sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vào việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn hoá học 8, 9 - Pdf 24

SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO TỈNH HOÀ BÌNH
SÁNG KIẾN
“ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN
VÀO VIỆC KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
MÔN HOÁ HỌC 8, 9 ”

1
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
Kiểm tra đánh giá là khâu cuối cùng đồng thời khởi đầu cho một
chương trình khép kín tiếp theo với một chất lượng cao hơn của quá trình dạy
học.
Vì vậy kiểm tra đánh giá là khâu không thể thiếu được của quá trình
dạy học, biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học. Kiểm tra,
đánh giá có quan hệ hữu cơ với các nhân tố mục đích, nội dung, phương pháp.
Vừa chịu sự chi phối, vừa đóng vai trò phản hồi, góp phần hoàn thiện các
nhân tố đó.
Đánh giá trong dạy học là một vấn đề hết sức phức tạp luôn chứa đựng
nguy cơ không chính xác dễ sai lầm. Trong những năm trước đây việc kiểm
tra đánh giá thường theo phương pháp truyền thống: Sử dụng các hệ thống
câu hỏi tự luận để học sinh trình bày kiến thức cho nên chỉ trong thời gian
ngắn lượng kiến thức được kiểm tra đánh giá rất hạn hẹp, học sinh thường học
tủ, học lệch, việc chấm bài của giáo viên cũng rất khó khăn đòi hỏi tốn rất
nhiều thời gian, kết quả đôi khi còn mang tính chủ quan và thiếu công bằng.
Vì vậy qua một thời gian tiếp thu chương trình đổi mới sách giáo khoa
phương pháp kiểm tra đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan
của Bộ giáo dục và trực tiếp là Sở giáo dục đào tạo, Phòng giáo dục tổ chức,
tôi nhận thấy sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan có ưu điểm:
Trong một thời gian ngắn có thể kiểm tra nắm vững kiến thức kỹ năng trong
phạm vi rộng của chương trình với số lượng lớn học sinh, tiết kiệm thời gian
chấm bài, hạn chế việc học tủ, học lệnh của học sinh . Việc chấm bài đảm bảo
được tính khách quan và công bằng. Cho nên tôi đã sử dụng phương pháp trắc

+ Trắc nghiệm tự luận.
- Trả lời bài một cách tự do hay theo một cấu trúc.
- Trả lời ngắn.
- Điền vào chỗ trống trong một câu dài.
- Giải bài tập (định tính hoặc định lượng hoặc bài tập thí nghiệm).
Thông qua kết quả của 2 năm học trước, tôi thấy còn tồn tại một số vấn
đề chưa giải quyết đó là:
+ Nội dung các câu chọn có chỗ chưa phù hợp với câu dẫn.
+ Cần tăng thêm số lượng phương án chọn.
3
+ Dấu hiệu đúng sai phải cơ bản rõ nhưng không lộ liễu để học sinh
thấy được ngay.
Và hoàn chỉnh hơn đề bài kiểm tra cũng như hệ thống câu hỏi trắc
nghiệm để đánh giá đúng chất lượng học sinh, phân loại được học sinh khá,
giỏi, trung bình, yếu kém, học sinh ngồi nhầm lớp.
II - NỘI DUNG CỤ THỂ:
Trong chương trình hoá học lớp 8, 9 hiện nay so với chương trình cũ có
những điểm đổi mới đó là coi trọng tính thiết thực, trên cơ sở đảm bảo tính cơ
bản khoa học hiện đại đặc trưng bộ môn, coi trọng việc hình thành và phát
triển tiềm lực trí tuệ của học sinh, mà vẫn đảm bảo thực hiện yêu cầu giảm tải,
chú ý mối quan hệ giữa đại trà và phân hoá, chú ý cập nhật hoá kiến thức môn
học, bổ xung kiến thức thiết yếu của thời đại Vì vậy cần tăng cường yêu
cầu kiểm tra đánh giá về mức độ nhận thức, năng lực thực hành vận dụng
tổng hợp kiến thức, không nặng về học thuộc lòng. Vì vậy phối hợp nhiều
phương pháp kiểm tra đánh giá đặt biệt phát huy tối đa phương pháp trắc
nghiệm khách quan kết hợp với trắc nghiệm tự luận để học sinh tự đánh giá
và đánh giá lẫn nhau.
Khi bước đầu năm học 2004 - 2005 và 2005 - 2006 tôi sử dụng phương
pháp dạy học mới đó là thể hiện vai trò là người tổ chức cho học sinh một
cách chủ động sáng tạo như quan sát, thực nghiệm, tìm tòi, thảo luận nhóm

O + CO
2
→ H
2
CO
3
2 Oxit axit II Fe
2
O
3
+ 6HCl → 2FeCl
3
+ 3H
2
O
II Na
2
O + H
2
O → 2NaOH
IV SO
2
+2NaOH → Na
2
SO
3
+ H
2
O
V CaO + SiO

3
PO
4
3. + HCl → CuCl
2
+ H
2
O
4. + H
2
SO
4
→ CuSO
4
+
5. CuO +
→
0
t
Cu + H
2
O
* Kết quả thu được là: Khá giỏi đạt 65% trong đó: 35% giỏi;trung bình
30 % ; yếu kém 5 %
Như vậy trong thời gian 15 phút tôi có thể kiểm tra đánh giá lượng kiến
thức rộng, các em không học tủ, học lệch đánh giá hết sức khách quan, chấm
bài rất nhanh phù hợp với việc kiểm tra số lượng học sinh đông.
Tuy nhiên câu hỏi trắc nghiệm khách quan chỉ dừng ở mức độ hiểu biết
ứng dụng, phân tích chứ chưa đạt được ở mức độ tổng hợp, đánh giá, so
5

Hãy giải thích sự lựa chọn đó.
Câu 3: Cho hỗn hợp Al và Fe tác dụng với hỗn hợp dung dịch chứa
AgNO
3
và Cu(NO
3
)
2
thu được dung dịch B và chất rắn D gồm 3 kim loại. Cho
D tác dụng với dung dịch HCl dư có khí bay lên. Thành phần chất rắn D là:
A - Al , Fe và Cu B - Fe, Cu và Ag
C - Al, Cu và Ag D - Kết quả khác.
Như vậy với 3 câu hỏi tôi có thể kết hợp gọi 1 học sinh trả lời câu 1,
còn 2 học sinh suy nghĩ và làm câu hỏi 2, 3 trên bảng.
6
Ở Câu 1 học sinh sẽ được khắc sâu về tính chất của kim loại tác dụng
với dung dịch muối kim loại yếu hơn và khẳng định được hiện tượng nào
đúng, sai.
Câu 2: Rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm bài tập tách chất ra khỏi
dung dịch.
Câu 3: Rèn cho học sinh kỹ năng lựa chọn phương án phù hợp qua sự
kết hợp kiến thức đã học cùng với sự tổng hợp suy đoán của cá nhân để rút ra
kết luận. Vị trí của kim loại trong dãy hoạt động hoá học của kim loại; Al
đứng trước sắt nên nhôm hoạt động hoá học mạnh hơn vì vậy khi thả nhôm,
sắt vào dung dịch Al tham gia phản ứng trước nên Al phản ứng hết. D chỉ có
thể có Fe, Cu, Ag.
Qua đó với câu hỏi trắc nghiệm khách quan nó không chỉ ngắn gọn dễ
kiểm tra mà nó còn tạo cơ hội cho giáo viên giúp học sinh tiếp cận được với
kiến thức chuyên sâu hơn một cách nhẹ nhàng.
Hoặc trong bài sơ lược bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học tôi đã sử

bài tập điền khuyết (hoạt động nhóm) để các em tự kiểm tra đánh giá lẫn nhau
rồi: từ kết quả tôi hướng dẫn các em biết phân tích tổng hợp, so sánh để rút ra
nhận xét kiểm tra cơ bản. Với cách làm đó học sinh rất hào hứng học tập nhận
thấy mình có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện kiến thức mới.
Trong các bài kiểm tra có thời gian dài hơn thì tôi kết hợp cả phương
pháp truyền thống và phương pháp trắc nghiệm khách quan để đánh giá. Vì
với phương pháp truyền thống trắc nghiệm tự luận phát huy được khả năng
hiểu và áp dụng, phân tích tổng hợp, đánh giá, so sánh và khả năng diễn đạt ý
kiến bản thân nhưng không thích hợp ở mức độ nhận biết, phạm vi hỏi bị hạn
chế, khó cho điểm và ít ổn định, dễ bị mất điểm do khả năng viết và cách biểu
hiện. Còn phương pháp trắc nghiệm khách quan khắc phục những hạn chế
trên. Cả hai phương pháp này bổ sung hỗ trợ nhau và phù hợp với các đối
tượng học sinh hơn.
Ví dụ trong bài kiểm tra 1 tiết chương I nội dung bài kiểm tra như
sau:
Câu 1: Dựa vào dấu hiệu nào dưới đây ( A, B hay D ) để phân biệt
phân tử của hợp chất khác với phân tử của đơn chất.
A . Số lượng nguyên tử trong phân tử.
B. Nguyên tử khác loại liên kết với nhau.
C. Khoảng cách giữa các phân tử.
D. Kích thước phân tử.
Câu 2: Cho biết công thức hoá học hợp chất của nguyên tố X với nhóm
NO
3
và hợp chất của nhóm nguyên tố Y với H như sau: X (NO
3
)
3
và H
2

(II)
Trong bài này tôi kiểm tra được các kiến thức đơn chất, hợp chất phân
tử, kiến thức về xác định hoá trị của nguyên tố và lập CTHH của hợp chất để
khi biết hoá trị, xác định nguyên tố hoá học khi biết phân tử khối của hợp chất
để tìm nguyên tử khối ⇒ nguyên tố hoá học, các tính phân tử khối
Như vậy với phần kiểm tra đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệm
khách quan kết hợp với trắc nghiệm tự luận phù hợp với các đối tượng học
sinh những học sinh yếu kém cũng có khả năng đạt được điểm trung bình, còn
những học sinh khá giỏi cũng phải cố gắng làm bài mới kịp thời gian. Tuy
nhiên bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan cũng có một số vấn đề mà
người giáo viên cần chú ý đó là: nếu người coi thi nghiêm khắc thì kết quả bài
làm của các em sẽ đánh giá đúng khả năng nhưng nếu quá dễ dãi thì những
câu hỏi trắc nghiệm khách quan lại rất thuận lợi cho những em yếu xem bài
của bạn vì các em chỉ cần nhìn nhanh hoặc hỏi nhỏ bạn khác cũng có thể có
kết quả đúng. Để tránh hạn chế trên tôi tiếp tục đưa ra các đề chẵn lẻ để 2 bạn
cạnh nhau không thể xem bài nhau được cho nên phần đánh giá sẽ chính xác
hơn.
Rút kinh nghiệm khi ra đề kiểm tra lớp 9 tôi có thể lồng ghép cả các bài
tập thực nghiệm vào đề các em có thể vận dụng kiến thức lý thuyết và thực
hành.
Đề chẵn:
Câu 1: Hãy ghép ý ở cột A với cột B sao cho đúng:
A - Tính chất hoá học của
axit
B - Phương trình phản ứng minh hoạ
I Axit tác dụng với bazơ 1 HCl
(dd)
+ AgNO
3(dd)
→ AgCl

(l)
IV Axit tác dụng với muối 4 H
2
SO
4

(dd)
+ MgO
(r)
→ MgSO
4 (dd)
+ H
2
O
(l)
Câu 2: Có các chất sau: CuO , Mg , CaO, Ba(OH)
2
chất nào nói trên
tác dụng với dung dịch axit sunfuric loãng sinh ra.
a. Chất khí không màu nhẹ hơn không khí và cháy được trong không
khí.
b. Dung dịch có màu xanh lam.
c. Dung dịch không màu và nước.
d. Chất kết tủa trắng không tan trong nước và axít
Viết các phương trình hoá học.
Câu 3: Có 4 lọ mất nhãn đựng 4 dung dịch không màu là HCl , H
2
SO
4
,

+ H
2
O
b. Fe
2
O
3
+ → FeCl
3
+ H
2
O
c. + Mg(OH)
2
→ MgCl
2
+
d. + H
2
SO
4
đặc
→
0
t
CuSO
4
+ SO
2
+

a. Viết phương trình phản ứng.
b. Tính thể tích khí thoát ra (ĐKTC).
c. Tính thể tích dung dịch axit đã dùng.
d. Tính nồng độ M của dung dịch muối thu được (Biết thể tích dung dịch
sau phản ứng thay đổi không đáng kể so với thể tích dung dịch HCl đã dùng).
* Với học sinh khá giỏi tôi còn đưa thêm 1 bài tập sau:
Câu 5: Hãy tìm công thức hoá học của những axit có thành phần khối
lượng như sau:
a) H: 2,1% ; N: 29,8% ; O : 68,1%
b) H : 2,4% ; S: 39,1% ; O : 58,5%
Như vậy trong 2 để kiểm tra này tôi đạt được nội dung kiến thức tương
đối rộng.
- Kiến thức về tính chất hoá học của oxit axit, phân loại oxit, kỹ năng
viết, cân bằng PTHH, kỹ năng làm bài tập thực nghiệm và bài tập định lượng,
bài tập CTHH và đồng thời đánh giá đúng kiến thức của mỗi học sinh trong
lớp học.
III - HIỆU QUẢ:
Tôi đã tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm bước đầu đánh giá hiệu
quả sư phạm của việc sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan trong
kiểm tra đánh giá học tập môn hoá học của học sinh lớp 8A
1
và 8A
4
năm học
2004 - 2005 và lớp 9A
3
và 9A
5
năm học 2005 - 2006.
Học sinh làm bài kiểm tra đã được in sẵn với 4 bộ đề cùng nội dung

Câu 4: Hãy khoanh tròn vào chữ A hoặc B, C, D đứng trước câu trả lời đúng.
Hai chất khí chủ yếu trong TP không khí là:
A: N
2
, CO
2
C: CO
2
, O
2
B: CO
2
, CO D: O
2
, N
2
Câu 5: Một oxit lưu huỳnh có tỉ lệ với khối lượng giữa lưu huỳnh và ô
xi là: 2:3 công thức hoá học của oxit đó là:
A: SO C: SO
3
B: SO
2
D: S
2
O
3
Hãy chọn công thức đúng.
Câu 6: Trong số những cặp chất sau, cặp chất nào đều dùng được để
điều chế oxi trong phòng thí nghiệm.
A. CuSO

→ K
2
O
Câu 8: Hãy khoanh tròn vào 1 chữ A hoặc B, C, D đứng trước câu trả
lời đúng. Công thức hoá học của dãy các chất sau đây là oxit
A: FeCO
3
; Fe
2
O
3
; CuO ; MgO ; HNO
3
B: Fe
2
O
3
; NO ; MgO ; H
2
S ; Na
2
O
12
C: FeS ; N
2
O ; NaOH ; H
2
O ; MgCO
3
D: Fe

1
Điểm Số học sinh Tỷ lệ (%)
10 1 2,1
9 7 14,9
8 6 12,7
7 13 28,1
6 10 21
5 6 12,7
4 4 8,5
Tổng: 47 học sinh 100%
Kết quả bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan của học sinh lớp 8A
2
Điểm Số học sinh đạt điểm Tỉ lệ (%)
9 8 20%
8 10 25%
7 12 30%
6 4 10%
13
5 6 15%
40 học sinh 100%
- Đối chiếu kết quả bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan với các hình
thức kiểm tra đánh giá khác:
Kết quả của 20 học sinh lớp 8A
1
:
Số TT Họ tên học sinh
Điểm kiểm tra
Viết TN
1 Cao Văn Anh 6 8
2 Nguyễn Thuý Anh 7 7

7 Nguyễn Thị Hà Giang 7 8
8 Nguyễn Phúc Hoàng Hà 9 5
9 Trần Thu Hà 8 9
10 Trần Phương Hoa 7 9
11 Bùi Ngọc Hồi 6 9
12 Nguyễn Thanh Hương 9 9
13 Nguyễn Thi Huyền 7 9
14 Nguyễn Ngọc Khánh 5 7
15 Mai Kiều Mơ 10 5
16 Mai Kiều Mĩ 7 8
17 Vũ Thị Ngọc 9 9
18 Nguyễn Văn Nguyên 4 5
19 Nguyễn Thị Minh Phương 6 7
20 Nguyễn Việt Phương 7 8
So sánh giữa sự tương quan giữa điểm kiểm tra trắc nghiệm với điểm
kiểm tra viết tôi thấy.
- Một số em như Nguyễn Tú Anh (8A
1
) ; Nguyễn Thanh Bình (A, B)
8A
2
; Nguyễn Trung Hậu (8A
1
).
Phạm Ngọc Chi (8A
2
), Trần Đức Chung (8A
2
) , Đinh Bá Duy (8A
2

- Trường hợp Nguyễn Văn Nguyên (8A
2
), Nguyễn Thị Vân Anh (8A
1
)
Trần Văn Khải (8A
1
), Thiệu Việt Anh (8A
1
) có lực học yếu và trung bình
nhưng do kiểm tra viết lớp đang nên các em có thể quay cóp và nhìn bài của
các bạn hoặc lười học bài, học lệch học tủ nên thường đạt điểm trung bình.
Đối với lớp 9 năm học 2005 - 2006 tôi tiếp tục áp dụng phương pháp
này đề ra đề kiểm tra bằng phương pháp trắc nghiệm khác quan. Các câu hỏi
đòi hỏi ở mức cap hơn đó là các em phải viết phương trình hoá học hoặc tính
toán kết hợp với liên hệ các kiến thức cũ để các em giải bài tập.
ĐỀ BÀI:
Câu 1 (4 điểm)
Có những chất sau đây: Fe ; KOH ; Na
2
CO
3
, BaCl
2
, CuO hãy chọn 1
trong những chất trên tác dụng với dung dịch H
2
SO
4
sinh ra.

2
cho cùng
một loại muối Clorua kim loại.
a. Fe ; b. Zn ; c. Cu ; d. Ag
Đáp án: Câu 1: Mỗi ý 1 điểm (viết đủ PTHH).
Câu 2: Đánh dấu “X” vào phần a, b (0,5)
Đánh dấu “O” vào phần c (0,5)
Câu 3: Học sinh giải bài tập tìm ra M
x
= 7 (2đ)
Chọn đáp án A : Li (1đ)
Câu 4: Học sinh lựa chọnh đáp án b). Zn
Kết quả kiểm tra trắc nghiệm khách quan lớp 9A
3
.
Điểm Số học sinh Tỷ lệ (%)
10 0 0
9 4 10,5
8 6 15,8
7 7 18,4
6 12 31,6
5 6 15,8
4 3 7,9
Tổng: 38 học sinh 100%
Kết quả bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan của học sinh lớp 9A
5
Điểm Số học sinh Tỉ lệ (%)
10 0 0
9 5 14,7
8 7 20,6

hơn và học kỹ tất cả các nội dung đã học.
+ Mặt khác, một số học sinh có lực học khá, nhận thức nhanh nhưng
thiếu tính cẩn thận, chữ xấu, trình bày không khoa học nên thường nhận được
kết quả không cao, thậm chí kém khi kiểm tra viết, còn khi kiểm tra bằng trắc
nghiệm khách quan các nhược điểm đó được loại trừ nên các em có kết quả
cao hơn.
+ Qua các bài kiểm tra viết thấy rằng phần lớn học sinh thường vấp
phải khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ hoá học. Qua kết quả thu được tôi
đã tiến hành áp dụng đại trà học sinh khối 8, 9 môn hoá học thì tôi nhận thấy
kết quả học tập của các em được nâng lên rõ rệt do đặc thù của phương pháp
này nên các em đã cố gắng học đều hơn, không học lệch, học tủ, không gây
tâm lý căng thẳng mỗi khi có giờ kiểm tra.
Kết quả học kỳ I (năm học 2005 - 2006)
STT Lớp TSHS
Kém Yếu TB Khá Giỏi
SL % SL % SL % SL % SL %
1 8A
1
47 1 2 11 23,4 24 51,2 11 23,4
2 8A
2
40 0 7 17,5 21 52,5 12 30
3 8A
3
40 2 5 16 40 16 40 6 15
4 8A
4
37 3 8,1 24 64,9 7 18,9 3 8,1
5 8A
5

SO
4
sinh ra:
a. Khớ nh nht trong cỏc cht khớ.
b. Khớ lm c nc vụi trong.
c. Cht kt ta mu trng.
d. Dung dch cú mu xanh lam.
Vit tt c cỏc phng trỡnh phn ng ó xy ra.
cõu ny cõu trc nghim cha c rừ rng m cn phi hi rừ rng.
Cú nhng cht sau õy: Fe

, KOH , Na
2
CO
3
, BaCl
2
, CuO
Hóy chn v in vo ch trng di õy sao cho phự hp.
Dung dch H
2
SO
4
tỏc dng vi:
a sinh ra khớ nh nht trong cỏc cht khớ.
b sinh ra khớ lm c nc vụi trong.
c sinh ra cht kt ta mu trng.
d sinh ra dung dch cú mu xanh lam.
Hoc trong bi cng cn cú cu cõu hi theo mc kin thc khỏc
nhau, cõu hi bit, hiu, vn dng kin thc.

H
9
Cl , C
2
H
4
O
2
, CCl
4
c. C
2
H
6
, CO
2
, C
4
H
9
Cl , C
2
H
4
O
2
d. C
4
H
9

a. Thành phần % C trong các hợp chất trên lần lượt là:
A. 75% ; 23,4% ; 14,1 % ; 10%
B. 23,4% ; 75% ; 14,1% ; 10%
C. 10% ; 23,4% ; 75% ; 14,1%
D. 23,4% ; 10% ; 14,1% ; 75%
Câu 4: (4 điểm) Cho 10,4 g oxit 1 nguyên tố kim loại thuộc nhóm II tác
dụng với dung dịch HCl. Sau phản ứng tạo thành 15,9 g muối nguyên tố kim
loại đó là:
a. Al ; b. Zn ; c. Fe ; d. Sr
Hãy giải tích tại sao.
Qua đề này học sinh yếu kém cũng có thể đạt được 4 điểm và các em
chỉ cần biết và xác định dễ dàng, còn nếu cố gắng hơn một chút các em có thể
vươn lên trung bình.
Câu 3 học sinh trung bình có thể hoàn thành tính thành phần % khối
lượng nguyên tố để đạt điểm 6 hoặc vươn lên điểm 7.
Câu 4 học sinh khá giỏi có thể giải được để đạt điểm 8, 9 hoặc 10.
21
Kết quả học kỳ I năm học 2006 - 2006 như sau:
STT Lớp TSHS
Kém Yếu TB Khá Giỏi
SL % SL % SL % SL % SL %
1 9A
1
37 0 2 5,4 6 16,2 19 51,4 10 27,0
2 9A
4
31 0 7 22,5 11 35,6 9 29,0 4 12,9
3 9A
5
28 0 5 17,8 8 28,5 13 43,0 3 10,7

sinh một cách công bằng và khách quan.
+ Đề bài kiểm tra phủ kín nội dung môn học, tỉ lệ may rủi thấp, từ đó
làm cho học sinh tích cực học tập và học toàn diện hơn.
+ Tuy việc ra đề thi tốn nhiều công sức nhưng việc chấm bài nhanh
chóng, ít tốn công sức, giảm nhẹ cường độ lao động cho giáo viên phải dạy
nhiều trên lớp, nhiều học sinh.
+ Phương pháp trắc nghiệm khách quan đã có ảnh hưởng tốt đến tâm lý
học sinh tạo niềm tin vào sự công bằng khách quan của học sinh đối với giáo
viên. Trên cơ sở đó góp phần tạo ra động lực thúc đẩy vai trò tích cực của
người học và tạo ra động lực để người giáo viên thực hiện tốt nhiệm vụ dạy
học của mình.
+ Nếu kết hợp chặt chẽ giữa trắc nghiệm kết quả và các phương pháp
kiểm tra khác sẽ cho phép người giáo viên đánh giá chất lượng học sinh một
cách khách quan công bằng và chính xác. Tuy nhiên phương pháp trắc
nghiệm khách quan không phải là không có những hạn chế, nên khi giáo viên
khi ra câu hỏi trắc nghiệm khách quan cần lưu ý một số vấn đề sau:
+ Đối với câu điểm khuyết số lượng các từ đã cho phải lớn hơn số
lượng các chỗ trống cần điền và kết quả chỉ là một đáp ứng duy nhất để có nội
dung đúng.
+ Đối với câu lựa chọn nên tránh:
• Trong các phương án chọn có 2,3 câu trả lời đúng (mặc dù chưa đủ).
Ví dụ: Khi nung nóng ka li pe man ganat, hiện tượng quan sát là:
A. Có khí bay ra làm que đóm tàn đỏ bùng cháy.
B. Có 2 chất rắn tạo thành.
C. Không có hiện tượng gì xảy ra.
D. Cả A và B đều đúng.
Yêu cầu của bài chưa rõ ràng mà cần dùng:
Hiện tượng quan sát đúng và đầy đủ nhất, vì yêu cầu như trên thì A
cũng đúng và B cũng đúng còn D là đúng và đẩy đủ nhất.
23

+ CO
2
+ H
2
O → Ca(HCO
3
)
2
C 2CaO + CO
2
→ CaCO
3
D 3Al + 2S → Al
2
S
3
E Fe(OH)
3
→ 2FeO
3
+ 3H
2
O
G SO
2
+ O
2
→ 2SO
3
+ Đối với câu cặp đôi:

3
O
4
C Cồn (C
2
H
6
O) cháy tạo thành

nước và khí cacbonic
4 4Fe + 3O
2
→ 2Fe
2
O
3
5 2H
2
+ O
2
→ 2H
2
O
24
Để phát huy tối đa việc kiểm tra đánh giá bằng phương pháp trắc
nghiệm khách quan thì tôi có một số đề xuất sau:
+ Về giáo viên - học sinh:
Đối với giáo viên cần phải nghiêm khắc trong việc coi thi nhắc nhở học
sinh tự giác làm bài, giáo viên không làm việc riêng trong giờ kiểm tra.
Đề bài phải rõ ràng, giáo viên cần cẩn thận trong mỗi câu hỏi để tránh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status