2.2.3. Nhóm C- Bài tập RLKN diễn đạt trong bài văn tự sự
Nhóm bài tập này nhằm giúp HS biết cách dùng từ, đặt câu sinh động, hấp
dẫn, biết cách dựng đoạn văn tự sự và liên kết các đoạn văn tự sự thành bài
văn hoàn chỉnh. Nhóm bài tập này có thể chia thành các loại bài tập sau:
C- Bài tập RLKN diễn đạt
trong bài văn tự sự
C.I. Bài tập RLKN dùng từ ,
đặt câu sinh động, hấp dẫn
C.II. Bài tập RLKN xây
dựng đoạn văn tự sự
C.III. Bài tập RLKN liên
kết các đoạn văn tự sự
C.I.
1
C.I.
2
C.I
.3
C.I.
4
C.I.
5
C.I.
6
C.II.
1
C.II
.2
C.I
I.3
C.III.1
nghĩa phân biệt, bổ sung); các biện pháp chuyển nghĩa từ (nhân hóa, so
sánh); các câu cảm nhằm bộc lộ cảm xúc của người viết.
Các bài tập RLKN dùng từ, đặt câu sinh động, hấp dẫn trong bài văn tự sự
có thể chia thành một số kiểu bài tập như sau:
Kiểu C.I.1. Bài tập sử dụng từ ngữ hay, gợi cảm điền vào chỗ trống
Kiểu bài tập này thể hiện yêu cầu luyện tập sử dụng từ ngữ hay, gợi cảm ở
mức độ đơn giản, nhưng cũng có tác dụng nhất định trong việc rèn cho HS
kĩ năng lựa chọn và kết hợp từ ngữ khi kể. Hình thức bài tập là cho sẵn từ
cần điền (hoặc không cho sẵn từ), yêu cầu HS lựa chon (hoặc tìm) từ ngữ
hay, phù hợp để điền vào chỗ trống trong câu văn, đoạn văn tự sự.
Ví dụ : Chọn một từ trong ngoặc đơn điền vào chỗ trống sao cho có câu văn
tự sự hay, bộc lộ được vể đẹp oai hùng của Lạc Long Quân: "Trông chàng
thật khôi ngô, tuấn tú với chiếc vòng ngọc trai (lấp ló, lấp lánh, lấp lóa),
răng trắng như (ngà voi, vôi, bông ), thân hình mềm mại như cá mập đang
bơi lội."
Trong bài tập trên, HS cần phải lựa chọn một trong những từ ngữ trong
ngoặc đơn để điền vào chỗ trống. Tuy nhiên, điều này không hẳn đã dễ dàng
bởi vì các từ được cho trong ngoặc đơn đều có ý nghĩa chỉ ánh sáng của
chiếc vòng ngọc trai và màu trắng của hàm răng, từ nào cũng có thể điền vào
chỗ trống trong câu văn nếu chỉ tính tới khả năng kết hợp của từ theo quan
hệ ý nghĩa. Nhưng trong câu văn tự sự này, chỉ có từ "lấp lóa" và "ngà voi"
là được lựa chọn bởi vì từ "lấp lóa" còn có thêm một sắc thái ý nghĩa nữa là
thể hiện ánh sáng chói lòa, khó có thể nhìn kĩ được, các hạt ngọc trai như
đan cài vào nhau tạo nên một luồng sáng có sức hút kì ảo; từ "ngà voi" cũng
diễn tả màu trắng như từ "vôi", "bông" nhưng vì nhân vật ở đây là Lạc Long
Quân, người có sức mạnh phi thường thì việc so sánh với voi là hợp lí hơn
cả, bởi voi là loài vật lớn và có sức khỏe. Lựa chọn đúng từ ngữ cần điền
trong câu văn có nghĩa là HS đã hiểu được nét nghĩa của từ ngữ trong văn tự
sự.
Kiểu C.I.2. Bài tập sử dụng từ ngữ hay, gợi cảm để thay thế từ ngữ
Ví dụ: Em hãy thêm các từ ngữ sinh động, gợi cảm vào thành phần vị ngữ để các câu sau
được cụ thể, sinh động hơn.
- Mỗi chúng tôi hái được một bó to những cành sim
- Chiều nào cũng vậy, tôi cùng các em nhỏ ngắm dòng sông Lam
Dựa vào nội dung tự sự của câu, HS có thể thêm những từ ngữ vào thành phần vị ngữ
trong các câu để chuyển những câu này thành những câu cụ thể, sinh động hơn. Chẳng
hạn: "Chiều nào cũng vậy, tôi cùng các em nhỏ ngắm dòng sông Lam êm đềm chảy đôi
lúc lại hơi gợn sóng kèm theo tiếng cá quẫy".
Kiểu C.I.4. Bài tập diễn đạt lại câu cho sinh động hơn
Ở kiểu bài tập này, các câu văn được cho trước là những câu hoàn toàn bình thường về
ngữ pháp và ngữ nghĩa nhưng chưa thực sự hay và hấp dẫn. Các câu văn này mang tính
chất liệt kể gây cảm giác nặng nề, khó chịu cho người đọc. Do vậy, để những câu văn đó
được hay hơn, cần phải diễn đạt lại các câu văn này bằng cách sử dụng biện pháp so sánh,
nhân hóa, hoặc có thể biến đổi cấu trúc câu, đảo vị trí của các thành phần câu nếu phù
hợp.
Hình thức bài tập là: cho câu văn, đoạn văn tự sự, yêu cầu HS sử dụng biện pháp so sánh,
nhân hóa hoặc biến đổi cấu trúc câu, đảo vị trí của các thành phần câu để câu văn, đoạn
văn được hay hơn.
Ví dụ: một bạn học sinh kể về cảnh tượng một buổi chợ như sau: "Khu chợ này nhỏ thôi
nhưng có rất nhiều gian hàng. Mỗi gian chỉ lợp những tấm cọ, bày cái bàn hay cái ghế.
Dãy hàng đầu tiên có ba gian. Gian thứ nhất bán bánh mì. Gian thứ hai bán bánh rán, loại
bánh rán mật mà chúng tôi rất thích. Gian thứ ba không bán bánh mà bán cốm. Hương lúa
nếp xen với hương lá sen làm tôi không thể bước đi tiếp"
Dựa vào ý của các câu văn 5, 6, 7, 8, em hãy diễn đạt lại cho hay hơn.
HS có thể diễn đạt lại các câu văn 5, 6, 7, 8 như sau: "Gian đầu tiên bày bán bánh mì,
những chiếc bánh mì nóng hổi. Gian tiếp theo bán bánh rán, loại bánh rán mật bé bằng ba
ngón tay chập lại mà chúng tôi thích thú vô cùng. Cốm được bày bán ở gian thứ ba.
Hương cốm dịu dàng xen lẫn mùi thơm mát của lá sen như níu giữ bước chân tôi lại".
Kiểu C.I.5. Bài tập chuyển đổi kiểu câu cho truyền cảm hơn
Khi viết văn tự sự, người viết thường sử dụng những câu kể. Song nếu người viết biết kết
xây dựng đoạn văn. Khi đã có kĩ năng dựng đoạn thì việc RLKN xây dựng
bài văn của HS sẽ diễn ra có nhiều thuận lợi bởi đoạn văn có thể coi là một
"văn bản nhỏ".
Căn cứ vào chức năng của đoạn văn trong cả bài văn, có thể chia loại bài tập
RLKN xây dựng đoạn văn thành các kiểu bài tập sau: bài tập dựng đoạn mở
bài; bài tập dựng đoạn thân bài; bài tập dựng đoạn kết bài.
Kiểu C.II.1. Bài tập dựng đoạn mở bài trong bài văn tự sự
Trong bài văn tự sự, đoạn mở bài có chức năng giới thiệu đối tượng tự sự,
đôi khi bao gồm cả việc định hướng cho nội dung tự sự ở phần thân bài. Có
nhiều cách viết đoạn mở bài, nhưng có thể quy vào hai cách chủ yếu là: trực
tiếp và gián tiếp. Dựa vào hai cách mở bài này, có thể chia kiểu bài tập này
thành hai dạng bài tập: dựng đoạn mở bài trực tiếp và dựng đoạn ở bài gián
tiếp.
Dựng đoạn mở bài trực tiếp: là đi thẳng vào vấn đề cần kể. Cách mở bài này
thường ngắn gọn, dễ viết nên được HS lớp 6 sử dụng nhiều trong các bài văn
tự sự của mình, có khi chỉ cần một câu mở bài, HS đã có thể bước ngay vào
phần thân bài để triển khai cụ thể nội dung tự sự. Hơn nữa đoạn mở theo
cách này không tốn nhiều thời gian suy nghĩ, cân nhắc trong việc lựa chọn từ
ngữ, diễn đạt câu văn. Cần chú ý khi vào đề trực tiếp là phải giới thiệu được
đối tượng tự sự, nhưng câu văn không quá khô khan, cứng nhắc. Chẳng hạn:
"gia đình em sống chung với bà em"; "chủ nhật vừa qua em về thăm quê
nội"
Đoạn mở bài gián tiếp: là đoạn mở bài không giới thiệu ngay đối tượng tự sự
mà thông qua sự dẫn dắt bằng cách giới thiệu hoàn cảnh xuất hiện của đối
tượng hoặc giới thiệu cảm nhận (ấn tượng) chung của người viết về đối
tượng, hoặc cũng có khi người viết dẫn dắt qua câu thơ, câu hát, qua một kỉ
niệm khó quên Để chuẩn bị bối cảnh, tạo không khí cho đối tượng tự sự
xuất hiện. Cách mở bài này hấp dẫn, lôi cuốn được sự chú ý của người đọc,
thể hiện được sự sáng tạo của người viết. Vì thế mà đối với HS lớp 6, việc
dựng đoạn mở bài gián tiếp thường khó khăn hơn việc dựng đoạn mở bài
Đoạn mở bài trên đã khéo léo dùng khổ thơ của Tố Hữu để giới thiệu về đối
tượng tự sự. Em hãy dùng một câu thơ hoặc câu hát để viết đoạn mở bài cho
bài văn "kể về một chuyến thăm quê" theo kiểu tương tự.
* Bài tập dựng đoạn mở bài dựa vào các câu hỏi gợi ý
Ví dụ: (a) đọc lại truyện "Sự tích Hồ Gươm" và cho biết: câu chuyện kể về
sự việc gì? Ở đâu? Vào thời gian nào? Cảm nhận của em sau khi đọc câu
chuyện đó?
(b) Dựa vào các câu trả lời trên, em hãy viết một đoạn mở bài giới thiệu
chung về câu chuyện đó.
* Bài tập dựng đoạn mở bài dựa vào nội dung cho trước
Ví dụ : Dựa vào gợi ý dưới đây, hãy viết đoạn mở bài bằng cách nói lên suy
nghĩ của em về một lần mắc lỗi: "Em đã từng mắc lỗi mà đến tận bây giờ em
vẫn còn tự trách mình".
* Bài tập dựng đoạn mở bài tương ứng với doạn kết bài cho trước
Ví dụ: Dưới đây là đoạn kết bài cho bài văn kể về một việc tốt mà em đã
làm, em hãy viết đoạn mở bài nêu cảm nhận hoặc ấn tượng chung của em vể
việc làm tốt tương ứng với kết bài đã cho: "Ba mẹ em rất mừng vì em biết
làm điều tốt. Lời khen chân thành của mọi người đối với em là phần thưởng
quý giá nhất. Nhớ lại chuyện ấy, giờ đây em vẫn thấy vui".
* Bài tập chuyển đổi cách mở bài
Ví dụ: Dưới đây là đoạn mở bài bằng cách giới thiệu trực tiếp về chuyến
thăm quan của lớp em, em hãy viết một đoạn mở bài nêu cảm nhận của em
về buổi tham quan dựa vào cách mở bài này: "Chủ nhật tuần vừa qua, lớp
em đã tổ chức đi tham quan động Phong Nha".
* Bài tập dựng đoạn mở bài cho đề bài làm văn
Ví dụ: Cho các đề sau: (a) kể về người ban mà em có ấn tượng sâu sắc; (b)
trong một lần đi chơi xa, em tình cờ quen một người bạn, em hãy kể về
người bạn đó; (c) kể về một bạn trong lớp em. Hãy viết một đoạn mở bài kể
về người bạn cho một trong các đề bài trên.
Quy trình viết doạn mở bài bao gồm các bước sau: (1) xác định đối tượng tự
"Tôi co chân chạy. Và dòng sông hiện ra trước mắt. Tôi nhìn xuống dòng
sông. Nước sông đen ngòm. Dòng nước chảy lờ đờ không một cánh bèo,
không một tiếng cá quẫy. Bỗng từ giữa sông, một bà già vẻ mặt khắc khổ,
quần áo đen nhẫy trừng mắt nhìn tôi, quát to: "Tại sao các ngươi lại làm hại
ta? Các ngươi đổ cặn than dầu, nước thải cùng bao nhiêu thứ rác bẩn thỉu
xuống sông làm ta ô nhiễm. Ta không còn đâu dòng nước mát ngọt ngào.
Các ngươi đâu có biết ta đau khổ như thế nào khi cá tôm chết trắng cả mặt
sông vì nước sông bị nhiễm độc. Các ngươi đâu có biết ta buồn đến mức nào
khi suốt năm không còn tiếng trẻ con nô đùa, bơi lội trong vòng tay ôm ấp
của ta. Cứ đà này không biết mai đây, các ngươi lấy đâu nước mà uống! Tôi
nhắm nghiền mắt, ôm đầu ù té chạy nhưng không sao thoát khỏi tiếng than
trách kia." (bài làm của học sinh)
- Đoạn văn trên kể về việc gì?
- Đoạn văn có thể chia thành mấy phần? Đó là những phần nào? Nêu nội
dung chính của mỗi phần
- Ở phần thân đoạn tác giả đã kể rõ điều gì?
Các câu hỏi trong bài tập trên được biên soạn theo hướng: yêu cầu xác định
đối tượng tự sự trong đoạn, xác định cấu tạo của đoạn, nội dung của từng
phần, đặc biệt là phần thân đoạn. Đây là một đoạn văn có kết cấu ba phần rõ
ràng vì thế việc phân tích kết cấu đoạn văn là tương đối dễ dàng. Qua việc
làm bài tập trên, HS sẽ có được những hiểu biết cơ bản về đoạn văn có kết
cấu ba phần. Trên cơ sở đó, các em sẽ thực hành viết đoạn văn với các mức
độ khác nhau.
* Bài tập dựng đoạn kể theo mẫu
HS có thể thực hiện hình thức bài tập này ngay sau bài tập phân tích, nhận
diện đoạn kể mẫu. Việc nắm vững cấu tạo của đoạn văn mẫu sẽ giúp HS tạo
lập một đoạn văn có cấu trúc và nội dung tương tự một cách dễ dàng.
Ví dụ: Dựa vào đoạn văn kể về việc nguồn nước kêu cứu ở trên, em hãy điền
vào chỗ trống để có câu mở đoạn và viết tiếp 5- 6 câu để có đoạn văn kể về
dòng sông quê em kêu cứu: "Tôi co chân chạy. Và dòng sông "
hỏi gợi ý sau:
+ Tâm sự của Phượng vĩ là tâm sự gì?
+ Hàng ngày, Phượng vĩ được chứng kiến cảnh gì?
+ Khi mùa hè đến, Phượng vĩ có được nhìn thấy học trò vui chơi không?
+ Suy nghĩ của em về tâm sự này
Ví dụ trên cho sẵn một số câu hỏi gợi ý yêu cầu học sinh viết đoạn văn theo
câu hỏi gợi ý. Những câu hỏi gợi ý này là chỗ dựa cho các em khi viết đoạn
văn. Viết theo những nội dung này, đoạn văn của các em chắc chắn sẽ có đủ
ba phần.
Bên cạnh hình thức bài tập này, có thể luyện tập cho HS theo một số hình
thức bài tập sau:
* Bài tập cho một số từ ngữ, yêu cầu dựng đoạn kể hoàn chỉnh
Ví dụ: em hãy viết một đoạn văn khoản 5- 7 câu kể về tâm sự của Bàng non
trong đó có chứa các từ ngữ sau: Bàng non, mùa hè, học trò, lá non, dẫm
đạp, nghịch ngợm, đau đớn.
* Bài tập cho trước câu mở đoạn và câu kết đoạn, yêu cầu dựng đoạn kể
hoàn chỉnh
Ví dụ: em hãy viết một đoạn văn kể về câu chuyện đáng nhớ (hiểu nhầm em
trai lấy trộm tiền) với câu mở đoạn và kết đoạn như sau:
"Sàng hôm đó, tôi moi tiền ở con lợn ra 10.000 đồng định bụng chiều nay sẽ
khao lũ bạn vì tôi vừa được điểm rất cao trong kì thi vừa qua. ( ). Vậy
không nó thì còn ai vào đây, với lại chẳng lẽ tiền có cánh mà bay ra khỏi túi
tôi à?"
*Bài tập cho trước các câu thân đoạn, yêu cầu viết câu mở đoạn và câu kết
đoạn cho đoạn văn
Ví dụ: Dưới đây là các câu văn kể về người mẹ của em. Em hãy viết câu mở
đoạn giới thiệu về mẹ và câu kết đoạn nói lên tình cảm của em đối với mẹ
phù hợp với các câu văn đã cho:
" Bác sĩ khám bệnh rồi nói rằng mẹ bị viêm phổi cấp tính do bị cảm lạnh.
Em đặt tay lên trán mẹ, trán mẹ nóng như lửa. Đôi môi mẹ khô se, hơi thở
"Ông thường kể chuyện cho chúng em nghe. Ông em đọc sách rất nhiều, ông
biết rất nhiều chuyện. Ông thích nhất là sách nói về thế giới động vật và thực
vật. Ông sưu tầm cho chúng em nhiều sách nói về cây cối và động vật xứ
nóng ở châu Phi, Nam Mĩ hoặc các giống vật ở xứ lạnh, quanh năm tuyết
phủ. Nhờ có ông mà chúng em biết nhiều điều bổ ích
* Bài tập dựng đoạn kể theo mẫu
Ví dụ: Dựa vào đoạn văn kể về người ông của em ở trên, em hãy viết một
đoạn văn khác kể về những đức tính tốt đẹp của một người thân theo kiểu
tương tự
* Bài tập sắp xếp các câu đã cho thành đoạn văn hợp lí
Ví dụ: Em hãy sắp xếp các câu sau thành đoạn văn sao cho hợp lí
"(1) Thuở ấy ở làng quê, mẹ tôi dạy những đứa trẻ vốn chỉ quen mò cua bắt
ốc, chăn trâu cắt cỏ. (2) Mẹ tôi đặt bàn tay thon thả xanh xao cầm lấy bàn
tay bé nhỏ nhưng khô ráp của những thằng cu ấy. (3) Rồi khi buông ra để
học trò tự viết lấy, tôi thấy mẹ tôi khẽ mím môi, hơi thở nhẹ hẳn đi, mái đầu
như đưa theo bàn tay của các em. (4) có những thằng cu nghịch ngợm và
viết xấu quá, nhiều buổi tối mẹ tôi bảo cả mấy đứa đến ngồi bên. (5) Mẹ tôi
cầm tay học trò viết từng nét cong, nét thẳng. (6) Đến khi xem lại những chữ
học trò tròn trịa ngay ngắn, mẹ tôi khẽ gật đầu."
* Bài tập dựng đoạn văn dựa vào nội dung cho trước
Ví dụ: cho một số ý dưới đây, em hãy viết một đoạn văn kể về tâm tình của
cây lúa, trong đó có câu mở đoạn là câu nêu lên ý chính của toàn đoạn văn.
- Lớn lên từ hạt thóc giống
- Được ngâm nước ba sôi hai lạnh
- Sự sống bừng dậy
- Rễ trắng tinh
- Gieo trên mảnh ruộng phẳng
- Nắng ấm áp và sương đêm
- Lớn thành cây mạ
* Bài tập cho trước câu mở đoạn là câu chủ đề của đoạn, yêu cầu viết đoạn
(a) Bài thi ứng xử gây hà hứng cho cả trường
(b) Tiếp theo là phần thi ứng xử
(c) Ấn tượng nhất là phần thi ứng xử
* Bài tập dựng đoạn văn theo yêu cầu của đề bài
Ví dụ: Em hãy viết một đoạn văn kể về những đổi thay của em, trong đó có
câu mở đoạn là câu nêu lên ý chính của toàn đoạn
Tóm lại, GV có thể hướng dẫn HS viết đoạn văn tự sự có câu chủ đề ở đầu
đoạn theo các bước sau:
(1) Dựa trên kết quả quan sát, tưởng tượng, xây dựng dàn ý cho đoạn
(2) Xây dựng nội dung tự sự trong đoạn, sau đó viết câu mở đoạn nêu lên ý
chung của toàn đoạn
(3) Viết các câu thân đoạn theo nội dung của câu mở đầu, đảm bảo sự liên
kết giữa các câu cả về hình thức và nội dung
(4) Viết câu kết đoạn
(5) Kiểm tra lại đoạn văn vừa viết
Dạng C.II.2.c. Dựng đoạn kể không có câu chủ đề
Ở đoạn văn này, các câu đều có vai trò ngang nhau trong việc thể hiện nội
dung của đoạn văn. Mỗi câu thường triển khai một phương diện của tiểu chủ
đề, tập hợp các câu lại mới thấy nội dung chính của đoạn.
Dạng bài tập viết đoạn văn không có câu chủ đề có thể được luyện tập qua
một số hình thức bài tập chủ yếu sau:
* Bài tập sắp xếp các câu đã cho thành đoạn văn hợp lí
Ví dụ: Em hãy sắp xếp các câu sau thành đoạn văn sao cho hợp lí
"(1) Con tàu giảm tốc độ, ì ạch kéo các toa đầy hành khách từ từ leo dốc. (2)
Có lúc, đoàn tàu chui vào đoạn đường hầm hun hút tối om xuyên qua lòng
núi. (3) Thỉnh thoảng có tiếng chim rừng lảnh lót trong nắng sớm. (4) Có lúc
nó bám cheo leo vào sườn núi, hoặc lượn vòng như con rắn khổng lồ. (5) Dù
đã được lắp thêm một đầu máy đẩy phía sau, nó vẫn trườn đi một cách nặng
nhọc. (6) Không gian tĩnh mịch và thoáng đãng."
* Bài tập cho trước câu mở đoạn hoặc một số câu thân đoạn, yêu cầu viết
kết bài mở rộng. Để cho câu chuyện vừa kể đem lại ấn tượng sâu đậm cho
người đọc, cách kết bài mở rộng là biện pháp có hiệu quả. Kết bài mở rộng
là kết bài bằng cách nêu lên ý nghĩa của câu chuyện với bản thân người viết,
hoặc người viết nói lên những suy nghĩ, cảm xúc của mình về đối tượng tự
sự Cách kết bài này giúp cho bài văn tự sự thêm hay, khiến HS có những
suy nghĩ về sự việc nêu trong câu chuyện. Dưới đây là một số hình thức bài
tập cơ bản để luyện tập cho HS cách dựng đoạn kết bài:
* Bài tập phân biệt các cách kết bài
Ví dụ: Các đoạn kết bài cho bài văn kể về một người bạn thân dưới đây có gì
khác nhau? Trong các đoạn kết bài này, em thích đoạn kết bài nào nhất? Vì
sao?
(a) Tâm sẽ mãi là người bạn thân nhất của em
(b) Hôm nay, Tâm đã đi xa thật rồi. Cầm cuốn sổ nhỏ của Tâm tặng tôi trước
lúc chia tay, tôi cảm thấy cay cay nơi khóe mắt. Có lẽ tôi phải viết thư ngay
cho Tâm để Tâm dù ở xa vẫn cảm thấy có bạn bè thân yêu bên cạnh và biết
rằng tôi luôn nhớ đến Tâm.
(c) Ngày tháng trôi qua, mỗi năm chúng tôi lại thêm một tuổi và tình bạn
giữa tôi và Tâm cũng theo đó mà tăng dần lên. Dù xa cách về không gian
nhưng trong tôi hình ảnh của Tâm- cô bạn cùng học cấp hai thì vẫn luôn
sống mãi.
* Bài tập dựng đoạn kết bài theo mẫu
Ví dụ: Đọc đoạn kết bài sau: "Em choàng tỉnh dậy. Bà vẫn nằm bên cạnh,
bỏm bẻm nhai trầu. Mùi trầu nồng ấm quen thuộc phảng phất quanh em. Em
thầm thì: "Bà yêu quý ơi! Bà chính là bà tiên đầy phép màu nhiệm. Bà đã
đem cho cháu những giấc mơ thật tuyệt vời"". Đoạn kết bài trên đã khéo léo
dùng câu nói thầm của người cháu đối với bà để bộc lộ cảm xúc của người
viết. Em hãy dùng cách này để viết đoạn kết bài cho bài văn "kể về một
chuyến du lịch trong thế giới cổ tích, gặp gỡ những nhân vật mà em yêu
mến".
Ví dụ: em hãy viết một đoạn kết bài nói lên cảm xúc của em khi làm được
Loại C.III. Bài tập RLKN liên kết đoạn trong bài văn tự sự
Tính liên kết của văn bản thể hiện ở hai phương diện: liên kết nội dung và liên kết hình
thức. Hai phương diện này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, liên kết hình
thức là sự nối kết các hình thức ngôn ngữ thể hiện sự mạch lạc. Liên kết hình thức của
văn bản trước hết thể hiện ở liên kết hình thức giữa các câu trong một đoạn văn và sau đó
là liên kết các đoạn văn trong một văn bản. Rèn luyện thành thạo kĩ năng liên kết câu
trong đoạn văn, trong văn bản là một công việc có ý nghĩa rất quan trọng và là cơ sở để
tiếp tục RLKN liên kết đoạn cho HS. Song do thời lượng có hạn, ở đây chúng tôi chỉ tập
trung nói tới một số phương tiện dùng để liên kết hình thức giữa các đoạn văn trong bài
văn tự sự.
Các đoạn văn trong bài văn liên kết với nhau nhờ các phương tiện thuộc các phương thức
nhất định. Phương tiện được dùng phổ biến là phép tuyến tính, phép nối, phép thế đại từ,
phép lặp từ ngữ với những hình thức linh hoạt hơn. Ngoài ra, còn có thể dùng các kí hiệu
riêng, hoặc các câu chuyển tiếp.
Trong bài văn tự sự, các phần, các ý phải được trình bày tách bạch nhưng phải liên kết
chặt chẽ với nhau để tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Liên kết đoạn là chất keo gắn
kết giữa các phần, các ý để liên kết chúng với nhau, làm cho bài văn liền mạch. Phương
tiện được dùng phổ biến nhất để liên kết các đoạn văn trong bài văn tự sự là phép trật tự
tuyến tính. Một trong những thao tác đầu tiên là sắp xếp trình tự của các đoạn. Vị trí của
mỗi đoạn văn tùy thuộc vào cách triển khai ý mà người viết lựa chọn như: theo trình tự
thời gian, không gian Ngoài biện pháp sắp đặt trật tự các đoạn văn, để liên kết đoạn ta
có thể dùng từ ngữ hoặc câu văn. Căn cứ vào phường tiện dùng để liên kết đoạn, loại bài
tập này có thể chia thành 2 kiểu: bài tập dùng từ ngữ để liên kết đoạn; bài tập dùng câu để
liên kết đoạn.
Kiểu C.III.1. Bài tập dùng từ ngữ để liên kết các đoạn văn tự sự
Tùy theo quan hệ giũa các ý, các đoạn, người viết lựa chọn những từ ngữ thích hợp. Đối
với văn tự sự, việc lựa chọn các từ ngữ để liên kết đoạn có liên quan đến việc lựa chọn
trình tự kể trong bài văn. Chẳng hạn, các từ ngữ nối kết giữa các đoạn văn kể theo trình
tự thời gian thường là các từ như: mùa xuân, mùa hạ, mùa thu, mùa đông, sáng, trưa,
chiều, tối, đêm, mấy ngày sau, mấy năm sau, tuần, tháng ; các từ ngữ nối kết giữa các
Đổng Chi).
(Bấy giờ, ít lâu sau, ngày xưa)
Bài tập này có thể tăng dần về độ khó khi yêu cầu HS tự tìm các từ ngữ chỉ thời gian hoặc
không gian phù hợp với nội dung và trình tự kể của từng đoạn văn và cả bài văn để điền
vào chỗ trống. Làm tốt những bài tập này, HS sẽ có ý thức về việc liên kết các đoạn văn
tự sự theo trình tự.
* Bài tập sử dụng các từ ngữ có tác dụng liên kết đoạn để viết bài văn tự sự
Đây là bài tập có yêu cầu cao nhất trong các bài tập liên kết đoạn. Bài tập này chỉ cho
trước đề bài, kiểu liên kết, từ ngữ có tác dụng liên kết đoạn. HS phải chủ động tìm ý, viết
đoạn cho phù hợp với yêu cầu của đề bài.
Ví dụ: em hãy viết bài văn kể lại một chuyến tham quan hay du lịch mà em tham dự theo
trình tự thời gian. Trong đó, mỗi khoảng thời gian viết thành một đoạn văn (lưu ý sử
dựng từ ngữ chỉ thời gian: sáng sớm, khi mặt trời lên cao, buổi trưa, lúc hoàng hôn ở câu
mở đầu mỗi đoạn ).
Kiểu C.III.2. Bài tập dùng câu để liên kết các đoạn văn tự sự
Ngoài việc sử dụng từ ngữ để liên kết đoạn, còn có thể dùng câu chuyển đoạn để liên kết
đoạn. Câu chuyển đoạn này đứng ở vị trí cuối đoạn văn trước hoặc đầu đoạn văn sau để
tóm lược nội dung của đoạn trước và mở ra nội dung của đoạn sau. Ví dụ: câu chuyển
đoạn trong bài văn kể lại chuyến tham quan: "tiếp tục cuộc hành trình, dù em rất buồn
ngủ, nhưng vẫn cố thức để nhìn cảnh vật của từng miền" Việc RLKN dùng câu chuyển
đoạn được bắt đầu bằng bài tập phân tích, nhận diện, sau đó có thể luyện tập qua một số
hình thức bài tập sau:
* Bài tập điền vào chỗ trống câu văn thích hợp:
Ví dụ: Hai đoạn văn dưới đây thiếu câu mở đầu mỗi đoạn, em hãy lựa chọn một câu mở
đoạn bên dưới để điền vào đầu mỗi đoạn cho thích hợp:
"( ). Ông em đọc sách rất nhiều, ông biết rất nhiều chuyện, ông thích nhất là sách nói về
thế giới động vật và thực vật. Ông sưu tầm cho chúng em nhiều sách nói về cây cối và
động vật xứ nóng ở châu Phi, Nam Mĩ hoặc các giống vật ở xứ lạnh, quanh năm tuyết
phủ, nhờ có ông mà chúng em biết nhều, chân trời như rộng mở thêm ra, đầy thơ mộng.
( ). Người ta nói tuổi già thường như vậy, quả không sai. Trong nhà ông thường là người