1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THÀNH DỘI
HỆ THỐNG BÀI TẬP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG
SỬ DỤNG PHÉP TU TỪ SO SÁNH
NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC VIẾT VĂN
CHO HỌC SINH LỚP 4.
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Vinh - 2011
2
MỞ ĐẦU
1/ Lý do chọn đề tài
Trong đời sống thường ngày, con người giao tiếp thông qua hệ thống
ngôn ngữ. Để biểu thị điều mà chúng ta thấy được cho mọi người thì chúng
ta phải dùng miêu tả. So với các phương tiện giao tiếp khác thì “Lời nói cho
phép diễn đạt dễ dàng hơn rất nhiều lần những quan hệ phức tạp, những tính
chất bên trong, những sự vận động, logic, sự phức tạp của sự kiện.” Chương
trình Tiếng Việt tiểu học đặc biệt chú trọng nhiệm vụ hình thành và phát
triển 4 kĩ năng sử dụng tiếng Việt: nghe, nói, đọc, viết (mục tiêu hình thành
và phát triển kĩ năng đưa lên đầu). Việc rèn kĩ năng nhằm tạo ra ở HS năng
lực dùng tiếng Việt để học tập và giao tiếp. Phân môn Tập làm văn ở tiểu
học đóng vai trò quan trọng trong chương trình Tiếng Việt ở tiểu học. Phân
sánh nhưng việc vận dụng kiến thức về phép tu từ so sánh vào nói, viết thì
còn nhiều hạn chế. GV còn lúng túng khi hướng dẫn HS tìm hiểu cách so
sánh và tác dụng của phép so sánh. HS chưa thật sự vận dụng sáng tạo trong
trường hợp nào thì dùng phép tu từ so sánh vào bài văn miêu tả của mình.
Bài văn miêu tả thường tẻ nhạt mà nếu có sử dụng hình ảnh so sánh thì cũng
là của người khác vì thế lời văn của HS chưa thật sự độc đáo, sáng tạo và
mang sắc thái của riêng mình.
Mặt khác, GV chưa thật sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của
việc vận dụng phép tu từ so sánh vào văn miêu tả, GV lớp 4 chưa có những
hiểu biết cặn kẽ về phép tu từ so sánh và biện pháp để nâng cao chất lượng
phân môn Tập làm văn trong dạy học. Bên cạnh đó, các công trình nghiên
4
cứu về vấn đề này hầu như chưa có, vì vậy, GV tiểu học còn gặp nhiều khó
khăn trong việc tìm các tài liệu tham khảo.
Xuất phát từ những lý do trên, đã thôi thúc tôi lựa chọn đề tài nghiên
cứu “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so
sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4.”
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Văn miêu tả và dạy – học văn miêu tả cũng như việc vận dụng phép tu
từ so sánh trong văn miêu tả đã có một số công trình nghiên cứu đề cập như:
1. Nguyễn Trí trong Dạy tập làm văn ở tiểu học, công trình này đã giới thiệu
về văn miêu tả, đặc điểm của văn miêu tả, giới thiệu quy trình làm các kiểu
bài làm văn miêu tả cũng như phương pháp dạy các kiểu bài văn miêu tả.
Mặc dù sách đã đề cập đến vấn đề văn miêu tả, những nét đặc sắc của sự vật,
hiện tượng khi miêu tả, song cũng chỉ nói qua, chưa hình thành và đề cập
đến phép tu từ so sánh và việc vận dụng phép tu từ so sánh vào luyện tập
làm văn miêu tả.
nghiên cứu về lí thuyết chứ chưa chỉ ra sự vận dụng phép tu từ so sánh vào
dạy – học văn miêu tả ở tiểu học.
6. Nguyễn Thị Hạnh trong Phương pháp dạy học phép tu từ so sánh ở lớp 3.
Đây là công trình nghiên cứu sâu về phép tu từ so sánh, song luận văn này
chỉ dừng lại ở lớp 3. Việc vận dụng phép tu từ so sánh chỉ hướng đến các
phân môn của môn Tiếng Việt ở lớp 3. Công trình nghiên cứu chưa đề cập
đến việc hướng dẫn học sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ so sánh trong
Tập làm văn miêu tả.
6
7. Lê Thị Bích Hợi trong Quy trình hướng học sinh lớp 4, 5 luyện tập về
phép tu từ so sánh trong Tập làm văn miêu tả. Đây là công trình nghiên cứu
có đề cập đến vận dụng biện pháp tu từ so sánh và quy trình hướng dẫn học
sinh lớp 4, 5 luyện tập về phép tu từ so sánh trong Tập làm văn miêu tả. Tuy
nhiên, công trình chỉ tập trung vào xây dựng quy trình hướng dẫn mà chưa
đưa ra được một hệ thống bài tập vận dụng phép tu từ so sánh nhằm rèn
luyện kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4, 5.
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về vấn đề phép tu từ so sánh
và văn miêu tả. Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu của các công trình này
vẫn chưa có tính hệ thống và đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu về:
Hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi
dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp 4.
Như vậy, việc xây dựng một hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử
dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực viết văn cho học sinh lớp
4 đang là vấn đề cần thiết mà chưa được chú trọng. Việc tìm ra hệ thống bài
tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực
viết văn cho học sinh lớp 4 sẽ nhằm nâng cao chất lượng dạy – học văn miêu
tả ở lớp 4.
có tính khả thi thì có thể nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm
văn ở Tiểu học.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết về phép tu từ so sánh và việc vận dụng phép tu
từ so sánh trong dạy học văn miêu tả lớp 4.
8
- Nghiên cứu thực trạng về chất lượng dạy - học của GV và HS trong
việc vận dụng phép tu từ so sánh trong văn miêu tả ở lớp 4.
-
Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so
sánh trong văn miêu tả lớp 4.
-
Đề xuất các kiểm chứng tính hiệu quả của việc sử dụng hệ thống bài
tập rèn luyện kĩ năng sử dụng phép tu từ so sánh nhằm bồi dưỡng năng lực
viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4.
8. Các phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ nêu trên, đề tài sử dụng các nhóm phương
pháp nghiên cứu sau đây:
8.1. Phương pháp phân tích – tổng hợp lý thuyết
Nhằm phân tích, khái quát, thu thập những thông tin lý luận về đề tài
nghiên cứu: khảo sát, đánh giá nội dung vận dụng phép tu từ so sánh vào dạy
văn miêu tả theo SGK Tiếng Việt.
8.2. Phương pháp quan sát - điều tra
ở Tiểu học
1.1.1.1. Thế nào là văn miêu tả ?
Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt tự điển, miêu tả là “ Lấy nét vẽ
hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra”. Vì thế trong cuộc
sống hàng ngày, muốn mọi người cùng nhận ra điều mình thấy, đã làm, đã
sống….Chúng ta cần miêu tả. Mỗi bài văn miêu tả là sự kết tinh của những
nhận xét tinh tế, là sản phẩm, là sự đúc kết của việc tiếp thu và vận dụng
những kiến thức đã học. Trong văn miêu tả người ta đã vẽ ra các sự vật, hiện
tượng, con người… bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể. Văn miêu tả
giúp người đọc nhìn rõ chúng, tưởng rượng ra chúng như chính mình đang
nhìn tận mắt, bắt tận tay các hình ảnh đó. Tuy nhiên văn miêu tả là sự kết
tinh của những nhận xét tinh tế, những rung cảm sâu sắc mà người quan sát
thể hiện qua văn miêu tả, làm cho cảnh vật như sống động, như hiện ra trong
tâm trí người đọc, và đặc biệt như truyền cảm xúc qua những hình ảnh so
sánh.
Qua lời văn miêu tả của tác giả Thi Sảnh, ta như thấy cảnh Vịnh Hạ
Long hiện ra thật kì vĩ và duyên dáng:
“Vịnh Hạ Long là một thắng cảnh có một không hai của đất nước Việt
Nam.
Cái đẹp của vịnh Hạ Long trước hết là sự kì vĩ của thiên nhiên. Trên
một diện tích hẹp mọc lên hàng nghìn đảo nhấp nhô khuất khúc như rồng
11
chầu phượng múa. Đảo có chỗ sừng sững chạy dài như bức tương thành
vững chãi, ngăn khơi với lộng, nối mặt biển với chân trời. Có chỗ đảo dàn
ra thưa thớt, hòn này với hòn kia biệt lập, xa trông như quân cờ bày chon
von trên mặt biển. Tùy theo sự phân bố của đảo, mặt vịnh Hạ Long lúc tỏa
mênh mông, lúc thu hẹp lại thành ao thành vũng, lúc bị kẹp giữa hai triền
của con người được gửi gắm trong bài văn; khác với sự miêu tả bằng ngôn
ngữ hội họa với màu sắc và đường nét cũng không thể nói hết lên được
những thông điệp mà tác giả muốn gửi đến mọi người.
Tóm lại, “Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh,
của người, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối
tượng ấy” (theo SGK TV4 – Tập 1- Chương trình TV hiện hành)
1.1.1.2. Đặc điểm của văn miêu tả
a. Văn miêu tả chứa đựng nội dung mang tính thông báo, thẫm mĩ,
chứa đựng cảm xúc của người viết.
Khi quan sát tả đồ vật gần gũi quen thuộc như cái thước kẻ, cái bàn
học, cái trống trường; hay tả cây cối như cây sầu riêng, bãi ngô, cây gạo…và
cũng như tả các con vật nuôi gần gũi trong gia đình như gà, chim, chó, mèo,
lợn,… thì bao giờ người tả cũng phải có cách nhìn, quan sát một một cách
tinh tế những chi tiết nổi bật về sự vật định tả. Bên cạnh đó, người tả cũng
đã lồng ít nhiều những tình cảm hay ý kiến đánh giá nhận xét của mình vào
lới văn. Những lời văn này đều mang cảm xúc chủ quan dễ đi vào lòng
người. Nhưng ngoài ra, những sự vật được nói đến nhìn chung cũng đã gắn
liền với những kỉ niệm đẹp, gắn liền với tình yêu quê hương làng xóm.
Những cảm xúc chân thật sẽ làm xúc cảm của người viết lan tỏa vào lòng
13
người đọc, đó cũng chính là thế mạnh của văn miêu tả, chính vì vậy mà văn
miêu tả chứa đựng nội dung mang tính thông báo, thẫm mĩ và chứa đựng
cảm xúc của người viết.
Chính từ những đặc điểm này mà nó phân biệt giữa văn miêu tả trong
văn học khác với các loại miêu tả khác trong các môn học như : khoa học,
lịch sử, địa lí…
Ví dụ: Cùng nói về cuộc sống của người Việt cổ thì sách sử ghi lại
nhiên. Con người lao động, đánh cá, săn bắn. Con người cầm vũ khí bảo vệ
quê hương và tưng bừng nhảy múa cảm tạ thần linh,… Đó là con người
thuần hậu, hiền hòa, mang tính nhân bản sâu sắc. Bên cạnh và xung quanh
con người đầy ý thức làm chủ ấy là những cánh cò bay lả bay la, những
chim Lạc, chim Hồng, những đàn cá lội tung tăng,… Đó đây, hình tượng
ghép đôi muông thú, nam nữ còn nói lên sự khát khao cuộc sống ấm no, yên
vui của người dân.”
Trong đoạn văn, tác giả đã miêu tả cuộc sống của người Việt cổ thật
sinh động “Hình ảnh con người hòa với thiên nhiên. Con người lao động,
đánh cá, săn bắn. Con người cầm vũ khí bảo vệ quê hương và tưng bừng
nhảy múa cảm tạ thần linh” Bên cạnh đó, người Việt cổ là những con người
yêu chuộng hòa bình, mang đậm tính nhân văn của người Việt Nam “Những
cánh cò bay lả bay la, những chim Lạc, chim Hồng, những đàn cá lội tung
tăng,… Đó đây, hình tượng ghép đôi muông thú, nam nữ còn nói lên sự khát
khao cuộc sống ấm no, yên vui của người dân.”
Từng hình ảnh miêu tả sống động trong đoạn văn, tác giả đã vẽ ra một
bức tranh sống động về cuộc sống của người Việt cổ, những nét tả tinh tế,
15
những tình cảm trong sáng của tác giả miêu tả đã cho người xem một bức
tranh sinh đông và chất nhân văn.
b. Văn miêu tả mang tính sinh động và tạo hình
Một bài văn được coi là sinh động và tạo hình khi các sự vật, đồ vật,
con người được miêu tả hiện lên qua từng câu văn, từng dòng chữ như trong
cuộc sống thực tế, mà qua đó ta có cảm tưởng như có thể cầm nắm được,
nhìn ngắm được… những chi tiết tạo hình và mang tính sinh động trong văn
miêu tả là những chi tiết sống động, gây ấn tượng cho người đọc, mà người
đọc như đang hòa mình vào hình ảnh đó; nếu không có nó bài văn miêu tả
người đọc, gợi lên trong lòng họ những cảm xúc, ấn tượng, sinh động về
hình ảnh sự vật được miêu tả.
Ví dụ : Đoạn văn miêu tả Sa Pa của tác giả Nguyễn Phan Hách :
“Xe chúng tôi leo chênh vênh trên con đường xuyên tỉnh. Những đám
mây trắng nhỏ sà xuống cửa kính ô tô tạo nên cảm giác bồng bềnh huyền
ảo. Chúng tôi đang đi bên những thác xóa tựa mây trời, những rừng cây âm
âm, những bông hoa chuối rực lên như ngọn lửa. Tôi lim dim mắt ngắm mấy
con ngựa đang ăn cỏ trong một vườn đào ven đường. Con đen huyền, con
trắng tuyết, con đỏ son, chân dịu dàng, chùm đuôi cong lướt thướt liễu rũ”
1.1.1.3. Dạy văn miêu tả trong chương trình Tiếng Việt tiểu học hiện
nay
Trong chương trình Tiếng Việt tiểu học hiện nay, văn miêu tả đã được
đưa vào ngay từ lớp 2, với dạng bài tập quan sát và trả lời câu hỏi. HS đã bắt
đầu làm quen với thể loại văn miêu tả. Có nhiều lý do để lý giải vì sao lại
đưa văn miêu tả vào chương trình từ lớp 2: văn miêu tả phù hợp với tâm lý
17
của các em; trong độ tuổi này, HS rất thích quan sát các sự vật hiện tượng
xung quanh, thích miêu tả và đưa ra những nhận xét cảm tính về các sự vật
hiện tượng xung quanh; văn miêu tả góp phần nuôi dưỡng và phát triển mối
quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên. Từ đó góp phần giáo dục HS
những xúc cảm thẫm mĩ, yêu cái đẹp, góp phần bảo vệ môi trường và phát
triển tư duy, ngôn ngữ ở HS. Học văn miêu tả, HS có thêm điều kiện để tạo
nên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộc sống, con
người với thiên nhiên, xã hội, để từ đó khơi gợi ra ở các em những tình cảm,
cảm xúc, những ý nghĩ cao thượng đẹp đẽ… Nhà giáo dục Xu-khôm-lin-xki
đã cho rằng: Việc học sinh tiếp xúc với thiên nhiên, việc dạy các em miêu tả
cảnh vật nhìn thấy, nghe thấy… là con đường có hiệu quả nhất để giáo dục
Luyện tập miêu tả đồ vật
Trang
140
143
150
153
162
18
17
17
Tiếng sáo diều
Tiếng sáo diều
19
Người là hoa đất
19
Người là hoa đất
20
21
21
cảm
Những người quả
cảm
Những người quả
cảm
Những người quả
Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật
169
Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả đồ vật 172
Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn
10
miêu tả đồ vật
Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn
11
miêu tả đồ vật
Miêu tả đồ vật (Kiểm tra viết)
18
Trả bài văn miêu tả đồ vật
28
Cấu tạo bài văn miêu tả cây cối
30
Luyện tập quan sát cây cối
39
Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối
41
Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối
50
Đoạn văn trong bài văn miêu tả cây cối
52
119
128
130
139
vật
Luyện tập xây dựng mở bài, kết bài trong bài 141
19
33
34
sống
Tình yêu cuộc
sống
Tình yêu cuộc
sống
văn miêu tả con vật
Miêu tả con vật (Kiểm tra viết)
149
Trả bài văn miêu tả con vật
159
Khảo sát nội dung phân môn Tập làm văn trong chương trình SGK
tưởng, vốn sống của mình và tạo điều kiện để GV định hướng trong việc
giảng dạy.
Tóm lại : Nội dung chương trình SGK Tiếng Việt 4 đã tập trung trọng
tâm vào dạy văn miêu tả, có cấu trúc chặt chẽ, đi từ lý thuyết đến thực hành
luyện tập. Nội dung SGK đã xây dựng vừa dựa trên vốn sống của HS, vừa
qua phân tích các ngữ liệu mẫu để cung cấp và mở rộng thêm vốn từ cho
HS, giúp cho HS phát triển hài hòa phù hợp với tất cả các vùng miền trên cả
nước.
1.1.2. Phép tu từ so sánh và việc dạy học phép tu từ so sánh trong chương
trình Tiếng Việt ở Tiểu học
1.1.2.1. So sánh là gì ?
So sánh là đối chiếu hai sự vật hiện tượng cùng có một dấu hiệu
chung nào đó với nhau, nhằm làm cho việc diễn tả được sinh động, gợi cảm.
1.1.2.2. Các kiểu so sánh
a. So sánh logic
21
So sánh logic là một biện pháp nhận thức trong tư duy của con người,
là việc đặt hai hay nhiều sự vật, hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định
nhằm tìm ra các sự giống nhau và khác biệt giữa chúng.
Ví dụ:
a. Hồ này rộng hơn cái đầm ở làng
(TV3, t.1, tr.131)
b. Cái lưng còng của ông cụ sao giống lưng ông nội thế.
(TV3, t.1, tr.55)
Các cách so sánh này gọi là so sánh logic. Cơ sở của phép so sánh
logic dựa trên tính đồng chất, đồng loại của các sự vật, hiện tượng và mục
đích của sự so sánh là xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng.
- Yếu tố (1) là cái so sánh, đây là yếu tố được hoặc bị so sánh tùy theo
việc so sánh là tích cực hay tiêu cực.
- Yếu tố (2) là cơ sở so sánh, đây là yếu tố chỉ tính chất sự vật hay
trạng thái của hành động được nhìn nhận theo một cách nào đó có vai trò
nêu rõ phương diện so sánh.
- Yếu tố (3) là mức độ so sánh thường được diễn ra ở mức độ ngang
bằng như nhau. Ngoài từ “như” còn có các từ: “tựa”, “tựa như”, “giống
như”, “là”, “như là”, “ như thể”...
- Yếu tố (4) là cái được so sánh tức là cái đưa ra để làm chuẩn so
sánh.
- So sánh tu từ được dùng phổ biến trong các phong cách văn của
tiếng Việt. Nhưng chỉ trong việc tạo ra những văn bản mang tính nghệ thuật
hay trong văn miêu tả thì so sánh tu từ mới có thể diễn tả đầy đủ nhất những
khả năng tạo hình sinh động và gợi cảm của nó.
Ví dụ:
Cả thung lũng như một bức tranh thủy mặc.
(Đình Trung – TV4 – Tập 2)
* Như vậy, so sánh tu từ khác với so sánh lôgic ở tính hình tượng, tính
biểu cảm và tính dị loại của sự vật. Nếu như giá trị của so sánh logic là xác
lập được sự tương đương giữa hai đối tượng thì giá trị của so sánh tu từ là ở
sự liên tưởng, sự phát hiện và gợi cảm xúc thẩm mĩ ở người đọc, người
nghe.
1.1.2.3. Chức năng của so sánh tu từ
a. Chức năng nhận thức
23
Bản chất của sự so sánh là lấy một hình ảnh cụ thể để miêu tả một
hình ảnh chưa cụ thể. Paolơ cho rằng: “Sức mạnh của so sánh là nhận thức”
so sánh này, người cháu đã thể hiện được tình cảm yêu thương, quý trọng
của mình đối với bà.
b. Chức năng biểu cảm – cảm xúc
Chức năng biểu cảm trong phép tu từ so sánh giúp cho lời nói trong
giao tiếp dễ đi vào lòng người và dễ dàng đạt được mục đích giao tiếp. Với
chức năng biểu cảm, so sánh là “cách nói” dễ đi vào lòng người, dễ chiếm
được lòng người, làm cho người ta dễ nhớ, dễ thuộc và nhớ lâu. So sánh tu
từ chính là một phương thức tạo hình, gợi cảm, là đôi cánh giúp cho chúng
ta bay vào thế giới của cái đẹp, của trí tưởng tượng vô cùng phong phú.
Ví dụ:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
(Hồ Chí Minh)
Nhờ “tiếng hát xa” mà người đọc có thể hình dung ra âm thanh của
tiếng suối và có tình cảm với tiếng suối. Nhờ “vẽ” mà người đọc hình dung
ra rõ rệt độ sáng và đường nét của cảnh rừng với đêm trăng.
Nhờ có so sánh tu từ mà những hình ảnh đời thường vốn rất giản dị
gần gũi với con người, nhưng khi đi vào thi ca lại trở nên nhẹ nhàng, sâu
lắng, đầy cảm xúc.
1.1.2.4. Các dạng so sánh
25
Khi xem xét các dạng của phép tu từ so sánh, ta có thể dựa vào mặt
cấu trúc hoặc dựa vào mặt ngữ nghĩa của nó để chia thành các dạng sau
a. Dựa vào cấu trúc, ta có thể chia phép so sánh thành các dạng:
Dạng 1: Phép so sánh đầy đủ 4 yếu tố: