Phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng câu trong văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 10 THPT. - Pdf 13

PHẦN MỘT
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Trong tác phẩm “Về quyền tự quyết của các dân tộc”, Lênin đã viết:
“Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người”. Bởi
vậy, việc giáo dục ngôn ngữ cho học sinh và rèn luyện tư duy của học sinh
cần phải tiến hành song song và đáp ứng nhu cầu của xã hội
Nói về sự liên quan giữa câu và tư duy, Mác khẳng định: “Ngôn ngữ là
hiện thực trực tiếp của tư duy”. Ta thấy, ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ
mật thiết. Chính vì mối quan hệ này, việc dạy học tiếng Việt nói chung, rèn
luyện kĩ năng sử dụng câu cho học sinh cũng góp phần rèn luyện và hoàn
thiện công cụ tư duy cho học sinh.
Giao tiếp và được giao tiếp là nhu cầu tất yếu của mỗi con người. Xã hội
ngày càng phát triển thì nhu cầu này càng tăng. Việc đưa văn bản thuyết minh
vào chương trình giảng dạy trong nhà trường thực sự rất cần thiết vì đây là
loại văn bản phổ biến trong mọi lĩnh vực đời sống. Muốn viết một bài văn nói
chung, văn bản thuyết minh nói riêng, chúng ta không thể không sử dụng câu
vì đây là đơn vị có chức năng thông báo. Từ kĩ năng sử dụng câu, học sinh
mới hình thành nên kĩ năng dựng đoạn, liên kết đoạn, liên kết kiến thức để
hình thành bài văn thuyết minh đạt yêu cầu.
Văn bản thuyết minh rất quan trọng nhưng việc tạo lập văn bản thuyết
minh nói chung và kĩ năng sử dụng câu trong văn bản thuyết minh chưa được
hiệu quả mong muốn. Văn bản thuyết minh rất quan trọng nhưng việc nghiên
cứu đặc điểm và hướng rèn luyện kĩ năng xây dựng loại văn bản này cho học
sinh chưa nhiều, chưa đầy đủ.
Từ những lý do và thực tế trên, người viết nghiên cứu đề tài: “Phương pháp
rèn luyện kĩ năng sử dụng câu trong văn bản thuyết minh cho học sinh lớp 10
THPT” giúp các em nắm vững kiến thức và kĩ năng sử dụng câu nói chung và
1
áp dụng vào trong văn bản thuyết minh nói riêng một cách nhuần nhuyễn, đạt
hiệu quả giao tiếp cao.

tưởng tình cảm. Khi viết, cuối câu có dấu ngắt câu; khi nói câu có ngữ điệu”.
1.2. Khái niệm và đặc điểm của văn bản thuyết minh
Văn bản thuyết minh là văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống
nhằm cung cấp những tri thức khách quan về những sự vật hiện tượng (đối
tượng thuyết minh) bằng những phương pháp thuyết minh giúp người đọc,
người nghe hiểu rõ những đặc điểm, tính chất…đối tượng thuyết minh. Mỗi
đối tượng có đặc điểm, cấu tạo, đặc trưng riêng để người thuyết minh có
3
những cách trình bày, thuyết minh riêng. Văn bản thuyết minh vừa phải thỏa
mãn yêu cầu của một văn bản nói chung như: chính xác, nhất quán, mạch lạc,
liên kết chặt chẽ vừa có những đặc điểm : Tính khách quan, tính chính xác,
tính hấp dẫn, tính thực dụng.
1.3. Các loại câu chủ yếu trong văn bản thuyết minh
Xét theo cấu trúc ngữ pháp, văn bản thuyết minh sử dụng cả hai loại câu:
câu đơn, câu ghép (theo cách phân loại trong sách giáo khoa phổ thông). Theo
khảo sát, chúng tôi thấy rằng trong văn bản thuyết minh, câu đơn chiếm ưu
thế hơn. Bởi văn bản thuyết minh cung cấp tri thức khách quan về đối tượng
thuyết minh một cách rõ ràng, dễ hình dung, mang tính khoa học. Câu đơn có
ưu thế trong việc truyền đạt thông tin thông qua những phương pháp thuyết
minh như: định nghĩa, giải thích,…
Xét theo mục đích giao tiếp, văn bản thuyết minh sử dụng các loại câu:
câu trần thuật (câu kể), câu cảm, câu cầu khiến, câu nghi vấn (câu hỏi) . Trong
đó, câu trần thuật luôn chiếm tỉ lệ nhiều nhất và có vai trò rất quan trọng. Qua
khảo sát một số bài văn thuyết minh, chúng tôi thấy câu trần thuật chiếm 80 –
90 %.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu
2.1. Nội dung dạy học về câu nói chung và câu trong văn bản thuyết
minh nói riêng trong chương trình phổ thông
Sách giáo khoa hiện hành, học sinh được thực hành câu ngay từ lớp 2.
Quá trình thực hành câu trong điều kiện học sinh chưa được trang bị kiến thức

thấy vai trò của văn bản thuyết minh và yêu cầu xã hội, Bộ giáo dục đã đưa
loại văn bản này vào chương trình dạy học.
Văn bản thuyết minh là văn bản thông dụng nhưng vẫn chưa có công
trình nghiên cứu sâu rộng. Văn thuyết minh muôn màu muôn vẻ. Nó vẫn là
“mảnh đất mới” cần mọi người chung tay “cày xới”. Đây cũng là nguyên
nhân sâu xa làm cản trở việc dạy và học. Rèn luyện kĩ năng sử dụng câu trong
5
văn bản chưa được chú trọng, đặc biệt là câu trong văn bản thuyết minh. Vì
vậy, việc học sinh áp dụng những kiến thức về câu vào văn bản còn yếu. Do
đó phần lớn những học sinh dù học tốt phân môn Tiếng Việt nhưng khi làm
văn các em còn mắc nhiều lỗi đáng tiếc, không ý thức được.
2.3. Thực trạng sử dụng câu trong văn bản thuyết minh của học sinh
THPT
"Văn học là nhân học" (M. Gorki). Vậy mà một thực trạng đáng buồn là
học sinh bây giờ không còn thích học môn Ngữ văn. Thực trạng này lâu nay
đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở với nhau của
những người trực tiếp giảng dạy môn văn và nay đã trở thành vấn đề của báo
chí và dư luận. Ai đã trực tiếp dạy và chấm bài làm văn của học sinh trong
những năm gần đây mới thấy cần thiết phải ban bố “tình trạng khẩn cấp” về
việc học văn ở các cấp học hiện nay.
Văn bản thuyết minh rất quan trọng nhưng việc tạo lập văn bản thuyết
minh nói chung và kĩ năng sử dụng câu trong văn bản thuyết minh chưa được
hiệu quả mong muốn. Chương trình dạy học vẫn chưa chú trọng đến việc rèn
luyện kĩ năng sử dụng câu trong văn bản nói chung. Muốn viết một bài văn
nói chung, văn bản thuyết minh nói riêng, chúng ta không thể không sử dụng
câu vì đây là đơn vị có chức năng thông báo. Từ kĩ năng sử dụng câu, học
sinh mới hình thành nên kĩ năng dựng đoạn, liên kết đoạn, liên kết kiến thức
để hình thành bài văn thuyết minh đạt yêu cầu.
Từ những lý do và thực tế trên, người viết đã nghiên cứu đề tài: “
Phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng câu trong văn bản thuyết minh cho

Bước 2: Hướng dẫn cho học sinh phân tích ngữ liệu để thấy được đặc
điểm câu trong văn bản. Giáo viên điều khiển học sinh làm việc theo nhóm.
Học sinh muốn xác định đúng câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép thì
giáo viên phải gợi mở, hướng dẫn học sinh phân tích cấu trúc ngữ pháp.
7
Bước 3: Tổ chức hướng dẫn học sinh luyện tập để củng cố, khắc sâu tri
thức lý thuyết.
3.2. Xây dựng hệ thống bài tập để rèn luyện kĩ năng sử dụng câu
trong văn bản thuyết minh cho học sinh THPT
Muốn rèn luyện kĩ năng sử dụng câu trong văn bản thuyết minh, bài tập
phải đảm bảo những yêu cầu sau:
- Đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm
- Đảm bảo tính thiết thực
- Đảm bảo tính hệ thống và phát triển
- Đảm bảo tính đa dạng và hấp dẫn
3.2.1. Bài tập nhận diện
Bài tập nhận diện là dạng bài tập giúp học sinh nhận diện các loại câu
trong văn bản thuyết minh nhằm củng cố lại lý thuyết mà các em đã học. Khi
học sinh làm dạng bài tập này, học sinh vừa được khắc sâu lý thuyết và vận
dụng lý thuyết vào thực hành.
Ví dụ: Giáo viên cho một đoạn văn và yêu cầu học sinh
a) Em hãy cho biết đoạn văn trên câu nào là câu đơn, câu nào là câu ghép ?
b) Đoạn văn trên có tính chất thuyết minh không ?
Bước 1 : Đọc kĩ đoạn văn và yêu cầu của bài tập.
Bước 2 : Nhận diện câu trong đoạn văn. Muốn nhận diện chính xác, học
sinh phải phân tích cấu trúc ngữ pháp các câu để so sánh với khái niệm về
câu.
Bước 3 : Nhận diện đoạn văn. Để biết được đoạn văn trên có phải là
đoạn văn thuyết minh không thì chúng ta phải xét những đặc điểm về câu
trong đoạn văn có hướng đến cung cấp nội dung thông tin về một đối tượng

về trật tự từ sắp xếp, về kiểu cấu tạo Loại bài tập này vừa có tác dụng củng
cố khái niệm và quy tắc ngữ pháp, vừa góp phần rèn luyện năng lực tạo lập
các sản phẩm mới, trước hết là câu, sau cùng tạo lập văn bản.
Ví dụ :
9
a) Chuyển các câu trần thuật sang câu cảm
b) Chuyển các câu trần thuật sau thành câu nghi vấn (câu hỏi), câu cầu
khi ến
c) Thêm trạng ngữ vào nòng cốt câu
d) Viết thêm nòng cốt câu vào những trạng ngữ cho sẵn
3.2.4. Bài tập tạo lập
Đây là bài tập yêu cầu học sinh tạo nên một sản phẩm ngôn ngữ theo yêu
cầu nào đó. Bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng câu trong văn bản thuyết minh
trước hết tạo lập câu rồi đến đoạn văn, văn bản.
Ví dụ:
1) Viết đoạn văn thuyết minh có sử dụng hai câu ghép.
2) Viết đoạn văn thuyết minh có sử dụng tất cả các loại câu phân theo
mục đích giao tiếp.
3.2.5. Bài tập sửa lỗi
Đây là dạng bài tập yêu cầu học sinh phân tích và sửa lỗi câu trong văn
bản thuyết minh nhằm củng cố những kiến thức lý thuyết, luyện kĩ năng sử
dụng câu trong văn bản thuyết minh.
Ví d ụ: Cho đoạn văn thuyết minh bị đánh dấu câu một cách lộn xộn. Em
hãy đánh lại dấu câu cho các câu trong đoạn và bỏ đi những dấu câu không
cần thiết.
3.3. Kết hợp rèn luyện kĩ năng sử dụng câu trong văn bản thuyết
minh qua giờ làm văn
Ở làm văn, thực hành nằm ngay trong lý thuyết. Giờ làm văn thuyết
minh trong chương trình có cả dạng lý thuyết lẫn thực hành. Tùy theo nội
dung bài học, giáo viên dạy vừa bám theo chuẩn kiến thức kĩ năng vừa kết

Phương pháp nêu ví dụ là dẫn ra những ví dụ cụ thể để người đọc tin vào
nội dung được thuyết minh. Tác dụng: thuyết phục người đọc, khiến người
đọc tin vào những điều mà người viết đã cung cấp.
Ví dụ:
11
- Bánh xứ Huế rất đa dạng và rất ngon như: bánh bèo, bánh lọc, bánh
nậm, bánh ướt thịt nướng, bánh khoái, bánh ít, bánh chưng…
Đặc điểm của phương pháp này: sau nội dung đưa ra thường có từ như,
chẳng hạn hoặc dấu hai chấm. Nội dung nêu ví dụ làm rõ hơn nội dung đưa ra
trước đó.
3.3.1.4. Rèn luyện kĩ năng sử dụng câu trong văn bản thuyết minh
theo phương pháp dùng số liệu
Phương pháp dùng số liệu (các con số cụ thể) là phương pháp dùng các
số liệu chính xác để khẳng định độ tin cậy cao của các tri thức được cung cấp.
Ví dụ:
- Với thanh niên Mĩ, 1 đô la mua một bao thuốc lá là một khoản tiền nhỏ,
còn đối với thanh thiếu niên Việt Nam muốn có 15000đ mua một bao 555 – vì
đã hút là phải hút thuốc sang – chỉ có một cách là trộm cắp.
Khi sử dụng phương pháp thuyết minh này giúp học sinh rèn luyện tư duy
chính xác bằng những con số. Từ đó, học sinh sẽ đặt câu phải chính xác,
logic.
3.3.1.5. Rèn luyện kĩ năng sử dụng câu trong văn bản thuyết minh
theo phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh: so sánh hai đối tượng cùng loại hoặc khác loại
nhằm làm nổi bật đặc điểm, tính chất của đối tượng cần thuyết minh.Tác
dụng: tăng sức thuyết phục và độ tin cậy cho nội dung được thuyết minh. Đặt
câu gắn với từ “như”, “hơn cả”.
Ví dụ:
- Ôn dịch thuốc lá đang đe dọa sức khỏe và tính mạng loài người còn
nặng hơn cả AIDS…Nếu giặc đánh như vũ bão thì không đáng sợ, đáng sợ là

Bước 1: Giáo viên ôn tập lại kiến thức về đoạn văn, đoạn văn thuyết
minh, kết cấu của văn bản thuyết minh.
13
Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm dàn ý của một đề văn thuyết
minh bất kì.
Bước 3: Giáo viên phân mỗi nhóm viết mỗi khía cạnh của dàn ý.
Bước 4: Gọi học sinh đại diện mỗi nhóm lên trình bày.
Bước 5: Giáo viên nhận xét, bổ sung, sửa chữa.
3.3.3. Rèn luyện kĩ năng sử dụng câu trong văn bản thuyết minh
thông qua việc trả bài kiểm tra
Ngư ời viết đề xuất quy trình cho giờ trả bài văn thuyết minh như sau:
Ví dụ: Trả bài viết số 5 có đề: “Thuyết minh cho người đọc về bài “Phú
sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu”. (Lớp 11 Sử trường THPT chuyên
Lam Sơn)
Bước 1: Dẫn nhập.
Bước 2: Yêu cầu học sinh nhắc lại đề bài kiểm tra, giáo viên ghi lên
bảng.
Bước 3: Xác định yêu cầu của đề ra: kiến thức, đối tượng, phạm vi,
phương pháp thuyết minh, yêu cầu cần đạt…Giáo viên gạch dưới những từ
“khóa” của đề bài.
Đối tượng: “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu.
Phương pháp thuyết minh: Đề bài không giới hạn trong phương pháp
thuyết minh nào nhưng chúng ta có thể sử dụng chủ yếu các phương pháp
thuyết minh: định nghĩa, giải thích, so sánh, dùng số liệu, phân tích, liệt kê.
Yêu cầu cần đạt:
- Xác định đúng đề, thực hiện nội dung yêu cầu của văn thuyết minh.
- Vận dụng các hình thức, phương pháp thuyết minh.
- Làm rõ các ý cần đạt.
- Bố cục bài viết chặt chẽ, rõ ràng.
- Trình bày mạch lạc, sạc sẽ.

gấp gáp, khẩn trương. (Lê Văn Nam)
15
 Qua đó, ta thấy được những chiến công vĩ đại ấy được kể bằng giọng
văn gấp gáp, khẩn trương.
Như vậy, có thể thấy nguyên nhân thắng lợi của quân ta phụ thuộc rất
nhiều yếu tố. (Hoàng Thảo Linh)
 Như vậy, chúng ta có thể thấy nguyên nhân thắng lợi của quân ta phụ
thuộc rất nhiều yếu tố.
Lỗi về quan hệ ngữ pháp trong câu:
Các địa danh không chỉ là cảnh đẹp nhưng gợi ra một không gian bao
la, rộng lớn. (Lê Hồng Ánh)
 Các địa danh không chỉ là cảnh đẹp mà còn gợi ra một không gian
bao la, rộng lớn.
Lỗi về dấu câu:
Thông qua một loạt từ gợi hình kết hợp với việc nhắc đến những địa
danh gắn liền với sông Bạch Đằng. Tác giả đã gợi cho người đọc vẻ đẹp
hùng vĩ, bát ngát, mênh mông của sông Bạch Đằng. (Phạm Bùi Quân)
 Thông qua một loạt từ gợi hình kết hợp với việc nhắc đến những địa
danh gắn liền với sông Bạch Đằng, tác giả đã gợi cho người đọc vẻ đẹp hùng
vĩ, bát ngát, mênh mông của sông Bạch Đằng.
Câu sai kiến thức cơ bản:
Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu được xếp vào hạng kiệt tác
và được viết 50 năm sau cuộc kháng chiến chống quân Minh. (Lê Văn Nam)
Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu được xếp vào hạng kiệt tác
và được viết 50 năm sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông.
Câu sai phong cách:
Khi nhắc đến Trương Hán Siêu thì ta nghĩ đến Phú sông Bạch Đằng
ngay tức khắc. (Lê Thanh Huyền).
 Khi nhắc đến Trương Hán Siêu thì ta sẽ nghĩ đến Phú sông Bạch
Đằng.

Thanh Hoá, ngày 15 tháng 5 năm 2012
Người thực hiện
Lê Thị Hà
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status