SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN THUYẾT MINH CHO HỌC
SINH LỚP 10 THPT"
1
A.ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn thứ hai của quá trình Công nghiệp hoá- hiện
đại hoá với mục tiêu phấn đấu là đến năm 2020, nước ta sẽ trở thành một nước Công
nghiệp. Để theo kịp xu thế chung của thế giới, chúng ta đã và đang chú trọng đầu tư cho
giáo dục với mục tiêu là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức,
tri thức, sức khoẻ, thẫm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công
dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(điều 2 chương I- Luật
giáo dục).
Để thực hiện những mục tiêu đó, ngành giáo dục đã và đang tiến hành những đổi
mới cải cách về nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục toàn diện cho học sinh nói
chung và cho học sinh THPT nói riêng. Và một trong những yêu cầu đặt ra đối với giáo
viên THPT trong thế kỉ mới là tổ chức các hoạt động dạy- học theo hướng tích cực hoá
hoạt động học tập của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm Bộ môn Ngữ văn cũng
không nằm ngoài quy luật chung đó. Môn Ngữ văn hiện nay được xây dựng trên quan
điểm tích hợp: ba phân môn Văn học, Tiếng việt, Làm văn được kết hợp thành một bộ
môn có tên gọi là Ngữ văn.
Làm văn là một trong ba phân môn của Ngữ văn và nó đóng vai trò quan trọng
trong việc cung cấp các tri thức cơ bản về các kiểu văn bản. Bài làm văn là sản phẩm tinh
thần, kết tinh sự nhận thức, vốn sống, là bằng chứng thể hiện năng lực vận dụng kiến
thức, kĩ năng, tạo lập văn bản để bộc lộ xúc cảm, trí tuệ, tình cảm nhân văn của học sinh.
Nhiệm vụ chủ yếu của Làm văn trong nhà trường là rèn luyện các kĩ năng: tìm hiểu đề,
2
tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn…Thành thục các kĩ năng này học sinh sẽ viết được bài văn rõ
ràng, mạch lạc, đầy đủ ý, đúng yêu cầu.
Từ vị trí, nhiệm vụ của phân môn Làm văn có thể thấy đây là phân môn có vai trò
Thuyết
minh
Kiểu văn bản cung cấp tri thức khách quan, xác thực, hữu
ích.
Tự sự Trình bày chuỗi sự việc theo một trình tự, có nhân vật và
hành động, ngôn ngữ của nhân vật để thể hiện diễn biến sự
việc
Miêu tả Tái hiện hình ảnh của người, vật, việc một cách sinh động để
người nghe, đọc như thấy nó đang ở ngay trước mắt.
Biểu cảm Bộc lộ tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ, thái độ, đánh giá chủ
quan của người viết, truyền tải cảm xúc, tình cảm ấy tới
người đọc, người nghe.
4
Nghị
luận
Người viết, người nói xác lập tư tưởng, quan điểm và thuyết
phục người đọc, người nghe đồng tình với mình
Văn thuyết minh là loại văn bản khác hẳn với tự sự (vì không có sự việc, diễn
biến), khác với miêu tả ( vì không đòi hỏi tái hiện hình ảnh một cách cụ thể cho người
đọc cảm thấy, mà cốt làm cho người ta hiểu), khác với văn bản nghị luận ( vì ở đây cái
chính là trình bày nguyên lí, quy luật, cách thức…chứ không phải là luận điểm, suy luận,
lí lẽ), nghĩa là văn bản thuyết minh là một kiểu văn bản riêng, mà các loại văn bản tự sự,
miêu tả, nghị luận không thay thế được.
2. Các dạng văn thuyết minh:
Trong văn thuyết minh thường gặp các dạng sau:
- Thuyết minh về một thứ đồ dùng
-Thuyết minh về một loài vật
- Thuyết minh về một phương pháp (cách làm món ăn)
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
- Thuyết minh về một thể loại văn học (hoặc một tác giả văn học)
quý phái như mệnh phụ. Các bông cúc có bông tựa, bông nghiêng, bông hướng lên, bông
chúc xuống, như đang ca hát, đang nhảy múa, đang mỉm cười…khoe sắc, khoe dáng
khiến ta ngắm nhìn mãi không chán mắt”
b. Phải làm rõ mạch thuyết minh
Mạch lạc là yếu tố cần thiết cho mọi thể văn.Với văn bản thuyết minh thì yêu cầu
này càng cao. Bởi lẽ: mục đích chính của thuyết minh là đem đến cho người đọc một vốn
hiểu biết tương đối hoàn chỉnh về đối tượng (dù chỉ là hoàn chỉnh về một mặt, một
phương diện nào đó). Vậy nên, các tầng thứ trình bày càng rành mạch, rõ ràng, tuân theo
tính quy luật của đối tượng thì chắc chắn sự lĩnh hội ở người đọc sẽ dễ dàng và mang tính
khoa học cao.
Sự mạch lạc trong văn thuyết minh cũng sẽ hiển thị ở trình tự trình bày. Sự vật
khách quan muôn hình muôn vẻ, bởi vậy trình tự thuyết minh cũng phải hết sức linh hoạt.
Có thể thuyết minh theo trình tự: thời gian, không gian, phương diện, cấu trúc…miễn sao
hợp lí, lôgic, rõ ràng, dễ hiểu.
4. Các phương pháp thuyết minh
a. Phương pháp nêu định nghĩa
Đây là phương pháp chỉ ra bản chất của đối tượng thuyết minh, vạch ra phương
pháp lôgic của thuộc tính sự vật bằng lời lẽ rõ ràng, chính xác, ngắn gọn. Muốn thuyết
minh chuẩn xác đối tượng theo cách định nghĩa, cần nắm được hai vấn đề: Một là tính
chất của đối tượng, nó thuộc loại nào. Hai là đặc điểm riêng của đối tượng, tức là chỗ
khác với đối tượng cùng loại. Chẳng hạn:
- Giun là động vật có đốt, gồm khoảng 2500 loài, chuyên sống ở vùng đất ẩm.
- Hát quan họ là một lối hát đối đáp giữa hai bên trai và gái.
7
b. Phương pháp liệt kê.
Đây là phương pháp lần lượt chỉ ra các đặc điểm, tính chất của đối tượng theo một
trật tự nào đó.
c. Phương pháp nêu ví dụ cụ thể
Đây là phương pháp thuyết minh sự thật bằng cách nêu dẫn chứng thực tế. Dùng
cách này ta có thể thuyết minh, giải thích rõ ràng hơn, tạo ấn tượng cụ thể cho người đọc.
Như vậy, khi làm một bài văn thuyết minh phải vận dụng nhiều phương pháp khác
nhau. Bởi vì văn bản thuyết minh do yêu cầu nội tại, đòi hỏi sự đa dạng của các phương
pháp trình bày. Đây là một đặc trưng quan trọng trong phương pháp viết bài văn thuyết
minh.
5. Quy trình làm bài văn thuyết minh.
Làm một bài văn thuyết minh cũng phải tiến hành qua 5 bước: Tìm hiểu đề , tìm ý,
lập dàn ý, viết văn bản, kiểm tra.
II.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Thực tiễn trong quá trình dạy và học văn thuyết minh ở trường THPT, giáo viên và
học sinh gặp một số thuận lợi và khó khăn,
9
Trước hết, văn thuyết minh là kiểu loại văn bản mới mẻ nhưng cũng rất thông dụng
trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội nhất là đã học ở THCS. Vì vậy, người giáo viên có
điều kiện tìm được nhiều ví dụ quen thuộc trong đời sống hàng ngày để học sinh có thể
tìm hiểu và thấy được kiểu văn bản này mang tính ứng dụng lớn. Từ đó có thể khích lệ
các em sử dụng kiểu văn bản thuyết minh vào những trường hợp cụ thể, thích hợp.
Bên cạnh đó, trong quá trình làm bài văn thuyết minh, học sinh được chủ động tìm
hiểu và tiếp cận với nhiều tri thức đôi khi là rất mới mẻ về các vật dụng có thể nói là quen
thuộc trong đời sống (Ví dụ: chiếc bút bi, cái nón…). Điều này đem đến sự hứng thú cho
học sinh trong học tập và tạo cho các em thói quen tìm hiểu sự vật một cách cặn kẽ để tạo
lập được những văn bản mang tính khoa học. Qua đó, năng lực tư duy và biểu đạt của học
sinh được nâng cao.
Tuy nhiên việc dạy và học văn thuyết minh còn gặp một số khó khăn. Trước hết, ta
thấy tài liệu viết chuyên về văn thuyết minh không nhiều bằng các kiểu loại văn bản khác
như tự sự, miêu tả, nghị luận. Vì thế người giáo viên ít có tài liệu tham khảo để bồi
dưỡng thêm những hiểu biết về đặc trưng của kiểu loại văn bản này .
Bên cạnh đó, để hướng dẫn các em viết được một bài văn thuyết minh tốt, xuất phát
từ đặc trưng của bộ môn, người giáo viên phải tìm tài liệu về đối tượng thuyết minh. Ví
dụ tìm hiểu về nguồn gốc của chiếc nón, lịch sử ra đời của chiếc bút bi… Có nhiều
nguồn để tìm những tư liệu này . Nhưng để tìm được tư liệu đủ và phong phú về một đối
sinh còn có thói quen ỷ lại vào văn mẫu để trả bài trên lớp. Nguyên nhân trên dẫn đến
chất lượng bài văn thuyết minh do học sinh tạo lập có chất lượng chưa cao…
Xuất phát từ thực tiễn dạy và học văn thuyết minh trong chương trình Ngữ Văn 10
(những thuận lợi, khó khăn, những việc đã làm được, những hạn chế gặp phải), việc
hướng dẫn các kĩ năng làm văn gắn với kiểu văn bản thuyết minh cho học sinh là điều
cần thiết. Đặc biệt, văn thuyết minh là kiểu bài cung cấp tri thức khoa học nên vấn đề
phương pháp càng cần được quan tâm để giúp học sinh có chất liệu phong phú để viết bài
giúp các em tự tin hơn, cố gắng tạo ra được một bài văn thuyết minh tốt- một sản phẩm
mang tính cá nhân người viết.
III. GIẢI PHÁP VÀ CÁCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN VẤN ĐỀ
1.Phương pháp dạy lý thuyết “Phương pháp thuyết minh”:
Trong dạy học tập làm văn nói chung và trong dạy học văn thuyết minh nói riêng thì
phương pháp phân tích và dạy học theo mẫu, có thể nói là phương pháp tối ưu hơn cả.
Nhưng muốn sử dụng thành thạo và hiệu qủa phương pháp này thì người giáo viên phải
nắm được bản chất, quy trình thực hiện, ưu điểm, hạn chế và một số lưu ý của phương
pháp này
1.1. Nhận thức chung.
Phương pháp dạy học theo mẫu là phương pháp thông qua mẫu cụ thể về lời nói để giáo
viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu dặc điểm của mẫu, cơ chế tạo mẫu, biết cách tạo ra
những lời nói theo định hướng của mẫu .
Quy trình thực hiện phương pháp này gồm 4 bước:
- Bước 1: Giáo viên chọn lọc giới thiệu mẫu chứa hiện tượng ngôn ngữ cần tìm hiểu.
12
- Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu để nhận biết các bộ phận tạo
thành mẫu và đặc điểm của mẫu.
- Bước 3: Giáo viên hướng dẫn học sinh mô phỏng mẫu để tạo ra lời nói của mình
(khuyến khích sự sáng tạo của học sinh).
- Bước 4:Giáo viên hướng dẫn học sinh kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm về sản phẩm
tiếp nhận hoặc sản sinh ra lời nói qua rèn luyện theo mẫu.
Một số lưu ý:
Bánh cốm có ngon hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu chọn nguyên liệu. Cốm
làm bánh phải là cốm già, nếu non quá khi xào với đường sẽ bị nhão không dùng làm vỏ
bánh được. Nếu bánh được làm đúng vào mùa cốm, người ta thường pha thêm cốm tươi
để bánh dẻo và thơm mùi cốm mới. Trước khi xào đường, cốm được ủkhoảng một giờ
đồng hồ. Tiếp đến là làm nhân bánh. Đậu xanh thường dùng là loại đậu của vùng Thái
Bình, Sơn La, Bắc Ninh vì loại đậu này khi ngâm nước có độ nở vừa phải. Còn đậu xanh
của các vùng khác, đặc biệt là đậu trồng ở khu vực phía Nam, khi ngâm nước nở nhiều,
dễ bị thiu, không thể dùng làm nhân bánh được.
14
Những người chuyên làm bánh cho rằng chẳng có một công thức cụ thể nào để làm bánh
cốm. Bí quyết để có bánh ngon hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm và thói quen của mỗi
người làm bánh. Ví dụ ở khâu ủ cốm, nhiều người cho rằng khi đặt tay lên bề mặt cốm
cảm giác hết độ dính thì mới đem xào đường. Do vậy tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí
hậu, tuỳ loại cốm, thời gian ủ có xê dịch đôi chút. Khi xào cốm phải xác định thời gian
vừa phải, không kĩ quá làm vỏ bánh bị cứng, hoặc không quá nhanh, cốm chưa kịp ngấm
đường, không để được lâu. Khi xào nhân cũng vậy, phải xào cho đến khi nước bốc hơi
hết, chỉ còn lại đường và đậu dính quyện vào nhau mới ngon. Bánh cốm làm xong được
ướp hương hoa bưởi và một số vị thuốc bắc hoặc bằng vani, vừa nhanh, vừa tiện.
Hàng Than là một phố chuyên làm bánh cốm của Hà Nội. Ở phố này có tới hơn 20 cửa
hàng bánh cốm với những cái tên gần giống nhau như Ạn Ninh, Ninh Hương, Anh Ninh,
Nguyên Ninh…Có những gia đình nổi tiếng với năm đời làm bánh cốm. Bánh cốm ở đây
đặc biệt bán chạy vào mùa cưới, khi mà các gia đình của họ nhà trai mua bánh cốm, chè
sen, hạt sen…làm đồ ăn hỏi. Bình thường số lượng bánh cốm làm ra mỗi ngày không
nhiều, chỉ vài trăm chiếc, chủ yếu là làm theo đơn đặt hàng. Và có lẽ người ta theo đuổi
nghề này bởi đó là nghề cha truyền con nối và những người làm bánh cốm không muốn
để mất đi một nghề mà tổ tiên để lại cho họ.
(Theo Tạp chí Việt Nam hương sắc)
*Bước 2: Phân tích đặc điểm của mẫu.
Giáo viên đưa các câu hỏi gợi ý để giúp học sinh tìm hiểu đặc điểm của mẫu. Có thể chia
học sinh thành nhóm nhỏ để các em trao đổi tìm câu trả lời.
Chất ni-cô-tin của thuốc lá làm các động mạch co thắt lại, gây những bệnh nghiêm trọng
như huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim. Có thấy một bệnh nhân bị tác động
mạch chân lên những cơn đau như thế nào, rồi phải cắt dần từng ngón chân đến cả bàn
chân; có thấy những người 40-50 tuổi đã chết đột ngột vì nhồi máu cơ tim; có thấy
những khối ung thư ghê tởm mới nhận ra tác hại ghê ghớm của thuốc lá…”.
(Ôn dịch thuốc lá- Nguyễn Khắc Viện)
*Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích đặc điểm của mẫu:
Đọc đoạn văn trên và trả lời câu hỏi:
(1) Đoạn văn trên sử dụng biện pháp gì? Biện pháp đó có tác dụng như thế nào trong việc
diễn đạt nội dung thuyết minh?
(2) Để sử dụng tốt phương pháp liệt kê trong văn thuyết minh, cần phải chú ý điều gì?
* Bước 3: Thực hành theo mẫu:
Giáo viên yêu cầu học sinh viết đoạn văn (khoảng 3 câu) về đối tượng bất kỳ, trong đó sử
dụng phương pháp liệt kê. Ví dụ về 2 bài làm của học sinh:
(1) Mai rất đa dạng và phong phú, nếu dựa vào màu sắc thì mai sẽ có 4 loại chính: hoàng
mai, bạch mai, thanh mai và hồng mai. Nhưng mai vàng lại là loại hoa mà tôi thích
nhất…
17
(2) Đời sống của trâu rất đa dạng và phong phú. Trâu có rất nhiều loại: có con màu đen,
có con lại màu trắng, và lại có con màu vàng nữa…
* Bước 4: Nhận xét, đánh giá:
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát và nhận xét 2 mẫu của 2 bạn:
Gợi ý trả lời:
- Mẫu 1: Chọn đối tượng thuyết minh là 1 loại hoa- hoa mai. Việc liệt kê các loại khác
nhau của hoa mai giúp cho bài viết giàu kiến thức phong phú, thể hiện sự am hiểu của
người viết về hoa mai.
- Mẫu 2: Đối tượng thuyết minh là con trâu, một con vật quen thuộc của nhà nông. Người
viết đã liệt kê các loại trâu khác nhau dựa theo màu sắc da chứng tỏ trâu cũng có nhiều
chủng loại đa dạng.
c. Phương pháp nêu ví dụ:
* Bước 2: Hướng dẫn học sinh phân tích đặc điểm của mẫu:
Yêu cầu học sinh đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi:
19
(1) Đoạn văn trên cung cấp những số liệu nào? Nếu không có số liệu thì có thể làm sáng
tỏ được vấn đề thuyết minh không?
(2) Khi sử dụng số liệu trong phương pháp thuyết minh, phải chú ý điều gì?
* Bước 3: Thực hành theo mẫu:
Học sinh dựa vào mẫu để viết một đoạn văn thuyết minh có sử dụng phương pháp trên:
Gạo là nguồn thu nhập và cuộc sống của hàng triệu nông dân trên toàn thế giới. Họ
dùng khoảng 150 triệu hecta hàng năm để trồng lúa, với sản lượng khoảng 600 triệu tấn.
Châu Á là nơi sản xuất và cũng là nơi tiêu thụ khoảng 90%lượng gạo toàn thế giới. Châu
Phi gần như toàn bộ 38 nước đều trồng lúa, song diện tích lúa ở Madagasca và Nigieria
chiếm 60% tổng diện tích lúa là 8,5 triệu hecta của châu lục này.
*. Bước 4: Nhận xét, đánh giá:
Yêu cầu học sinh quan sát bài làm của bạn và nêu nhận xét, đánh giá.
Gợi ý trả lời:
- Đoạn văn trên thuyết minh về vai trò của gạo đối với thế giới, nhất là người nông dân.
- Đoạn văn đã sử dụng số liệu minh hoạ: 150 triệu hecta, 600 triệu tấn, 90% lượng gạo
thế giới được tiêu thụ ở châu Á,38 nước châu Phi trồng lúa, tổng diện tích là 8,5 triệu
hecta, Madagasca và Nigieria chiếm 60% tổng diện tích
- Tác dụng: cung cấp số liệu chính xác, thuyết phục người đọc về sự hiện diện của cây
lúa, vai trò của nó trong đời sống nông dân, nhất là khu vực châu Á, châu Phi .
e. Phương pháp so sánh:
* Bước 1: Giáo viên cung cấp mẫu:
20
“ Ôn dịch thuốc lá đe doạ sức khoẻ và tính mạng loài người còn nặng hơn cả
AIDS… Nếu giặc đánh như vũ bão thì không đáng sợ, đáng sợ là giặc gặm nhấm như
tằm ăn dâu”.
( Ôn dịch thuốc lá- Nguyễn Khắc Viện)
* Bước 2: Hướng dẫn học sinh quan sát và phân tích đặc điểm của mẫu.
- Vận dụng kiến thức về các phương pháp trong các bài cụ thể.
2.2. Bước 2: Luyện tập dựa trên cơ sở lý thuyết.
Giáo viên xây dựng hệ thống bài tập theo ba mức độ: nhận biết, thông hiểu, vận
dụng (dựa trên nội dụng lý thuyết)
a. Kiểu bài nhận biết:
Đọc đoạn văn thuyết minh sau và cho biết người viết đã sử dụng các phương
pháp thuyết minh nào?
22
Khu di tích đền Hùng gồm đền Thượng, đền Trung, đền Hạ, lăng vua Hùng thứ
6, đền Giếng ở phía Đông Nam dưới chân núi Nghĩa Lĩnh( vì trong đền có Giếng Ngọc,
nơi công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa là hai con gái của vua Hùng thứ 18 thường soi
giếng để chải tóc, vấn khăn , nên gọi là đền Giếng).
Gợi ý trả lời: Đoạn văn sử dụng phương pháp liệt kê, giải thích.
b. Kiểu bài thông hiểu:
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi nêu bên dưới:
CẢNH BÁO TỪ NƯỚC NGỌT CÓ GAS
Một nghiên cứu mới đây trên báo Cancer Epidemiology đã kết luận, uống nhiều
nước ngọt có gas sẽ làm tăng nguy cơ ung thư tuyến tuỵ. Nghiên cứu được thực hiện trên
648.387 người Trung Hoa cư trú ở Singapore, được theo dõi trong 14 năm, tất cả đều
tiêu thụ 2 lon nước ngọt có gas hoặc nhiều hơn mỗi tuần. Và hầu hết đã bị tăng 87%
nguy cơ ung thư tuyến tuỵ. Nước ngọt có gas có mật độ đường cao làm tăng mức insulin
trong cơ thể, điều này góp phần vào sự phát triển tế bào ung thư tuyến tuỵ.
Ngược lại, các nhà nghiên cứu đã không tìm thấy sự liên quan giữa việc uống
nước trái cây và các triệu chứng ung thư tuyến tuỵ. Bởi vì nước trái cây có ít chất đường,
nhiều chất dinh dưỡng. Tuy nhiên, chúng ta lại ít dùng loại này so với nước ngọt có gas.
Ung thư tuyến tuỵ là nguyên nhân gây tử vong thứ 4 đối với cả nam lẫn nữ,
chiếm 6% các bệnh ung thư liên quan đến tử vong …
Để bảo vệ sức khoẻ, tránh uống nước ngọt có gas hoặc uống ít hơn 2 lon mỗi
tuần để ngăn ngừa nguy cơ phát triển bệnh ung thư tuyến tuỵ. Nên ăn nhiều trái cây và
23
- Lợi ích, giá trị, ý nghĩa của loài vật đó trong đời sống con người.
Kết bài: Nhấn mạnh ý nghĩa của loài vật đó đối với con người
Sau khi tạo lập dàn ý chi tiết,học sinh viết các đoạn văn để tạo văn bản hoàn chỉnh sao
cho đúng yêu cầu đã nêu ra. Chú ý các em khi viết phải kết hợp nhiều phương pháp
thuyết minh.
Bài viết của học sinh:
Con trâu là con vật rất quen thuộc, thân thiết, gắn bó với nhân dân ta. Nó
giúp người nông dân Việt Nam trong lao động và sản xuất. Chính vì thế mà cha ông xưa
vẫn đánh giá nó là “đầu cơ nghiệp” đối với nhà nông.
Trâu thuộc lớp động vật nhai lạivà rất dễ nuôi. Nó mang lại cho nhân dân nhiều lợi ích.
Con trâu có bộ lông màu đen hoặc xam xám. Đôi khi cũng có con màu trắng nhưng rất
ít. Nó đi bằng bốn chân, nó thích nghi với cả môi trường nước và cạn. Đầu nó đặc biệt
với chiếc mồm nhô ra, hàm răng khoẻ như một chiếc máy nghiền. Đôi mắt to. Đặc trưng
nhất là đôi song dài cong cong, cứng cỏi, vừa hiên ngang vừa nặng nề, vướng víu. Tuy
nó sống trên cạn nhưng khi trời nắng, nó thường tới những nơi có nước để ngâm mình.
25