Phương pháp dạy học Văn thuyết minh cho học sinh lớp 10 THPT - Pdf 13

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn thứ hai của quá trình Công nghiệp
hoá- hiện đại hoá với mục tiêu phấn đấu là đến năm 2020, nước ta sẽ trở thành
một nước Công nghiệp. Để theo kịp xu thế chung của thế giới, chúng ta đã và
đang chú trọng đầu tư cho giáo dục với mục tiêu là: “Đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẫm mĩ và nghề
nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(điều 2 chương I- Luật giáo dục).
Để thực hiện những mục tiêu đó, ngành giáo dục đã và đang tiến hành
những đổi mới cải cách về nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục toàn
diện cho học sinh nói chung và cho học sinh THPT nói riêng. Và một trong
những yêu cầu đặt ra đối với giáo viên THPT trong thế kỉ mới là tổ chức các
hoạt động dạy- học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh, lấy
học sinh làm trung tâm Bộ môn Ngữ văn cũng không nằm ngoài quy luật
chung đó. Môn Ngữ văn hiện nay được xây dựng trên quan điểm tích hợp: ba
phân môn Văn học, Tiếng việt, Làm văn được kết hợp thành một bộ môn có tên
gọi là Ngữ văn.
Làm văn là một trong ba phân môn của Ngữ văn và nó đóng vai trò quan
trọng trong việc cung cấp các tri thức cơ bản về các kiểu văn bản. Bài làm văn là
sản phẩm tinh thần, kết tinh sự nhận thức, vốn sống, là bằng chứng thể hiện
năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng, tạo lập văn bản để bộc lộ xúc cảm, trí tuệ,
tình cảm nhân văn của học sinh. Nhiệm vụ chủ yếu của Làm văn trong nhà
trường là rèn luyện các kĩ năng: tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, dựng đoạn…
Thành thục các kĩ năng này học sinh sẽ viết được bài văn rõ ràng, mạch lạc, đầy
đủ ý, đúng yêu cầu.
Từ vị trí, nhiệm vụ của phân môn Làm văn có thể thấy đây là phân môn
có vai trò quan trọng giúp học sinh tạo lập văn bản nói hoặc viết phục vụ mục
đích giao tiếp. Tuy nhiên thực tế giảng dạy môn Làm văn hiện nay còn một số
vấn đề bất cập sau:
Trước hết, giáo viên còn tâm lí “ngại”khi giảng dạy Làm văn vì cho rằng

Thuyết
minh
Kiểu văn bản cung cấp tri thức khách quan, xác thực, hữu ích.
Tự sự Trình bày chuỗi sự việc theo một trình tự, có nhân vật và hành
động, ngôn ngữ của nhân vật để thể hiện diễn biến sự việc
Miêu tả Tái hiện hình ảnh của người, vật, việc một cách sinh động để
người nghe, đọc như thấy nó đang ở ngay trước mắt.
Biểu cảm Bộc lộ tình cảm, cảm xúc, suy nghĩ, thái độ, đánh giá chủ quan
của người viết, truyền tải cảm xúc, tình cảm ấy tới người đọc,
người nghe.
Nghị luận Người viết, người nói xác lập tư tưởng, quan điểm và thuyết phục
người đọc, người nghe đồng tình với mình
Văn thuyết minh là loại văn bản khác hẳn với tự sự (vì không có sự việc,
diễn biến), khác với miêu tả ( vì không đòi hỏi tái hiện hình ảnh một cách cụ thể
cho người đọc cảm thấy, mà cốt làm cho người ta hiểu), khác với văn bản nghị
luận ( vì ở đây cái chính là trình bày nguyên lí, quy luật, cách thức…chứ không
phải là luận điểm, suy luận, lí lẽ), nghĩa là văn bản thuyết minh là một kiểu văn
bản riêng, mà các loại văn bản tự sự, miêu tả, nghị luận không thay thế được.
2. Các dạng văn thuyết minh:
Trong văn thuyết minh thường gặp các dạng sau:
- Thuyết minh về một thứ đồ dùng
-Thuyết minh về một loài vật
2
- Thuyết minh về một phương pháp (cách làm món ăn)
- Thuyết minh về một danh lam thắng cảnh
- Thuyết minh về một thể loại văn học (hoặc một tác giả văn học)
- Thuyết minh về một phong tục, một đồ chơi dân gian
3. Các yêu cầu của văn thuyết minh
a. Phải nắm bắt được đặc trưng sự vật
Việc nắm bắt được đặc trưng sự vật là vô cùng quan trọng. Đặc trưng của

Mạch lạc là yếu tố cần thiết cho mọi thể văn.Với văn bản thuyết minh thì
yêu cầu này càng cao. Bởi lẽ: mục đích chính của thuyết minh là đem đến cho
người đọc một vốn hiểu biết tương đối hoàn chỉnh về đối tượng (dù chỉ là hoàn
chỉnh về một mặt, một phương diện nào đó). Vậy nên, các tầng thứ trình bày
càng rành mạch, rõ ràng, tuân theo tính quy luật của đối tượng thì chắc chắn sự
lĩnh hội ở người đọc sẽ dễ dàng và mang tính khoa học cao.
3
Sự mạch lạc trong văn thuyết minh cũng sẽ hiển thị ở trình tự trình bày.
Sự vật khách quan muôn hình muôn vẻ, bởi vậy trình tự thuyết minh cũng phải
hết sức linh hoạt. Có thể thuyết minh theo trình tự: thời gian, không gian,
phương diện, cấu trúc…miễn sao hợp lí, lôgic, rõ ràng, dễ hiểu.
4. Các phương pháp thuyết minh
a. Phương pháp nêu định nghĩa
Đây là phương pháp chỉ ra bản chất của đối tượng thuyết minh, vạch ra
phương pháp lôgic của thuộc tính sự vật bằng lời lẽ rõ ràng, chính xác, ngắn
gọn. Muốn thuyết minh chuẩn xác đối tượng theo cách định nghĩa, cần nắm
được hai vấn đề: Một là tính chất của đối tượng, nó thuộc loại nào. Hai là đặc
điểm riêng của đối tượng, tức là chỗ khác với đối tượng cùng loại. Chẳng hạn:
- Giun là động vật có đốt, gồm khoảng 2500 loài, chuyên sống ở vùng đất
ẩm.
- Hát quan họ là một lối hát đối đáp giữa hai bên trai và gái.
b. Phương pháp liệt kê.
Đây là phương pháp lần lượt chỉ ra các đặc điểm, tính chất của đối tượng
theo một trật tự nào đó.
c. Phương pháp nêu ví dụ cụ thể
Đây là phương pháp thuyết minh sự thật bằng cách nêu dẫn chứng thực tế.
Dùng cách này ta có thể thuyết minh, giải thích rõ ràng hơn, tạo ấn tượng cụ thể
cho người đọc.
d. Phương pháp so sánh.
Đây là cách đối chiếu hai hoặc hơn hai đối tượng để làm nổi bật bản chất

Như vậy, khi làm một bài văn thuyết minh phải vận dụng nhiều phương
pháp khác nhau. Bởi vì văn bản thuyết minh do yêu cầu nội tại, đòi hỏi sự đa
dạng của các phương pháp trình bày. Đây là một đặc trưng quan trọng trong
phương pháp viết bài văn thuyết minh.
5. Quy trình làm bài văn thuyết minh.
Làm một bài văn thuyết minh cũng phải tiến hành qua 5 bước: Tìm hiểu
đề , tìm ý, lập dàn ý, viết văn bản, kiểm tra.
II.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Thực tiễn trong quá trình dạy và học văn thuyết minh ở trường THPT,
giáo viên và học sinh gặp một số thuận lợi và khó khăn,
Trước hết, văn thuyết minh là kiểu loại văn bản mới mẻ nhưng cũng rất
thông dụng trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội nhất là đã học ở THCS. Vì vậy,
người giáo viên có điều kiện tìm được nhiều ví dụ quen thuộc trong đời sống
hàng ngày để học sinh có thể tìm hiểu và thấy được kiểu văn bản này mang tính
ứng dụng lớn. Từ đó có thể khích lệ các em sử dụng kiểu văn bản thuyết minh
vào những trường hợp cụ thể, thích hợp.
Bên cạnh đó, trong quá trình làm bài văn thuyết minh, học sinh được chủ
động tìm hiểu và tiếp cận với nhiều tri thức đôi khi là rất mới mẻ về các vật
dụng có thể nói là quen thuộc trong đời sống (Ví dụ: chiếc bút bi, cái nón…).
Điều này đem đến sự hứng thú cho học sinh trong học tập và tạo cho các em thói
quen tìm hiểu sự vật một cách cặn kẽ để tạo lập được những văn bản mang tính
khoa học. Qua đó, năng lực tư duy và biểu đạt của học sinh được nâng cao.
Tuy nhiên việc dạy và học văn thuyết minh còn gặp một số khó khăn.
Trước hết, ta thấy tài liệu viết chuyên về văn thuyết minh không nhiều bằng các
kiểu loại văn bản khác như tự sự, miêu tả, nghị luận. Vì thế người giáo viên ít có
tài liệu tham khảo để bồi dưỡng thêm những hiểu biết về đặc trưng của kiểu loại
văn bản này .
Bên cạnh đó, để hướng dẫn các em viết được một bài văn thuyết minh tốt,
xuất phát từ đặc trưng của bộ môn, người giáo viên phải tìm tài liệu về đối tượng
thuyết minh. Ví dụ tìm hiểu về nguồn gốc của chiếc nón, lịch sử ra đời của

minh là một công việc đòi hỏi nhiều sự nỗ lực của giáo viên. Và chính người
học sinh cũng cần có nhiều cố gắng trong quá trình học văn thuyết minh. Bởi lẽ,
hiện nay, nhiều học sinh xuất hiện tâm lí ngại khi phải làm bài văn thuyết minh.
Điều đó dẫn đến việc một số học sinh còn có thói quen ỷ lại vào văn mẫu để trả
bài trên lớp. Nguyên nhân trên dẫn đến chất lượng bài văn thuyết minh do học
sinh tạo lập có chất lượng chưa cao…
Xuất phát từ thực tiễn dạy và học văn thuyết minh trong chương trình
Ngữ Văn 10 (những thuận lợi, khó khăn, những việc đã làm được, những hạn
chế gặp phải), việc hướng dẫn các kĩ năng làm văn gắn với kiểu văn bản thuyết
minh cho học sinh là điều cần thiết. Đặc biệt, văn thuyết minh là kiểu bài cung
cấp tri thức khoa học nên vấn đề phương pháp càng cần được quan tâm để giúp
học sinh có chất liệu phong phú để viết bài giúp các em tự tin hơn, cố gắng tạo
ra được một bài văn thuyết minh tốt- một sản phẩm mang tính cá nhân người
viết.
III. GIẢI PHÁP VÀ CÁCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN VẤN ĐỀ
1.Phương pháp dạy lý thuyết “Phương pháp thuyết minh”:
6
Trong dạy học tập làm văn nói chung và trong dạy học văn thuyết minh
nói riêng thì phương pháp phân tích và dạy học theo mẫu, có thể nói là phương
pháp tối ưu hơn cả. Nhưng muốn sử dụng thành thạo và hiệu qủa phương pháp
này thì người giáo viên phải nắm được bản chất, quy trình thực hiện, ưu điểm,
hạn chế và một số lưu ý của phương pháp này
1.1. Nhận thức chung.
Phương pháp dạy học theo mẫu là phương pháp thông qua mẫu cụ thể về
lời nói để giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu dặc điểm của mẫu, cơ chế tạo
mẫu, biết cách tạo ra những lời nói theo định hướng của mẫu .
Quy trình thực hiện phương pháp này gồm 4 bước:
- Bước 1: Giáo viên chọn lọc giới thiệu mẫu chứa hiện tượng ngôn ngữ cần
tìm hiểu.
- Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích mẫu để nhận biết các bộ

7
Giáo viên cho học sinh đọc kĩ mẫu
BÁNH CỐM
Thuở ban đầu người làm bánh cốm chỉ suy nghĩ đơn giảnlà muốn làm loại
bánh gần giống như bánh chưng, nhưng khác với bánh chưnglà có ngọt. Bởi vậy
nguyên liệu làm bánh cốm cũng là gạo nếp và đậu xanh. Loại gạo nếp làm bánh
cốm là gạo nếp non được chế biến ra dạng cốm, dùng làm vỏ bánh. Nhân bánh
được làm từ đậu xanh và dừa. Cả nhân và vỏ bánh đều được xào lẫn với đường
tạo cho bánh vị ngọt, thơm ngon.
Bánh cốm có ngon hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu chọn
nguyên liệu. Cốm làm bánh phải là cốm già, nếu non quá khi xào với đường sẽ
bị nhão không dùng làm vỏ bánh được. Nếu bánh được làm đúng vào mùa cốm,
người ta thường pha thêm cốm tươi để bánh dẻo và thơm mùi cốm mới. Trước
khi xào đường, cốm được ủkhoảng một giờ đồng hồ. Tiếp đến là làm nhân bánh.
Đậu xanh thường dùng là loại đậu của vùng Thái Bình, Sơn La, Bắc Ninh vì
loại đậu này khi ngâm nước có độ nở vừa phải. Còn đậu xanh của các vùng
khác, đặc biệt là đậu trồng ở khu vực phía Nam, khi ngâm nước nở nhiều, dễ bị
thiu, không thể dùng làm nhân bánh được.
Những người chuyên làm bánh cho rằng chẳng có một công thức cụ thể nào
để làm bánh cốm. Bí quyết để có bánh ngon hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm và
thói quen của mỗi người làm bánh. Ví dụ ở khâu ủ cốm, nhiều người cho rằng
khi đặt tay lên bề mặt cốm cảm giác hết độ dính thì mới đem xào đường. Do vậy
tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu, tuỳ loại cốm, thời gian ủ có xê dịch đôi
chút. Khi xào cốm phải xác định thời gian vừa phải, không kĩ quá làm vỏ bánh
bị cứng, hoặc không quá nhanh, cốm chưa kịp ngấm đường, không để được lâu.
Khi xào nhân cũng vậy, phải xào cho đến khi nước bốc hơi hết, chỉ còn lại
đường và đậu dính quyện vào nhau mới ngon. Bánh cốm làm xong được ướp
hương hoa bưởi và một số vị thuốc bắc hoặc bằng vani, vừa nhanh, vừa tiện.
Hàng Than là một phố chuyên làm bánh cốm của Hà Nội. Ở phố này có tới
hơn 20 cửa hàng bánh cốm với những cái tên gần giống nhau như Ạn Ninh,

Gợi ý trả lời:
- Mẫu 1: Định nghĩa quá rộng, chưa nêu rõ được đặc điểm riêng của ca dao-
dân ca
- Mẫu 2: Giới thiệu được đối tượng thuyết minh là Văn Miếu Quốc Tử Giám
nhưng vẫn còn chung chung, trừu tượng.
- Mẫu 3: Đã nêu được đối tượng cụ thể để thuyết minh là Hà Nội và nêu
khái quát về vai trò, vị trí và giá trị của Hà Nội: thủ đô nước Việt Nam, thủ đô
văn hiến, bề dày văn hoá- lịch sử 1000 năm.
Kết luận về phương pháp nêu định nghĩa, giải thích cho bài văn thuyết minh:
- Không nên nêu định nghĩa quá rộng, quá hẹp hay trùng lặp.
- Không định nghĩa một cách quá trừu tượng, chung chung.
b. Phương pháp liệt kê:
* Bước 1: Giáo viên cung cấp mẫu văn:
“Ta đến Viện Nghiên cứu các bệnh tim mạch, bác sĩ viện trưởng
cho biết: Chất ni-cô-tin của thuốc lá làm các động mạch co thắt lại, gây
những bệnh nghiêm trọng như huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ
tim. Có thấy một bệnh nhân bị tác động mạch chân lên những cơn đau như
thế nào, rồi phải cắt dần từng ngón chân đến cả bàn chân; có thấy những
người 40-50 tuổi đã chết đột ngột vì nhồi máu cơ tim; có thấy những khối
ung thư ghê tởm mới nhận ra tác hại ghê ghớm của thuốc lá…”.
(Ôn dịch thuốc lá- Nguyễn Khắc Viện)
*Bước 2: Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, phân tích đặc điểm của
mẫu:
Đọc đoạn văn trên và trả lời câu hỏi:
(1) Đoạn văn trên sử dụng biện pháp gì? Biện pháp đó có tác dụng như thế
nào trong việc diễn đạt nội dung thuyết minh?
9
(2) Để sử dụng tốt phương pháp liệt kê trong văn thuyết minh, cần phải chú
ý điều gì?
* Bước 3: Thực hành theo mẫu:

kỳ, có sử dụng phương pháp nêu ví dụ:
Cây lúa đòi hỏi một lượng nước lớn hơn nhiều so với các cây trồng khác.
Việc gieo trồng lúa là một công việc chứa đựng các yếu tố mâu thuẫn tại một
vài khu vực, chẳng hạn tại Hoa Kỳ và Australia, là các khu vực mà việc gieo
trồng lúa chiếm tới 7% tài nguyên nước của các quốc gia này nhưng chỉ tạo ra
0,02% GDP.
* Bước 4: Nhận xét đánh giá:
Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát và đánh giá bài làm của bạn:
Gợi ý trả lời: Đối tượng thuyết minh là một loại cây- cây lúa. Đoạn văn sử
dụng phương pháp nêu ví dụ về việc gieo trồng lúa ở Hoa Kỳ và Ausstralia
10
chiếm tới 7% lượng nước của quốc gia nhưng chỉ tạo ra 0,02% GDP. Qua đó
người viết cho thấy cây lúa sử dụng rất nhiều nước.
d. Phương pháp dùng số liệu:
* Bước 1: Giáo viên cung cấp mẫu:
Sản xuất gạo toàn cầu đã tăng lên đều đặn từ khoảng 200 triệu tấn vào năm
1960 tới 600 triệu tấn vào năm 2004. Gạo đã xay xát chiếm khoảng 68% trọng
lượng thóc ban đầu. Năm 2004, ba quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu là Trung
Quốc( 31% sản lượng thế giới), Ấn Độ( 20%) và Inđônêxia(9%).
* Bước 2: Hướng dẫn học sinh phân tích đặc điểm của mẫu:
Yêu cầu học sinh đọc đoạn văn và trả lời câu hỏi:
(1) Đoạn văn trên cung cấp những số liệu nào? Nếu không có số liệu thì có
thể làm sáng tỏ được vấn đề thuyết minh không?
(2) Khi sử dụng số liệu trong phương pháp thuyết minh, phải chú ý điều gì?
* Bước 3: Thực hành theo mẫu:
Học sinh dựa vào mẫu để viết một đoạn văn thuyết minh có sử dụng phương
pháp trên:
Gạo là nguồn thu nhập và cuộc sống của hàng triệu nông dân trên toàn thế
giới. Họ dùng khoảng 150 triệu hecta hàng năm để trồng lúa, với sản lượng
khoảng 600 triệu tấn. Châu Á là nơi sản xuất và cũng là nơi tiêu thụ khoảng

xuống, Hạ Long như một bức tranh thuỷ mặc khổng lồ, sống động với những tác
phẩm tạo hình tuyệt mĩ của tạo hoá
( Bài làm của học sinh)
* Bước 4: Nhận xét đánh giá:
Yêu cầu học sinh đọc đoạn bài làm của bạn và nhận xét
Gợi ý trả lời:
- Đoạn văn thuyết minh về vịnh Hạ Long
- Đoạn văn đã sử dụng phương pháp so sánh: so sánh hàng ngàn hòn đảo với
những viên ngọc bích đính trên chiếc khăn voan xanh biếc; so sánh Hạ Long với
bức tranh thuỷ mặc khổng lồ, sống động.
- Tác dụng: làm cho đối tượng thuyết minh trở nên thơ mộng, gần gũi với
con người, làm nổi bật vẻ đẹp của kỳ quan thiên nhiên thế giới- Hạ Long.
2. Phương pháp dạy thực hành về “ Phương pháp thuyết minh”
Giờ dạy thực hành về phương pháp thuyết minh là việc soi sáng, củng cố lý
thuyết về phương pháp thuyết minh mà học sinh đã được học trước đó, đồng
thời cũng là lúc các em được hình thành và rèn luyện những kĩ năng tạo lập văn
bản thuyết minh theo những phương pháp đã học .
Giờ thực hành về phương pháp thuyết minh được tiến hành theo 3 bước:
2.1. Bước 1: Xác định nội dung lý thuyết.
- Học sinh nắm được các phương pháp thuyết minh cơ bản .
- Nắm được đặc điểm, cách làm, tác dụng của mỗi phương pháp thuyết
minh.
- Vận dụng kiến thức về các phương pháp trong các bài cụ thể.
2.2. Bước 2: Luyện tập dựa trên cơ sở lý thuyết.
Giáo viên xây dựng hệ thống bài tập theo ba mức độ: nhận biết, thông
hiểu, vận dụng (dựa trên nội dụng lý thuyết)
a. Kiểu bài nhận biết:
Đọc đoạn văn thuyết minh sau và cho biết người viết đã sử dụng các
phương pháp thuyết minh nào?
Khu di tích đền Hùng gồm đền Thượng, đền Trung, đền Hạ, lăng vua

- Em rút ra được kinh nghiệm gì khi sử dụng các phương pháp thuyết
minh?
Gợi ý trả lời:
- Văn bản trên là văn bản thuyết minh vì nó cung cấp cho người đọc
nhiều tri thức khoa học khách quan về những tác hại của nước ngọt có gas, từ đó
giúp người đọc có sự hiểu biết để bảo vệ sức khoẻ cho bản thân và cho những
người xung quanh.
-Văn bản trên đã sử dụng nhiều phương pháp thuyết minh khác nhau:
so sánh, nêu số liệu, giải thích…
-Có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp thuyết minh trong một
văn bản thuyết minh. Các phương pháp sẽ làm cho đối tượng thuyết minh được
trở nên rõ ràng, có sức thuyết phục đối với người đọc( nghe)
c. Kiểu bài vận dụng:
Giáo viên đưa ra đề bài cho học sinh tiến hành luyện tập:
Đề bài: Thuyết minh về con trâu trong công việc nhà nông
Dựa vào kiến thức lý thuyết chung về dạng bài thuyết minh về loài vật,
học sinh trao đổi với nhau để lập dàn ý chi tiết cho bài thuyết minh về con trâu.
Mở bài: Giới thiệu chung về con trâu: một con vật rất quen thuộc trong
đời sống, công việc của người nông dân Việt Nam từ xưa tới nay.
Thân bài:
13
- Đặc điểm chung của loài trâu
- Những bộ phận cơ thể đặc trưng nhất .
- Tập tính sinh trưởng của loài, quá trình tiến hoá.
- Cách nuôi dưỡng, chăm sóc
- Lợi ích, giá trị, ý nghĩa của loài vật đó trong đời sống con người.
Kết bài: Nhấn mạnh ý nghĩa của loài vật đó đối với con người
Sau khi tạo lập dàn ý chi tiết,học sinh viết các đoạn văn để tạo văn bản hoàn
chỉnh sao cho đúng yêu cầu đã nêu ra. Chú ý các em khi viết phải kết hợp nhiều
phương pháp thuyết minh.

Và họ đã thể hiện tấm lòng yêu quý và chung thuỷ với con trâu:
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn
14
Hiện nay tuy nước ta có nền nông nghiệp đã được kết hợp với máy móc hiện
đại nhưng trâu vẫn là con vật thân thuộc đối với mọi người. Nó là hình ảnh đã
đi sâu vào tình cảm của người dân Việt Nam. Hình ảnh của nó có trong ca dao,
dân ca và cả trong các loại hình nghệ thuật khác.
*Nhận xét, đánh giá:
- Người viết đã cho người đọc những hiểu biết về loài trâu với nhiều thông
tin, chính xác, khách quan và cũng rất thú vị.
- Bài làm đã sử dụng một số phương pháp thuyết minh: định nghĩa, so
sánh, liệt kê…
2.3. Bước 3: Nhận xét, đánh giá:
a. Ưu điểm:
- Các vấn đề đưa ra tuân thủ theo mức độ từ dễ đến khó và phù hợp với nội
dung lý thuyết.
- Rèn được cho học sinh kỹ năng nhận diện, phát hiện và luyện viết văn
thuyết minh.
- Các em học sinh không bị nhầm lẫn giữa các phương pháp và vận dụng
khá thành thạo trong bài viết của mình.
- Ở kiểu bài nhận diện, phát hiện, đa số các em tìm và gọi tên đúng các
phương pháp thuyết minh và nêu được tác dụng của chúng.
- Ở kiểu bài vận dụng, các em biết vận dụng tổng hợp các kiến thức về văn
thuyết minh để làm bài như: tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết đoạn…
- Cũng có nhiều bài làm của học sinh tương đối công phu trong việc tìm tòi
tài liệu, không bị nhầm sang các phương thức biểu đạt khác.
b. Hạn chế:
- Một số bài của học sinh còn chưa biết sắp xếp theo trình tự hợp lý nên bài
thuyết minh còn lan man, trùng lặp.

hợp với đối tượng. Giáo viên cũng cần có phương pháp phân tích mẫu để hình
thành cho học sinhkhái niệm lý thuyết. Từ lý thuyết được tiếp nhận, người giáo
viên cũng cần được quan tâm đến quá trình thực hành luyện tập của các em để
qua đó có những sự tự đánh giá về hiệu quả giảng dạycách vận dụng phương
phápthuyết minh phù hợp với đối tượng. Chính sản phẩm, bài viết của các em là
căn cứ đẻ người giáo viên đánh giá phương pháp giảng dạy của mình. Từ đó có
thể rút được kinh nghiệm quý báu trong quá trình giảng dạy văn thuyết minh nói
riêng và giảng dạy Tập làm văn nói chung.
Bên cạnh đó, trong thực tiễn, việc áp dụng phương pháp dạy học sinh
cách nắm bắt và vận dụng phương pháp thuyết minh trong văn thuyết minh là
yêu cầu cần thiết được đặt ra. Nếu người giáo viên hình thành được cho học
sinhkĩ năng vận dụng phương pháp thuyết minh hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho
các em viết tốt bài tập làm văn thuyết minh. Từ đó khắc phục được một trong
những điểm còn hạn chế trong việc viết bài của học sinh là viết lan man, thiếu ý
hoặcn đối tượng thuyết minh chung chung, thiếu độ tin cậy, khách quan…
Như vậy, để nâng cao chất lượng học tập làm vănnói chung và văn
thuyết minh noí riêng cho học sinh, người giáo viên cần đổi mới phương pháp
giảng dạy, tìm ra những cách dạy đổi mới, hiệu quả. Đặc biệt, đối với kiểu văn
bản mới đưa vào chương trình là văn thuyết minh thì người giáo viên càng cần
học tập và nghiên cứu để rút ra những điều cần thiết, bổ ích cho hoạt động dạy
học của mình. Người giáo viên cần ý thức được rằng, để học sinh có thể tạo
được một bài văn thuyết minh thì người giáo viên cần phải có sự chỉ đạo, hướng
dẫn chứ không phải làm thay cho học sịnh. Chính vì vậy, cần hình thành cho học
sinh các kĩ năng cần thiết khi viết bài tập làm văn thuyết minh để đảm bảo cho
các em có thể vận dụng linh hoạt vào các dạng bài văn thuyết minh khác nhau.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, do điều kiện thời gian có hạn, mà vấn
đề khá phức tạp, bản thân chỉ giải quyết được một phần nào đó của vấn đề, đề tài
đưa ra. Tôi rất mong nhận được những lời đóng góp của bạn bè đồng nghiệp để
cùng tiếp tục suy nghĩ hoàn thiện với mục đích góp phần vào việc đưa chất
lượng dạy học Làm văn ở trường THPT đạt kết quả tốt hơn.

2 Phương pháp dạy thực hành về “Phương pháp thuyết minh” 12
2.1 Bước 1: Xác định nội dung lý thuyết 12
2.2 Bước 2: Luyện tập dựa trên cơ sở lý thuyết 12
2.3 Bước 3: Nhận xét, đánh giá 15
IV Kiểm nghiệm 15
C. Kết luận 16
18
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT BỈM SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VĂN THUYẾT MINH
CHO HỌC SINH LỚP 10 THPT
Người thực hiện: Trịnh Thị Thanh Hải
Chức vụ : Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực môn: Ngữ Văn
THANH HOÁ NĂM 2013
19
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status