MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các chữ viết tắt 3
Danh mục các hình vẽ, bảng, đồ thị 4
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Lịch sử nghiên cứu 6
3. Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 6
4. Mục đích và nhiệm vụ 7
5. Giả thuyết khoa học 7
6. Phương pháp nghiên cứu 7
7. Những điểm mới của luận văn 8
PHẦN 2. NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KIỂM
TRA – ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DẠY HỌC 9
1.1. Cơ sở lí luận về kiểm tra - đánh giá 9
1.1.1. Khái niệm, chức năng của kiểm tra - đánh giá 9
1.1.1.1. Khái niệm kiểm tra - đánh giá 9
1.1.1.2. Chức năng của kiểm tra - đánh giá 10
1.1.2. Ý nghĩa, bản chất của việc kiểm tra - đánh giá 11
1.1.2.1. Ý nghĩa của việc kiểm tra - đánh giá 11
1.1.2.2. Bản chất của kiểm tra - đánh giá 11
1.1.3. Tiêu chí đánh giá 12
1.1.3.1. Mục tiêu dạy học, mục đích học tập - cơ sở của việc đánh giá kết quả dạy học 12
1.1.3.2. Những nguyên tắc lý luận dạy học cần tuân thủ khi kiểm tra - đánh giá 12
1.1.3.3. Các tiêu chuẩn về nhận thức áp dụng cho bài kiểm tra - đánh giá 13
1.1.3.4. Quy trình của việc kiểm tra - đánh giá 13
1.1.4. Các hình thức kiểm tra - đánh giá 14
2.2. Tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan dùng để kiểm tra -
đánh giá kết quả dạy học hóa học lớp 12 ở trường THPT 36
(Xem ở phần phụ lục của luận văn) 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 36
Chương 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 37
3.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm 37
3.2. Đối tượng và cơ sở thực nghiệm 37
3.3. Tiến trình thực nghiệm sư phạm 37
3.3.1. Chuẩn bị cho quá trình thực nghiệm 37
3.3.2. Thiết kế chương trình thực nghiệm 37
3.3.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm 68
3.4. Kết quả thực nghiệm sư phạm, phân tích, đánh giá 70
3.4.1. Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 70
3.4.2. Lập bảng, biểu và vẽ đồ thị đường lũy tích, đồ thị hình cột 71
3.5. Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 76
PHẦN 3. KẾT LUẬN 77
PHẦN 4. TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTHH : Bài tập hóa học
CTCT : Công thức cấu tạo
CTPT : Công thức phân tử
dd : dung dịch
ĐC : Đối chứng
đktc : điều kiện tiêu chuẩn
đpdd : điện phân dung dịch
đpnc : điện phân nóng chảy
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
KT - ĐG : Kiểm tra - đánh giá
(Trích nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX)
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục, chúng ta phải đổi mới nội dung và
phương pháp dạy học ở các môn học, các cấp, bậc học. Trong đó việc đổi mới
phương pháp kiểm tra - đánh giá (KT - ĐG) kiến thức, kĩ năng của học sinh (HS) là
một khâu quan trọng.
Thông qua kiểm tra - đánh giá, giáo viên (GV) biết được trình độ kiến thức,
kĩ năng của HS. Việc KT - ĐG cũng giúp GV rút kinh nghiệm về xác định mục tiêu,
lựa chọn phương pháp và những nội dung cần chú ý đi sâu hơn trong quá trình
giảng dạy của mình. Thực chất của các vấn đề đó là thu được các tín hiệu phản hồi,
các liên hệ ngược, làm cho mối quan hệ thầy-trò trong quá trình dạy học trở thành
một hệ kín, hệ điều khiển.
Trên thực tế, việc KT - ĐG kết quả dạy học môn hoá học vẫn được tiến hành
chủ yếu theo phương pháp tự luận, thiếu tính khách quan, tốn thời gian, lượng kiến
thức được kiểm tra ít, không sử dụng được phương tiện hiện đại trong việc chấm
bài.
Để khắc phục nhược điểm của phương pháp kiểm tra truyền thống, việc
nghiên cứu sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ) trong KT - ĐG
là một vấn đề cần thiết và phù hợp với định hướng đổi mới nội dung phương pháp
dạy học ở các bậc học mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra, nhất là trong thời điểm
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang thực hiện chương trình sách giáo khoa mới,
thực hiện chủ trương “hai không với bốn nội dung” ở cả hai chương trình chuẩn và
nâng cao thì việc nghiên cứu sử dụng bài tập TNKQ là rất cần thiết.
5
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài :
“Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan dùng
để kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học hóa học lớp 12 ở trường Trung học phổ
thông (THPT)” .
2. Lịch sử nghiên cứu
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về bài tập hóa học(BTHH) và việc sử dụng
BTHH trong dạy học hoá học. Ở Việt Nam có GS.TS. Nguyễn Ngọc Quang nghiên
trường THPT.
4. Mục đích và nhiệm vụ
4.1. Mục đích của đề tài
Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập TNKQ dùng để KT - ĐG
kết quả dạy học hóa học lớp 12 (chương trình nâng cao) ở trường THPT nhằm góp
phần đổi mới phương pháp KT - ĐG kết quả dạy học.
4.2. Nhiệm vụ của đề tài
1. Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề KT - ĐG bằng bài tập
TNKQ.
2. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc xây dựng bài tập TNKQ.
3. Tuyển chọn, xây dựng, sắp xếp hệ thống bài tập TNKQ theo dạng câu
nhiều lựa chọn.
4. Nghiên cứu việc sử dụng bài tập TNKQ trong KT - ĐG kết quả học tập
của HS THPT.
5. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá chất lượng và hiệu quả của hệ
thống bài tập TNKQ đã được tuyển chọn, xây dựng, sắp xếp trong thực tế dạy học ở
một số trường THPT.
5. Giả thuyết khoa học
Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập TNKQ dùng để KT - ĐG
kết quả dạy học hóa học 12 nâng cao ở trường THPT sẽ góp phần nâng cao chất
lượng dạy học hóa học ở trường THPT.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu tài liệu lí luận dạy học có liên quan đến phương pháp KT - ĐG.
- Lí luận về phương pháp KT - ĐG; đi sâu về phương pháp kiểm tra TNKQ.
- Quy trình KT - ĐG và phương pháp xây dựng bài tập trắc nghiệm.
- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình hóa học lớp 12 THPT-Chương
trình nâng cao.
7
và bổ sung cho nhau đó là : đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh.
Về mặt lý luận dạy học, kiểm tra có vai trò liên hệ nghịch trong quá trình dạy
học. Kiểm tra để biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy của thầy và quá
trình học của trò để từ đó có những quyết định cho sự điều khiển tối ưu của cả thầy
lẫn trò. HS sẽ học tốt hơn nếu thường xuyên được kiểm tra và được đánh giá một
cách nghiêm túc, công bằng với kỹ thuật cao và đạt kết quả tốt.
Đánh giá kết quả dạy học là quá trình đo lường mức độ đạt được của HS về
các mục tiêu và nhiệm vụ của quá trình dạy học. Mô tả một cách định tính và định
lượng : tính đầy đủ, tính đúng đắn, tính chính xác, tính vững chắc của kiến thức,
mối liên hệ của kiến thức với đời sống, các khả năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn, mức độ thông hiểu, khả năng diễn đạt bằng lời nói, bằng văn viết, bằng chính
ngôn ngữ chuyên môn của HS… và cả thái độ của HS trên cơ sở phân tích các
thông tin phản hồi từ việc quan sát, kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ
được giao, đối chiếu với những chỉ tiêu, yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của
môn học.
Đánh giá kết quả dạy học là một quá trình phức tạp và công phu. Để việc
đánh giá kết quả dạy học đạt kết quả tốt thì quy trình đánh giá gồm những công
đoạn sau :
- Phân tích mục tiêu học tập thành các kiến thức, kỹ năng.
- Đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được các kiến thức, kỹ năng dựa trên
những dấu hiệu có thể đo lường hoặc quan sát được.
9
- Tiến hành đo lường các dấu hiệu đó để đánh giá mức độ đạt được về các
yêu cầu đặt ra, biểu thị bằng điểm số.
- Phân tích, so sánh các thông tin nhận được với các yêu cầu đề ra rồi đánh
giá, xem xét kết quả học tập của HS, mức độ thành công của phương pháp giảng
dạy của GV… để từ đó có thể cải tiến, khắc phục nhược điểm.
Trong đánh giá phải quán triệt nguyên tắc vừa sức, bám sát yêu cầu của
chương trình.
1.1.1.2. Chức năng của kiểm tra - đánh giá
những thông tin "liên hệ ngược trong" giúp người học tự điều chỉnh hoạt động học.
Giúp cho HS kịp thời nhận thấy mức độ đạt được những kiến thức của mình, còn lỗ
hổng kiến thức nào cần được bổ sung trước khi bước vào phần mới của chương
trình học tập, có cơ hội để nắm chắc những yêu cầu cụ thể đối với từng phần của
chương trình.
Ngoài ra, thông qua KT – ĐG, HS có điều kiện tiến hành các hoạt động trí
tuệ như : ghi nhớ, tái hiện, chính xác hoá, khái quát hoá, hệ thống hoá kiến thức.
KT - ĐG giúp HS phát huy trí thông minh, linh hoạt, vận dụng kiến thức đã
học để giải quyết những tình huống thực tế.
Nếu việc KT - ĐG được tổ chức nghiêm túc, công bằng sẽ giúp HS nâng cao
tinh thần trách nhiệm trong học tập; có ý chí vươn lên đạt kết quả cao hơn, củng cố
lòng tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan
tự mãn.
Với GV : Việc KT - ĐG cung cấp cho GV những thông tin "liên hệ ngược
ngoài", qua đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời hoạt động dạy của mình.
KT - ĐG kết hợp với việc theo dõi thường xuyên giúp cho GV nắm được
một cách cụ thể và khá chính xác năng lực và trình độ mỗi HS trong lớp, từ đó có
biện pháp cụ thể, thích hợp để bồi dưỡng riêng cho từng nhóm HS, nâng cao chất
lượng học tập chung cho cả lớp.
Qua KT – ĐG, GV xem xét hiệu quả của những cải tiến trong nội dung,
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mà mình đã thực hiện.
1.1.2.2. Bản chất của kiểm tra - đánh giá
Về mặt lý luận dạy học thì kiểm tra thuộc phạm trù phương pháp, nó giữ vai
trò liên hệ nghịch trong quá trình dạy học. Từ những thông tin về kết quả của hoạt
động công tác trong hệ dạy học mà góp phần quan trọng quyết định cho sự điều
khiển tối ưu hoạt động của hệ dạy (cho cả người dạy và người học).
Trong dạy học, KT - ĐG là một vấn đề hết sức phức tạp, nếu không cẩn thận
dễ dẫn đến sai lầm. Vì vậy phương pháp dạy học nhất thiết phải được đổi mới, cải
cách KT - ĐG, sử dụng kỹ thuật ngày càng tiên tiến, có độ tin cậy cao, bên cạnh đó
còn có công cụ KT - ĐG cho HS để họ tự KT - ĐG kết quả lĩnh hội kiến thức của
4. Đảm bảo tính thuận tiện của các hình thức KT - ĐG.
5. Bảo đảm tính khách quan của đánh giá : Đây là yêu cầu không thể thiếu
được, nó ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình đánh giá kết quả học tập. Đánh giá khách
quan kết quả học tập của người học sẽ giúp cho GV thu được tín hiệu ngược trong
quá trình dạy học một cách chính xác, từ đó điều chỉnh cách dạy của GV, cách học
của HS nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
12
6. Phải đảm bảo tính đặc thù của môn học kết hợp đánh giá lý thuyết và đánh
giá thực hành; đảm bảo tính kế thừa và phát triển.
7. Phải dựa vào những mục tiêu cụ thể trong một bài, một chương hay sau
một học kỳ… với những kiến thức, kỹ năng, thái độ cụ thể tương ứng với nội dung
và phương pháp dạy học của từng lớp học, cấp học.
8. Phải chú ý đến những xu hướng đổi mới trong dạy học ở trường THPT.
Việc đánh giá phải giúp cho việc học tập một cách tích cực, chủ động, giúp HS có
năng lực giải quyết vấn đề một cách linh hoạt và sáng tạo.
1.1.3.3. Các tiêu chuẩn về nhận thức áp dụng cho bài kiểm tra - đánh giá
Có 6 tiêu chuẩn về quá trình nhận thức được áp dụng cho KT - ĐG :
- Biết (hay còn gọi là nhớ lại): Đây là khả năng thấp nhất trong lĩnh vực kiến
thức.
- Hiểu : Là kỹ năng HS hiểu được vấn đề họ biết, có khả năng áp dụng
những kiến thức đã biết vào việc giải quyết những vấn đề mới.
- Ứng dụng : Là khả năng vận dụng các kiến thức quy luật, khái niệm, định
luật… nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể. HS có khả năng tư duy tốt sẽ vận dụng
kiến thức tốt.
- Phân tích : Là khả năng tách ra từng phần để nghiên cứu, để tìm hiểu rõ đối
tượng hay hiện tượng. Phân tích còn là sự phân biệt các dấu hiệu, các đặc tính riêng
biệt của đối tượng hay hiện tượng đó theo một hệ thống nhất định.
- Tổng hợp : Là kỹ năng kết hợp các yếu tố riêng biệt để rút ra những cái
chung, các bản chất nhất của đối tượng hay hiện tượng, tức là những dấu hiệu trong
một tổng thể phân tích và tổng hợp có sự liên kết mật thiết với nhau là hai mặt của
c) Theo vấn đề lớn
d) Sơ kết học kỳ
e) Tổng kết năm
Về tổ chức
a) Định kỳ có báo trước
b) Bất thường
c) Vấn đáp trên lớp
Kiểu Test
câu hỏi kiểm tra
Theo nội dung dạy học
a) Thí nghiệm thực hành
b) Bài toán
c) Đọc sách, tài liệu, làm đề
cương.
Bài làm
kiểm tra
Viết báo cáo khoa học
a) Cá nhân
b) Nhóm
c) Cả lớp
Hoạt động chuyên đề
có hướng dẫn
Nghiên cứu đề tài khoa học (quan sát, thu
thập dữ liệu, làm báo cáo, thuyết trình).
Bảng 1.2 : Phân loại các kiểu Test kiểm tra
1.1.4.1. Kiểm tra miệng
Kiểm tra miệng là kiểm tra vấn đáp, là hình thức kiểm tra thường xuyên, nó
được thực hiện qua các khâu ôn tập, củng cố bài cũ, tiếp thu bài mới, vận dụng kiến
thức đã học vào thực tiễn. Với phương pháp kiểm tra miệng, GV có thể KT - ĐG
được mức độ thu nhận kiến thức của người học, biết được khả năng tư duy, khả
hoặc
không
Học sinh
chọn một
lời giải
Có thể
phối hợp
xen kẽ
2 kiểu
b. Những ưu, nhược điểm của bài kiểm tra viết
* Ưu điểm :
1. Trong khoảng thời gian nhất định có thể kiểm tra tất cả HS trong lớp.
2. Việc chuẩn bị bài kiểm tra ít tốn thời gian, công sức.
3. Phát huy được độc lập, tư duy sáng tạo của HS.
4. Qua bài làm của HS, GV có thể đánh giá được trình độ kiến thức, kỹ năng,
sự phát triển ngôn ngữ, cách diễn đạt vấn đề của HS.
5. Kết quả bài kiểm tra giúp GV đánh giá được tình hình tiếp thu chung của
cả lớp về một vấn đề, một nội dung nào đó.
* Nhược điểm :
1. Với khoảng thời gian nhất định không bao quát được toàn bộ kiến thức đã
học của HS mà chỉ kiểm tra được một phần kiến thức nhất định nào đó : khiến cho
HS dễ có chiều hướng học tủ.
2. Không kiểm tra được kỹ năng thực hành và khả năng tổ chức lao động của
HS.
3. Kết quả bài kiểm tra còn mang tính chủ quan của người chấm và phụ
thuộc vào khâu tổ chức kiểm tra, mất thời gian, công sức trong việc chấm bài.
1.1.4.3. Bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan
Hiện nay chúng ta đã sử dụng phương pháp TNKQ để kiểm tra kiến thức kỹ
năng của HS đạt được bằng hệ thống các bài tập trắc nghiệm và các câu trả lời ngắn,
yêu cầu HS phải lựa chọn câu trả lời và dùng ký hiệu quy ước để hoàn thành. Với
Khi soạn bài trắc nghiệm tự luận, GV cần phải diễn đạt câu hỏi một cách rõ
nghĩa, đầy đủ, cần làm rõ những yêu cầu trong câu trả lời cả về độ dài của nó; việc
chấm bài tốn thời gian.
1.2.2.2. Các dạng bài tập trắc nghiệm tự luận
a. Bài tập trắc nghiệm tự luận có sự trả lời mở rộng
Loại bài tập này có phạm vi tương đối rộng và khái quát HS được tự do diễn
đạt tư tưởng và kiến thức trong câu trả lời nên có thể phát huy óc sáng tạo và suy
luận. Loại câu trả lời này được gọi là tiểu luận.
b. Bài tập trắc nghiệm tự luận với sự trả lời có giới hạn
Loại này thường có nhiều câu hỏi với nội dung tương đối hẹp. Mỗi câu trả
lời là một đoạn ngắn nên việc chấm điểm dễ hơn.
Có 3 loại câu trả lời có giới hạn.
17
• Loại câu điền thêm và trả lời đơn giản. Đó là một nhận định viết dưới dạng
mệnh đề không đầy đủ hay một câu hỏi được đặt ra mà HS phải trả lời bằng một
câu hay một từ (trong TNKQ được gọi là câu điền khuyết).
• Loại câu từ trả lời đoạn ngắn trong đó HS có thể trả lời bằng hai hoặc 3 câu
trong giới hạn của GV.
• Giải bài toán có liên quan tới trị số có tính toán số học để ra một kết quả cụ
thể đúng theo yêu cầu của đề bài.
1.2.2.3. Ưu nhược điểm của trắc nghiệm tự luận
a. Ưu điểm
- Cho phép kiểm tra được nhiều người trong một thời gian ngắn, tốn ít thời
gian và công sức cho việc chuẩn bị của GV.
- Rèn cho HS khả năng trình bày, diễn tả câu trả lời bằng chính ngôn ngữ của
họ, đo được mức độ tư duy (khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh); Trắc nghiệm tự
luận không những kiểm tra được mức độ chính xác của kiến thức mà còn kiểm tra
được kỹ năng giải bài định tính cũng như định lượng của HS.
- Có thể KT - ĐG các mục tiêu liên quan đến thái độ, sự hiểu biết những ý
niệm, sở thích và khả năng diễn đạt tư tưởng của HS.
Ngoài vấn đề thời gian, còn có vấn đề quan trọng hơn cả là làm sao cho số
bài tập trong bài kiểm tra trắc nghiệm tiêu biểu cho toàn thể kiến thức mà ta đòi hỏi
ở HS qua môn học hay bài học. Nếu số bài tập quá ít thì không bao trùm đầy đủ nội
dung của môn học, còn nếu số bài tập quá nhiều thì lại bị hạn chế bởi thời gian. Số
bài tập trong một bài trắc nghiệm, dù bao nhiêu cũng chỉ là một “mẫu” (sample)
trong toàn thể “dân số” (population) các bài tập thích hợp với nội dung, mục tiêu
mà ta muốn khảo sát. Cho nên, một bài kiểm tra trắc nghiệm có rất nhiều bài tập
chưa hẳn là một bài kiểm tra trắc nghiệm có giá trị, nếu các bài tập ấy không tiêu
biểu cho “dân số” các bài tập thích hợp của môn học. Vấn đề khó khăn cho người
soạn trắc nghiệm là không thể biết được cái “dân số” ấy là bao nhiêu để có thể từ đó
rút ra số bài tập cần thiết cho bài kiểm tra trắc nghiệm mình dự định soạn thảo. Tuy
nhiên, nếu ta thiết lập dàn bài trắc nghiệm một cách kỹ càng và căn cứ vào thời gian
qui định cho bài kiểm tra trắc nghiệm mà phân bố số bài tập hợp lí cho từng phần
của nội dung và mục tiêu dạy học, cũng có nhiều hy vọng lựa chọn được số bài tập
“đại diện” cho “dân số” các bài tập thích hợp.
Số lượng bài tập mà một HS có thể trả lời được trong một phút tuỳ thuộc loại
bài tập trắc nghiệm sử dụng, vào mức độ phức tạp của quá trình tư duy và cả thói
quen của HS. Một HS làm nhanh nhất có thể làm xong bài trắc nghiệm chỉ trong
nửa thời gian của HS chậm nhất. Vì lí do đó, ta khó có thể xác định chính xác cần
19
phải có bao nhiêu bài tập trong bài kiểm tra trắc nghiệm với số thời gian ấn định
cho nó. Vậy phương pháp tốt nhất là rút kinh nghiệm từ những bài trắc nghiệm
tương tự với những lớp học tương tự. Trong ttrường hợp không có những điều kiện
như vậy, ta có thể giả định rằng, ngay cả những HS làm rất chậm cũng có thể trả lời
bài tập trắc nghiệm nhiều lựa chọn trong một phút, và một câu loại đúng - sai trong
nửa phút. Nếu những câu dài hơn hay phức tạp hơn thường lệ thì ta phải xem xét lại
thời gian giả định ấy. Có thể tính thời gian trung bình cho mỗi câu trong một bài
kiểm tra (gồm cả câu dễ và câu phức tạp) là một phút rưỡi (câu dễ bù thời gian cho
câu phức tạp).
b. Mức độ khó của các bài tập trắc nghiệm
khả năng trả lời có sẵn, các khả năng, các phương án trả lời khác nhau nhưng đều có
vẻ hợp lý (hay còn gọi là các câu nhiễu).
* Ưu điểm :
• GV có thể dùng loại bài tập này để KT - ĐG những mục tiêu dạy học
khác nhau.
• Độ tin cậy cao hơn khả năng đoán mò hay may rủi ít hơn so với các loại
bài tập TNKQ khác khi số phương án lựa chọn tăng lên, HS buộc phải xét đoán,
phân biệt kỹ trước khi trả lời.
• Tính giá trị tốt hơn với bài trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để chọn có
thể đo được các khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật…, tổng quát hoá…
rất có hiệu quả.
• Thật sự khách quan khi chấm bài. Điểm số bài TNKQ không phụ thuộc
vào chữ viết, khả năng diễn đạt của HS hoặc chủ quan của người chấm.
* Nhược điểm :
• Loại bài tập này khó soạn và phải tìm cho được câu trả lời đúng nhất, còn
những câu còn lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý. Ngoài ra phải soạn bài tập
sao cho có thể đo được các mức trí năng cao hơn mức biết, nhớ, hiểu.
• Không thoả mãn với những HS có óc sáng tạo, tư duy tốt có thể tìm ra
những câu trả lời hay hơn đáp án.
• Các bài tập TNKQ nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán
đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm
bằng bài tập trắc nghiệm tự luận soạn kỹ.
21
• Tốn kém giấy mực để in và mất nhiều thời gian để HS đọc nội dung câu
hỏi.
* Những lưu ý khi soạn bài tập TNKQ nhiều lựa chọn
Bài tập TNKQ loại này có thể dùng thẩm định trí năng ở mức biết,
khả năng vận dụng, phân tích, tổng hợp hay ngay cả khả năng phán đoán cao hơn.
Vì vậy khi soạn bài tập loại này cần lưu ý :
- Trong việc soạn các phương án trả lời sao cho câu đúng phải đúng
d. Bài tập trắc nghiệm điền khuyết
Đây là dạng bài tập TNKQ mà HS phải điền từ hoặc cụm từ thích hợp với
các chỗ để trống.
Có 2 cách xây dựng dạng này :
- Cho trước từ hoặc cụm từ để HS chọn.
- Không cho trước để HS phải tự tìm. Lưu ý phải soạn thảo dạng câu này như
thế nào đó để các phương án điền là duy nhất.
* Ưu điểm : HS không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra, tự tìm ra
câu trả lời. Loại này dễ soạn hơn bài tập trắc nghiệm nhiều lựa chọn.
* Nhược điểm : Khi soạn loại bài tập này thường dễ mắc sai lầm là người
soạn thường trích nguyên văn các câu từ sách giáo khoa. Ngoài ra loại bài tập này
thường chỉ giới hạn vào chi tiết vụn vặt, chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu
khách quan hơn những dạng câu hỏi TNKQ khác.
e. Bài tập bằng hình vẽ
Trên hình vẽ sẽ cố ý để thiếu hoặc chú thích sai, yêu cầu HS chọn một
phương án đúng hay đúng nhất trong số các phương án đã đề ra, bổ sung hoặc sửa
chữa sao cho hoàn chỉnh, loại bài tập này được sử dụng khi kiểm tra kiến thức thực
hành hoặc quan sát thí nghiệm của HS.
1.2.4. Ưu, nhược điểm của trắc nghiệm khách quan
1.2.4.1. Ưu điểm
- Trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra được nhiều kiến thức đối với
nhiều HS; vì vậy buộc HS phải nắm được tất cả các nội dung kiến thức đã học,
tránh được tình trạng học tủ, học lệch.
- Tiết kiệm được thời gian và công sức chấm bài của GV.
- Việc tính điểm rõ ràng, cụ thể nên thể hiện tính khách quan, minh bạch
- Gây hứng thú và tích cực học tập của HS.
- Giúp HS phát triển kỹ năng nhận biết, hiểu, ứng dụng và phân tích.
- Với phạm vi nội dung kiểm tra rộng, HS không thể chuẩn bị tài liệu để
quay cóp. Việc áp dụng công nghệ mới vào việc soạn thảo các đề thi cũng hạn chế
đến mức thấp nhất hiện tượng quay cóp và trao đổi bài.
- Việc phân tích các câu hỏi trước tiên cho chúng ta có thể sữa chữa lại
những câu hỏi chưa hay, lựa chọn được những câu hỏi đạt chất lượng.
24
- Thông qua kết quả của bào kiểm tra, tự kiểm tra có thể giúo GV đánh giá
được mức độ thành công của công việc giảng dạy, đồng thời giúp cho HS thấy được
những lỗ hổng kiến thức trong quá trình học tập.
1.2.5.2. Phương pháp phân tích câu TNKQ
Phân tích câu hỏi và thống kê kết quả kiểm tra, nhằm để xác định các chỉ số như
độ khó, độ phân biệt, độ tin cậy, độ giá trị của câu hỏi cũng như tỉ lệ phần trăm HS
đạt được so với yêu cầu kiến thức trong một chương. Việc phân tích này đòi hỏi
nhiều thời gian nếu không có sự hỗ trợ của máy tính. Qua sự phân tích đó cho phép
chúng ta nâng cao chất lượng bài trắc nghiệm.
Để đánh giá chất lượng của câu TNKQ hoặc của đề thi TNKQ, người ta
thường dùng một số đại lượng đặc trưng.
+ Trung bình cộng: Tham số đặc trưng cho sự tập trung của số liệu.
X
=
∑
i i
n X
N
+ n
i
là số HS đạt điểm X
i
;
+
X
là trung bình cộng số câu đúng;
X
.100%
+ Nếu V < 30%: Độ dao động đáng tin cậy.
+ Nếu V > 30%: Độ dao động không đáng tin cậy.
+ Độ tin cậy của bài kiểm tra
Tính độ tin cậy r của đề thi bằng công thức Kuder – Richardson với:
r =
2
pq
k
1
k 1 S
−
÷
−
∑
p là độ khó của câu hỏi, q = 1 – p.
k là số câu hỏi có trong bài.
r < 0 0 < r
≤
0,5 0,6 < r
≤
0,7 0,8 < r
≤
1
Lỗi do tính toán,
phải tính lại.