong hoạt động giao tiếp, con người luôn trăn trở nói viết như thế nào
để đạt được hiệu quả giao tiếp cao. Khi ngành phong cách học ra đời đã đem
lại những hiểu biết nhất định về việc lựa chọn lời nói sao cho đạt được hiệu
quả thực tiễn. Theo lí luận mà phong cách học đã xây dựng, các biện pháp tu
từ có vai trò không nhỏ trong việc biểu đạt sắc thái tu từ của các phương tiện
ngôn ngữ. Trong nhà trường các biện pháp tu từ được đưa vào giảng dạy từ
bậc Tiểu học với một số biện pháp như so sánh, nhân hóa. Lên đến Trung học
cơ sở (THCS) học sinh tiếp tục được làm quen thêm một số biện pháp tu từ
6
như ẩn dụ, hoán dụ, liệt kê, điệp ngữ… Tới bậc Trung học phổ thông (THPT)
học sinh được củng cố, ôn lại những kiến thức lí thuyết về biên pháp tu từ
thông qua hệ thống bài tập luyện tập thực hành. Những bài tập này không chỉ
khắc sâu những kiến thức cũ mà còn được nâng cao phù hợp với trình độ tiếp
nhận của học sinh. Việc dạy các biện pháp tu từ cho học sinh có vai trò vô
cùng quan trọng, nó góp phần giúp học sinh đạt tới hiệu quả diễn đạt hay,
vit vn. Các em c học một số các biện pháp tu từ (so sánh, nhân hoá, điệp
ngữ, nói quá, ẩn dụ, hoán dụ, tơng phản, chơi chữ) t THCS. Từ việc nắm bắt
lý thuyết đến vận dụng trong từng bài tập cụ thể học sinh có thể phát hiện và
phân tích biện pháp tu từ, từ đó các em vận dụng vào việc cảm thụ tác phẩm
Văn học. Cỏc bin phỏp tu t cú vai trũ quan trng trong vic giỳp hc sinh
phõn tớch cỏc tỏc phm Vn hc, c bit l cỏc tỏc phm tr tỡnh v rốn luyn
kh nng lm vn ca hc sinh. Th nhng nu ch tớnh riờng nhng bi
nghiờn cu, nhng ti liu dy hc v bin phỏp tu t thỡ vn cha thc s
phong phỳ, a dng. Vỡ vy, nhỡn li lch s vn ny cho ta cỏi nhỡn ton
din hn v vic dy hc bin phỏp tu t trong nh trng hin nay.
Vic dy hc bin phỏp tu t trong nh trng ph thụng l vn
c nhiu nh lớ lun, nh s phm nghiờn cu. Tiờu biu nh tỏc gi inh
Trng Lc vi cun Tu t hc vi vn ging dy Ng vn. Vi cụng
trỡnh nghiờn cu ny tỏc gi ó a ra nhng vn lớ thuyt chung nht v tu
t hc cng nh vai trũ tỏc dng ca nú trong vic ging dy Ng vn trong
nh trng. Th nhng cun sỏch ny vn ch dng li nhng vn lớ
thuyt chung trong ging dy ch cha cú s o sõu thụng qua luyn tp
thc hnh.
Trong cun Phng tin v bin phỏp tu t v Vn nhn nh,
phõn loi v miờu t cỏc phng tin tu t v cỏc bin phỏp tu t Tp chớ
ngụn ng s 4/1992 vn ca tỏc gi trờn cng ó phn ỏnh nhng c gng
tỡm tũi v mt lớ thuyt cng nh v mt ng dng. Th nhng nhng cụng
8
trình nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở những vấn đề lí thuyết chung và cơ
bản nhất chứ chưa đi sâu vào hoạt động thực hành luyện tập. Đó mới chỉ là
những nhận định ban đầu của các tác giả trong việc nghiên cứu và phân loại
các biện pháp tu từ chứ chưa đưa ra hệ thống bài tập cụ thể để luyện tập thực
phổ thông. Bởi vậy, vấn đề mà khóa luận nghiên cứu là một vấn đề mới có sự
kế thừa từ những công trình nghiên cứu đã có nhưng vẫn còn bỏ ngỏ. Ứng
dụng lí thuyết vào việc rèn luyện kĩ năng sử dụng các biện pháp tu từ cho học
sinh là việc làm thiết thực, bổ ích giúp người nghiên cứu, giảng dạy nhận thức
sâu sắc hơn về dạy một số biện pháp tu từ trong chương trình môn Ngữ văn
nói chung và chương trình môn Ngữ văn ở trường THPT nói riêng.
Trong sách giáo khoa (SGK), sách giáo viên (SGV) từ bậc Tiểu học
đến bậc THCS và THPT các tác giả biên soạn cũng đã đưa một số biện pháp
tu từ tiêu biểu vào trong dạy học tiếng Việt cho học sinh. Trong các cuốn
SGK mà học sinh được học từ Tiểu học đến THPT đã bắt đầu có sự đầu tư tiết
học về biện pháp tu từ nhưng chủ yếu dừng lại nhiều ở lí thuyết, số lượng bài
tập đưa ra vẫn còn chưa thực sự phong phú với nhiều kiểu, dạng khác nhau.
Đa số bài tập chỉ dừng lại ở nhận biết đơn giản, chưa có nhiều bài tập phân
tích, tạo lập và chữa lỗi.
3. Mục đích nghiên cứu.
Thực hiện đề tài này chúng tôi muốn giải quyết một trong những vấn đề
trọng tâm của việc dạy học tiếng Việt hiện nay đó là xây dựng hệ thống bài
tập Tiếng Việt, tổ chức luyện tập thực hành rèn luyện kĩ năng sử dụng biện
pháp tu từ cho học sinh qua một số bài tập. Nhờ đó nâng cao chất lượng dạy
học về tiếng Việt nói chung và dạy học về các biện pháp tu từ nói riêng.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu.
Khóa luận có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề cơ bản như hệ thống
hóa cơ sở lí luận với những vấn đề lí thuyết chung nhất về biện pháp tu từ
cũng như sự hình thành kĩ năng qua hệ thống bài tập. Khóa luận còn nghiên
10
cứu cở sở thực tiễn của đề tài qua việc khảo sát hệ thống bài tập trong SGK
Ngữ văn THPT, khảo sát thực trạng dạy học của giáo viên và tình hình học
ở phạm vi tổ chức dạy thể nghiệm giáo án đề xuất trong sự đối chứng với các
giáo án thông thường để kiểm nghiệm khả năng ứng dụng và tính hiệu quả
của việc xây dựng các hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng một số biện
pháp tu từ cho học sinh THPT.
7.4 Phương pháp thống kê.
Được sử dụng để xử lí các số liệu thu thập trong quá trình khảo sát,
thực nghiệm bổ trợ cho phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm đạt tới những
kết luận chính xác, khách quan.
8. Dự kiến đóng góp của khóa luận.
Xét về phương diện khoa học: Khóa luận góp thêm một tiếng nói trong
việc xây dựng nên một hệ thống bài tập khoa học về biện pháp tu từ từ đơn
giản đến phức tạp. Nếu xây dựng được một hệ thống bài tập phù hợp với mục
tiêu dạy học và nội dung kiến thức Ngữ văn về biện pháp tu từ, cũng như đề
ra cách hướng dẫn học sinh giải quyết những bài tập đó một cách đúng đắn có
thể phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.
Xét về phương diện thực tiễn: Vận dụng tốt các kĩ năng rèn luyện bài
tập về tu từ học cho học sinh thì sẽ kích thích học sinh học tập Tiếng Việt tích
cực, sáng tạo góp phần nâng cao năng lực giao tiếp của học sinh, đổi mới
phương pháp dạy học của giáo viên. Giúp học sinh sử dụng tiếng Việt có hiệu
quả trong việc tạo lập văn bản nói và viết. Góp phần nâng cao hiệu quả dạy và
học Tiếng Việt trong trường THPT hiện nay.
9. Kết cấu của khóa luận.
Gồm 3 phần:
Phần I. Mở đầu. Phần này trình bày những vấn đề khái quát về đề tài
nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, nêu rõ lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề,
phương pháp nghiên cứu.
12
dụng những kiến thức thu nhận được vào thực tế. Kĩ năng là khả năng vận
dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp…) để giải quyết một
nhiệm vụ mới. Mỗi tác giả đưa ra một cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng.
Tuy nhiên tựu chung lại, các quan điểm trên về cơ bản là thống nhất. Tổng kết
các quan niệm của tác giả, chúng ta đi đến cách hiểu “Kĩ năng là khả năng
thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa
chọn và vận dụng những kiến thức đã có để giải quyết một nhiệm vụ, thực
hiện một công việc nào đó ở cấp độ tiêu chuẩn xác định” [11, tr.90]. Khi xem
xét kĩ năng cần lưu ý một số điểm sau:
- Kĩ năng bao giờ cũng gắn với một hành động cụ thể nào đó và được
xem như một đặc điểm của hành động. Kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động.
Không có kĩ năng chung chung hay nói cách khác kĩ năng không phải là một
hiện tượng tự thân mà nó luôn luôn gắn với một hành động cụ thể.
- Bất cứ kĩ năng nào cũng phải dựa trên cơ sở lí thuyết. Cơ sở lí thuyết
đó chính là kiến thức. Kĩ năng chỉ có được khi con người biết vận dụng kiến
14
thức vào trong thực tiễn một cách có kết quả. Ngược lại, kĩ năng được hình
thành vững chắc sẽ làm cho việc ghi nhớ kiến thức vững vàng và sâu sắc hơn.
- Bên cạnh đó tính đúng đắn, sự thành thục, linh hoạt cũng là một tiêu
chuẩn quan trọng để xác định sự hình thành và phát triển của kĩ năng.
- Kĩ năng là cái không phải sinh ra đã có của mỗi người, nó là sản phẩm
của hoạt động thực tiễn, là kết quả của một quá trình hành động mà nên.
* Kĩ xảo: Mọi hành động của con người là hành động có ý thức. Cho
nên mục đích và hành động được ý thức ngay từ đầu. Nhưng không phải mọi
lúc và mọi khâu của hành động, ý thức bao giờ cũng có mặt. Cho nên trong
một chuỗi hành động, có những khâu, những phần không có hoặc có ít sự
tham gia của ý thức. Thành phần tự động hóa đó là kĩ xảo.Vậy kĩ xảo là hành
chết cứng và không biến thành cơ sở kĩ năng. Muốn kiến thức là cơ sở của kĩ
năng thì kiến thức phải phản ánh đầy đủ thuộc tính của bản chất, được thử
thách trong thực tế và tồn tại trong ý thức với tư cách là công cụ của hành
động các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kĩ năng.
Quá trình hình thành kĩ năng có nhiều ý kiến khác nhau. Một số nhà
tâm lí học như V.A Crechet xki, Phạm Minh Học, N.D Leevitor,
A.V.Petropxki, Trần Quốc Thành…cho rằng quá trình hình thành kĩ năng
hành động gồm ba bước:
Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện hành động.
Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu
Bước 3: Luyện tập để tiến hành các hành động theo đúng yêu cầu, điều
kiện hành động nhằm đạt được mục đích đặt ra.
Theo các tác giả này, việc nhận thức mục đích và cách thức, điều kiện
hành động là quan trọng nhất. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở bước này thì chưa có
kĩ năng vì nó chỉ thể hiện ở mặt lí thuyết, tri thức về hành động chứ chưa có
mặt kĩ thuật, thao tác thực tiễn của hành động để đạt mục đích đề ra. Giai
đoạn làm thử theo mẫu cũng không kém phần quan trọng. Ở giai đoạn này,
16
con người một mặt thực hiện các thao tác theo mẫu để hình thành kĩ năng,
một mặt con người đối chiếu với tri thức về hành động và điều chỉnh các thao
tác hành động nhằm đạt kết quả, giảm bớt những sai sót trong quá trình hành
động. Sau khi làm thử để nắm vững cách thức hành động, người ta phải tiến
hành luyện tập để hoàn thiện kĩ năng. Ở giai đoạn này các tri thức về hành
động được củng cố nhiều hơn, các tri thức hành động cũng được ôn luyện có
hệ thống làm cho người ta nắm chắc hành động hơn. Đến đây có thể nói kĩ
năng được hình thành. Tuy nhiên đến đây kĩ năng vẫn chưa ổn định. Kĩ năng
chỉ thực sự ổn định khi người ta hành động có kết quả trong những điều kiện
(Tố Hữu)
Những khuôn vần nối tiếp ang...ang...ang miêu tả một mùa đông kéo
dài, quá dài, chậm chạp trôi đi không muốn dứt hẳn.
Biện pháp điệp thanh: Trong thơ đường luật, lục bát thì luật phối thanh
được quy định chặt chẽ tạo ra sự cân đối trong câu thơ. Còn trong thơ mới,
thơ hiện đại, thơ lục bát biến thể người ta có thể linh hoạt sử dụng thanh điệu
để tạo nên hiệu quả tu từ.
Ví dụ:
“Chân trời lui mãi lan lan rộng
Hi vọng tràn lên đồng mênh mông”
(Tố Hữu)
Sử dụng nhiều thanh bằng làm hiện lên một không gian bát ngát mở ra
trước mắt người tù vừa vượt ngục và một niềm hi vọng bao la tràn lên theo
chân trời đó. Sử dụng 6 thanh bằng ở dòng thứ 2 chính là một thủ pháp gợi
hình ảnh và truyền cảm xúc cho người đọc.
1.1.2.2 Một số biện pháp tu từ từ vựng.
Biện pháp so sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này
đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào
18
đó để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của
người đọc, người nghe [10, tr.189]. Về hình thức, bao giờ cũng có hai vế là vế
so sánh và vế được so sánh. Về nội dung, các đối tượng nằm trong hai vế là
khác loại nhưng lại có nét tương đồng nào đó, tạo thành cơ sở cho so sánh tu
từ: So sánh tu từ có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm. Biện pháp tu từ
này cũng được vận dụng rộng rãi trong nhiều phong cách khác nhau như khẩu
ngữ, chính luận, thông tấn, nghệ thuật.
Ví dụ:
tượng này thay cho đối tượng khác khi hai đối tượng có một nét nghĩa tương
đồng nào đó [10, tr.194]. Về hình thức, ẩn dụ chỉ phô bày một đối tượng – đối
tượng dùng để biểu thị, còn đối tượng định nói đến được biểu thị thì dấu đi,
ẩn đi không phô bày ra như so sánh tu từ. Về nội dung, ẩn dụ tu từ giống như
so sánh tu từ (do đó người ta gọi là so sánh ngầm). Nghĩa là cần phải liên
tưởng rút ra nét tương đồng giữa hai đối tượng. Ẩn dụ tu từ có hai chức năng
là biểu cảm và nhận thức. Các dạng thể hiện của ẩn dụ có: Ẩn dụ phẩm chất,
ẩn dụ cách thức, ẩn dụ hình thức, ẩn dụ chức năng, ẩn dụ chuyển đổi cảm
giác...
Ví dụ ẩn dụ hình thức: “Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông”, tác giả
dùng lửa để liên tưởng đến hoa lựu vì cả lửa và hoa lựu đều có màu đỏ.
Biện pháp hoán dụ theo tác giả Đinh Trọng Lạc thì đó là phương thức
chuyển nghĩa bằng cách dùng một đặc điểm hay một nét tiêu biểu nào đó của
một đối tượng để gọi tên chính đối tượng đó [10, tr.203].
Phân loại : Hoán dụ có dùng dấu hiệu để chỉ vật có dấu hiệu, dùng vật
chứa để chỉ vật bị chứa, dùng bộ phận để chỉ toàn bộ, dùng số lượng xác định
để biểu thị số lượng không xác định, dùng tên riêng để biểu thị tên chung và
ngược lại...
Ví dụ :
“Mồ hôi mà đổ xuống đồng
Lúa mọc trùng trùng sáng cả đồi nương”
( Ca dao)
Dùng dấu hiệu để chỉ vật có dấu hiệu: Hình ảnh mồ hôi để liên tưởng
tới hoạt động lao động vất vả của con người.
Về hình thức : Giống ẩn dụ tu từ, hoán dụ tu từ chỉ có một vế biểu hiện,
vế được biểu hiện không phô ra. Về nội dung: Nếu ẩn dụ dựa trên quan hệ
liên tưởng về nét tương đồng thì hoán dụ dựa vào mối quan hệ có thực, quan
hình thức ẩn dụ hay hoán dụ tu từ.
Ví dụ:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
(Tây Tiến - Quang Dũng)
21
Biện pháp tu từ này thường được dùng để nói về cái chết.
Nói giảm có chức năng nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này được
dùng nhiều trong các PC: Khẩu ngữ, văn chương, chính luận...
Chơi chữ : Là biện pháp tu từ dựa trên sự vận dụng linh hoạt tiềm năng
về ngữ âm, chữ viết, từ vựng, ngữ pháp tiếng Việt để tạo nên phần tin mới,
bất ngờ, khác loại với phần tin cơ sở và song song tồn tại với phần tin cơ sở,
nhằm gây tác dụng châm biếm, đả kích hoặc đùa vui.
Tác dụng chính của chơi chữ là tạo ra những liên tưởng bất ngờ, kích
thích tình cảm và trí tuệ con người. Nó mang cả hai chức năng nhận thức và
tình cảm. Nó được dùng trong lời nói và sinh hoạt hằng ngày, lời nói chính
luận, đặc biệt trong văn thơ. Nó thường được dùng trong phong cách như:
Khẩu ngữ, chính luận, văn chương.
Ví dụ:
“Con công đi chùa làng kênh
Nó nghe tiếng cồng nó kềnh cổ lại.”
(Ca dao)
Biện pháp cường điệu (nói quá) là biện pháp tu từ dùng sự cường điệu
quy mô, tính chất, mức độ,... của đối tượng được miêu tả so với cách biểu
hiện bình thường nhằm mục đích nhấn mạnh vào một bản chất nào đó của đối
Ví dụ : “Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền đã lâu ngày, không có
mặc thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho cơm ; quan nhỏ thì ta thăng chức,
lương ít thì ta cấp bổng ; đi thủy thì ta cho tiền, đi bộ thì ta cho ngựa ; lúc
trận mạc xông pha thì cùng nhau sống chết, lúc ở nhà nhàn hạ thì cùng nhau
vui cười. Cách đối đãi so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày
trước cũng chẳng kém gì”.
( Hịch tướng sĩ – Trần Quốc Tuấn)
23
Đảo trật tự cú pháp là biện pháp thay đổi các trật tự thông thường
của các thành phần ở trong câu, các thành tố trong cụm từ nhằm tăng cường
nhấn mạnh nội dung thông báo, tạo sắc thái biểu cảm cho lời văn, lời thơ.
Phân loại có đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ, đảo trong câu ghép chính
phụ, đảo trong cụm động từ, đảo trong cụm tính từ, đảo trong cụm danh từ…
Ví dụ: Đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ
“Đã ngừng đập một trái tim
Đã ngừng đập một trái tim đại bàng.”
Biện pháp tách câu là tách một bộ phận của câu ra khỏi câu chứa nó
và biến nó thành một câu hoặc một ngữ độc lập nhằm nhấn mạnh nội dung
thông báo. Tách câu gồm có tách vị ngữ, tách bổ ngữ, tách trạng ngữ, tách
định ngữ…
Ví dụ: Tách định ngữ: “ Rừng Hoành Bồ có một nương dó. Rộng và
sâu lắm.”
Tách câu có giá trị thông báo, tác dụng nhấn mạnh. Ngoài ra nó còn có
giá trị biểu cảm được dùng nhiều trong văn bản nghệ thuật.
Phụ chú ngữ là thành phần phụ nhằm giải thích ý nghĩa của một từ
hay một ngữ để cụ thể hóa hay để nhấn mạnh một nét nghĩa nào đó khi mà
người nói hay người viết muốn truyền đạt [10, tr.244]. Ví dụ:
kĩ năng sử dụng các biện pháp tu từ nói riêng còn tồn tại một số điểm chưa
hợp lí: Mặc dù SKG đã chú trọng đến phương pháp thực hành nhưng số lượng
bài tập chưa thực sự phong phú, những bài tập sáng tạo vẫn còn ít, kiến thức
dạy học sinh còn mang tính trừu tượng nên học sinh còn gặp nhiều khó khăn
trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khó.
Khảo sát SGK chúng tôi thấy có những bài học lí thuyết chung về biện
pháp tu từ được tích hợp trong một số bài về phong cách học, hay một số bài
như: Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (lớp 11), giữ gìn sự trong sáng
của tiếng Việt (lớp 12)…
25