BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Ngô Huyền Trân LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM THỊ NGỌC HOA Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Ngô Huyền Trân
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học hóa học
Mã số: 60 14 10
trung học cơ sở và một số sinh viên trường Đại học Sài Gòn đã nhiệt tình giúp
tôi thực nghiệm đề tài:
Cô Trần Thị Bổn, Cô Vũ Thị Hạnh gi
áo viên trường Thực nghiệm sư
phạm, Quận 5;
Thầy Tạ Minh Khang, Cô Võ Thị Xuân Yến giáo viên trường Bình Trị
Đông, Quận Tân Phú;
Cô Nguyễn Thị Phương, giáo viên trường Bình Hưng Hoà, Quận Tân Phú;
Cô Lê Thị Màu, giáo viên trường Phong Phú, Quận Bình Chánh;
Sinh viên Lê Thanh Hiệp, Lê Việt Hùng, Trần Lợi Lợi lớp Hoá K05; Châu
Nguyễn Hồng Dung, Lê Đức Vân Sơn lớp Hóa K06;
Tập thể giáo viên lớp Đại học hóa K14 trường Đại học Sài Gòn.
Tp Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2008
Ngô Huyền Trân MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong thời gian dài nhà trường chúng ta chỉ sử dụng các bài tập tự luận
cho học sinh (HS) trong dạy học và thi cử. Gần đây với những ưu điểm của
phương pháp TN, nhiều môn thi tốt nghiệp và tuyển sinh từ 2006- 2007 đã áp
dụng hình thức thi trắc nghiệm khách quan, như: Anh văn , lý, hóa, sinh v.v..
HS cũng thường được làm quen với phương pháp trắc nghiệm (TN) qua rất
nhiều trò chơi trên truyền hình, như: Rồng vàng, Ai là triệu phú, Đấu trường
100, Đường l
ên đỉnh Olympic, Hành trình văn hóa …
Sự thay đổi hình thức kiểm tra đánh giá này đã làm thay đổi phần nào
phương pháp dạy học ở nhà trường nói chung và môn hóa học nói riêng.
Số lượng bài tập TN cho môn hóa học 9 được biên soạn khá nhiều, nhưng
việc sử dụng chúng chưa được phổ biến vì một số khó khăn sau:
Sử dụng một số phần mềm vi tính như:
- Violet để soạn các bài tập TN khách quan, hỗ trợ cho GV trong việc
dạy học bằng giáo án điện tử;
- EMP
để biên soạn ngân hàng câu hỏi TN và tạo các đề kiểm tra TN
khách quan.
Thực nghiệm sư phạm các câu hỏi, các đề kiểm tra đã biên soạn.
Đánh giá kết quả nghiên cứu.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu sách giáo khoa hóa 9;
các sách viết về: TN, bài tập hóa học lớp 9.
Phương pháp thực nghiệm:
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm.
- Điều tra, phỏng vấn.
- Xử lý, thống kê. 6. Giới hạn của đề tài
Do điều kiện có hạn, chúng tôi chọn ngẫu nhiên một số bài tập TN và mẫu
đề kiểm tra trong nội dung câu TN và đề TN được biên soạn để thực nghiệm
sư phạm nhằm kiểm định giả thiết khoa học.
7. Giả thuyết khoa học
GV có thể sử dụng phần mềm EMP và Violet để soạn hoặc sao chép bài
tập TN theo từng chủ đề, tạo ngân hàng câu TN và các đề TN phù hợp với
quá trình dạy học. Sự hỗ trợ của công nghệ thông tin sẽ giảm n
hẹ sức lao
động của GV trong việc soạn, chấm bài kiểm tra TN và góp phần đổi mới
phương pháp dạy học.
8. Phạm vi thực nghiệm
Chương 1: 6 đề; Chương 2: 2 đề; Chương 3: 4 đề.
Thiết kế ngân hàng đề kiểm tra 15 phút trên máy, cụ thể:
Chương 1: 40 đề ; Chương 2 : 20 đề: ; Chương 3: 20 đề.
Thiết kế phiếu làm bài và chấm TN TN.
Sử dụng phần mềm Violet, thiết kế 244 câu TN gồm các dạng: câu hỏi
nhiều lựa chọn, câu đúng sai, câu ghép đôi, câu điền khuyết, bài tập ô chữ.
Cụ thể:
Chương 1:142 câu; Chương 2:56 câu; Chương 3:46 câu.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN
1.1. Trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
1.1.1. Khái niệm
Theo [22, tr.9-10]:
“ TN khách quan (TNKQ) là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học
tập của HS bằng hệ thống câu hỏi TN khách quan.
TN tự luận (TNTL) là phương pháp đánh giá kết quả học tập bằng việc
sử dụng công cụ đo lường là các câu hỏi, HS trả lời dưới dạng bài viết bằng
ngôn ngữ của m
ình trong một khoảng thời gian định trước”.
1.1.2. Ưu nhược điểm của trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm
tự luận
Chúng ta không thể khẳng định rằng phương pháp TN nào là tốt nhất, tùy
vào trường hợp cụ thể, mỗi phương pháp sẽ có những ưu điểm nổi bật được
Khi có thể tin tưởng vào khả năng chấm bài của GV là chính xác;
Khi không có nhiều thời gian để soạn đề nhưng có nhiều thời gian
chấm bài.
1.1.3. Các hình thức câu trắc nghiệm k
hách quan và nguyên tắc biên
soạn câu trắc nghiệm
Theo tác giả Dương Thiệu Tống [26, tr.47]:
“Các câu hỏi TN có thể được trình bày dưới nhiều hình thức khác nhau.
Hình thức nào cũng có những ưu điểm của nó, và vấn đề quan trọng đối với
người soạn thảo là biết công dụng của mỗi loại để lựa chọn hình thức câu TN
nào thích hợp nhất cho việc khảo sát khả năng hay kiến thức mà ta dự định đo
lường”.
Đa số các tác giả đều
phân chia các câu TN thành 4 loại theo Bảng 1.2: TRẮC NGHIỆM
KHÁCH QUAN
Câu TN
đúng sai
Câu TN
nhiều lựa chọn
Câu
ghép đôi
Câu
điền khuyết
Bảng 1.2. Phân loại câu trắc nghiệm
Đây là câu hỏi đơn giản nhất để TN kiến thức về những sự kiện;
Ít tốn thời gian.
Nhược:
Có sự may rủi, sự đoán mò đúng đến 50%, độ tin cậy thấp.
Gây tác dụng ngược vì HS có thể nhớ những câu phát biểu sai.
Phân tích:
Trong câu TN trên, Câu A, GV lấy nguyên văn có sẵn trong sách giáo khoa hóa 9, câu hỏi
này không đánh giá trình độ HS. Chỉ nên dùng khi cần HS thuộc một số
kiến thức cơ bản nào đó.
Câu D, GV dựa vào nguyên văn nội dung trong sách giáo khoa hóa 9,
nhưng có biến đổi chút ít. Sự đầu tư vào câu hỏi không nhiều.
Câu B và C, GV có sự đầu tư, chỉ cần dựa vào tính chất hóa học, GV
có thể xây dựng được một câu hỏi đúng sai. Vì vậy không cần nhiều thời
gian, GV có thể soạn rất nhiều loại câu hỏi này.
c. Nguyên tắc biên soạn loại câu hỏi đúng – sai
Các câu hỏi loại đúng – sai chỉ nên mang một ý tưởng chính yếu, không
nên có hai hay nhiều ý tưởng trong mỗi câu.
Tránh dùng những chữ như: “luôn luôn”, “tất cả”, “không bao giờ”,
“không thể được”, “chắc chắn”, vì các câu mang các từ này thường có triển
vọng sai. Ngược lại, những chữ như: “thường thường”, “đôi khi”, “ít khi”
lại hay đi đôi những câu trả lời đúng.
Viết đúng văn phạm. Tránh để HS chọn “sai” chỉ v
ì cách diễn đạt của
GV không chính xác.
lẫn giữa các từ khóa.
a.2. Câu điền khuyết có sẵn từ khóa
Ví dụ 1: Số từ khóa cho sẵn và bằng với số từ trong đáp án
Chọn các từ thích hợp vào các ô trống trong các câu sau:
Oxit bazơ là oxit của …(1)…và tương ứng với một …(2)… Oxit bazơ tác
dụng với …(3)…tạo thành dung dịch bazơ (kiềm), tác dụng với …(4)….tạo
thành muối và nước, tác dụng với …(5)…tạo thành muối.
Trường hợp này, HS chỉ cần điền đúng một số ô trống, là có thể đoán được
các từ khóa còn lại phải điền vào. Như vậy xác suất đoán mò cao. nước, oxit bazơ, kim loại,
phi kim, axit, bazơ,
oxit axit oxit bazơ, axit
Ví dụ 2: Số từ khóa cho nhiều hơn số
từ trong đáp án
Chọn các từ thích hợp vào các ô trống trong các câu sau:
Oxit bazơ là oxit của …(1)….và tương ứng với một …(2)… Oxit bazơ tác
dụng với …(3)…tạo thành dung dịch bazơ (kiềm), tác dụng với …(4)….tạo
thành muối và nước, tác dụng với …(5)…tạo thành muối.
So với ví dụ 1, trường hợp này xác suất đoán mò không cao, HS có nguy
a.1. Khi nội dung cần ghép ở 2 cột bằng nhau
Ví dụ 1: Hãy ghép các nội dung
ở cột (I) với một nội dung ở cột (II) cho phù
hợp
CỘT (I) CỘT (II)
1. CaO tác dụng với nước
2. Dẫn từ từ
khí CO
2
vào cốc đựng
. dung dịch nước vôi trong,
3. Cho dung dịch BaCl
2
vào dung dịch
HNO
3
,
4.Cho mãnh kẽm vào dung dịch axit HCl
A. xuất hiện kết tủa trắng.
B. không có hiện tượng gì.
C. xuất hiện bọt khí.
D. tạo thành dung dịch làm
quỳ tím hóa xanh, tỏa nhiều
nhiệt.
Đáp án: 1D; 2A; 3B ; 4C
a.2. Khi nội dung cần ghép ở hai cột không bằng nhau
Ví dụ 2: một nội dung ở cột I
ghép với một nội dung cột II
2
vào cốc đựng
dung dịch nước vôi trong,
3. Cho dây nhôm vào dung dịch
NaOH,
4. Cho mãnh kẽm vào dung dịch axit
HCl,
A. xuất hiện kết tủa xanh.
B. xuất hiện bọt khí, dung dịch tạo
thành làm quỳ tím hóa xanh.
C. xuất hiện kết tủa trắng.
D. không có hiện tượng gì.
E. xuất hiện bọt khí.
Đáp án: 1B; 2C; 3E; 4E
Ở ví dụ 3, có phương án nhiễu, mặc dù tỉ lệ đoán mò giảm nhưng HS phải
tốn thời gian đọc hết các phương án, do đó số lượng câu TN giảm đi, nên cơ
hội kiểm tra các kiến thức khác giảm.
b. Ưu nhược điểm của câu ghép đôi
Ưu:
Dễ viết và dễ dùng;
Giảm yếu tố đoán mò;
Có thể đo các mức trí năng khác nhau.
Nhược:
Số câu ở hai cột bằng nhau, nếu HS biết được một số câu trả lời, các
câu còn lại dù không biết hết nhưng có thể đoán mò;
Số câu trả lời cột bên phải quá nhiều so với cột bên trái, HS mất nhiều
thời gian đọc.
c. Nguyên tắc biên soạn loại câu hỏi
O
3
, BaO, Al
2
O
3
*c.K
2
O, Na
2
O, CaO, BaO
1
d. Na
2
O, CaO, K
2
O, Fe
2
O
3
Ví dụ 2: Tập hợp những oxit bazơ nào sau đây tác dụng được với nước ở
nhiệt độ thường:
a. Al
2
O
3
, BaO, CaO, MgO b. Na
2
O, CaO, K
b. Ưu nhược điểm của câu hỏi nhiều lựa chọn
Ưu:
Khi phân tích tính chất của mỗi câu hỏi, những câu nhiễu trong TN
nhiều lựa chọn giúp người học tránh những sai lầm thường mắc phải, đồng
thời giúp GV điều chỉnh nội dung dạy học cho sát đối tượng.
Độ tin cậy cao. Yếu tố đoán mò giảm khi số phương án lựa chọn tăng
lên.
Độ phân biệt tương đối lớn, dùng tốt trong các kì thi tốt nghiệp và
tuyển sinh.
Bảo đảm tính khách quan khi chấm, chấm nhanh, có thể đục lỗ hoặc
dùng máy quét để chấm.
Nhược:
Khó soạn câu hỏi, tốn kém nhiều thời gian, tốn nhiều giấy để in.
Đôi khi các câu TN không có bề sâu, thang điểm bằng nhau không
công bằng giữa các câu.
Bản thân câu TN khách quan bị chi phối chủ quan của người sọan đề
TN.
Không cho phép người học diễn đạt ý tưởng và phát huy tính sáng tạo.
c. Nguyên tắc biên soạn loại câu hỏi nhiều lựa chọn
c.1. Đối với phần dẫn
Câu hỏi phải diễn đạt rõ ràng, mang trọn ý nghĩa.
Câu dẫn là câu nêu vấn đề cần ngắn gọn.
Câu dẫn phải mạch lạc, không dùng nhiều từ phủ định.
Ví dụ: Không
để canxi oxit lâu ngày trong tự nhiên do canxi oxit sẽ không giữ
chất lượng vì đã tác dụng với:
c. Nhóm gồm các nguyên tố có cùng số lớp elctron được xếp theo chiều dọc.
d. Nhóm gồm dãy các nguyên tố được xếp theo chiều điện tích hạt nhân tăng
dần. Hạn chế dùng đáp án” tất cả các câu trên đều đúng”, “tất cả các câu
trên đều sai”, “a,b đều đúng”, “a,b đều sai”.
Nhân xét:
Từ phân tích trên, ta có thể rút ra kết luận:
Trong qua trình biên soạn câu hỏi nhiều lựa chọn, GV nhiều kinh nghiệm
sẽ chọn những câu nhiễu hợp lý, chính HS là người đánh giá chất lượng của
câu TN chính xác nhất (không phải là chuyên gia TN, những GV khác hoặc
hội đồng GV).
1.2. Thiết kế bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan
Theo [21, tr. 90- 91- 92- 93- 94]:
Yêu cầu xây dựng một bài TN theo kiểu câu hỏi nhiều lựa
chọn, gồm các
bước sau đây:
Bước 1:
Xác định mục tiêu và điều kiện làm bài TN
Mục tiêu: Xác định xây dựng bài TN để làm gì (đánh giá tiếp thu môn
học, tuyển HS giỏi, đánh giá giảng dạy của GV…).
Điều kiện: Kiểm tra phần nào của môn học, thời gian làm bài, cách
thức làm bài, cách thức chấm bài…
Bước 2:
Xây dựng bảng trọng số của bài TN
Bảng trọng số thể hiện: mục tiêu từng phần và của toàn bài TN.
Trước khi viết các câu TN, người ta thiết kế dàn bài TN, đó là xét đến một
ma trận ghi số câu cần kiểm tra cho mỗi nội dung và mục tiêu. Một chiều
toán
Cộng
Biết
2 1 1 0 4
Hiểu
0 1 1 0 2
Vận dụng
0 1 0 1 2
Cộng
2 3 2 1 8
Bước 3: Viết các câu TN
Câu 1
: Trong các kim loại sau, kim loại nào hoạt động hóa học mạnh nhất?
a. Fe b. Ag *c. Na d. Al
Câu 2
: Dãy kim loại nào sao đây được sắp xếp theo chiều hoạt động kim loại
giảm dần từ trái sang phải:
a. Na, Al, Mg, Fe, Ag, Cu *b. Na, Mg, Al, Fe, Cu, Ag
c. Na, Mg, Fe, Al, Cu, Ag d. Na, Mg, Ag, Fe, Cu, Al
Câu 3:
Trong các cặp chất sau đây, cặp nào tác dụng được với nhau ?
a. Cu + FeSO
4
b. Fe + Zn(NO
3
)
2
*c. Fe + AgNO
3
4
:
*a. Có khí không màu thoát ra và xuất hiện chất không tan màu xanh.
b. Cu màu đỏ sinh ra bám vào bề mặt Na, màu dung dịch không thay đổi.
c. Có khí không màu thoát ra, dung dịch màu xanh chuyển dần sang không
màu.
d. Cu màu đỏ sinh ra bám vào bề mặt Na, dung dịch nhạt màu dần.Câu 8
:
Nhúng thanh sắt vào dung dịch CuSO
4
. Sau một thời gian, lấy thanh
sắt ra, làm khô, khối lượng thanh sắt:
*a. Tăng b. Giảm c. Không thay đổi d. Không xác định được.
Bước 4:
Lập các đề thi TN
Các đề thi TN được lập bằng cách tổ hợp các câu hỏi TN
đã soạn và được
phân bố các loại câu hỏi theo bảng trọng số.
Điểm bài TN =
Tổng số câu TN
* tổng số câu đúng
tỷ lệ thí sinh trả lời đúng cho ta số đo gần đúng về độ khó (độ dễ) của câu hỏi.
Tổng số thí sinh làm bài đúng
P = * 100
Tổng số thí sinh làm bài
Bảng 1.5. Tính độ khó câu TN (độ dễ): P càng lớn, câu hỏi càng dễ. Đối với câu TN nhiều lựa chọn, thì độ khó
trung bình được tính như sau:
Đối với câu 5 lựa chọn: [(100/5)+100]/2=60%
Đối với câu 4 lựa chọn: [(100/4)+100]/2=62,5%
Như vậy ngoài khoảng trên là câu khó hoặc câu dễ.
Theo [21, tr 191], thang tiêu chuẩn độ khó P như sau:
Khoảng giá trị chấp nhận: 5% - 95%;
Rất dễ: 91% - 95 %; Dễ: 76% - 90%; Trung bình: 25% - 75%;
Khó: 10% - 24%; Rất khó: 5% - 9%.
b. Độ khó của bài trắc nghiệm
Theo tác giả Dương T
hiệu Tống [26, tr.132]: phương pháp đơn giản để
tính độ khó của bài TN là quan sát phân bố điểm số của bài TN.
Nếu điểm trung bình của bài TN nằm xấp xỉ hay ngay ở trung điểm giữa
điểm cao nhất và thấp nhất, thì bài TN đó thích hợp cho nhóm HS ta khảo sát.
Nếu điểm trung bình của bài TN cách xa trung điểm giữa điểm cao nhất và
điểm t
hấp nhất thì bài TN đó khó hay quá dễ đối với nhóm HS ta khảo sát.
Bảng 1.6. Tính độ khó một bài TN
TỔNG SỐ HỌC SINH (n = 45HS)
1
n - 1
* số câu sai
= điểm đã hiệu chỉnh
c. Hiệu chỉnh đoán mò
Theo tác giả [23, tr 62, 63], sự hiệu chỉnh thường dùng
cho sự đoán mò
trong bài TN có n phương án chọn là được nêu trong Bảng 1.7:
Bảng 1.7. Tính điểm đã hiệu chỉnh cho sự đoán mò
Ví dụ bài TN 100 câu , trong đó các câu
TN có 4 phương án chọn, HS làm
đúng 80 câu và sai 20 câu, điểm thật sự của bài TN là:
80 -
41
1
* 20 = 73,33
Điểm trên cho ta biết: trong 80 câu TN chọn đúng thì thật sự chỉ có 73 câu
là chắc chắn đúng, còn 7 câu có thể là do ngẫu nhiên chọn đúng.
Số câu đúng càng nhiều (HS khá) thì hiệu chỉnh đoán mò càng ít và ngược
lại, số câu đúng càng ít (HS yếu) thì hiệu chỉnh đoán mò càng cao, ví dụ:
HS làm đúng 40 câu, sai 60 câu, chỉ có là 20 câu đúng thật sự, còn 20 câu có
thể là do đoán mò.
(40 -