skkn xây DỰNG hệ THỐNG bài tập rèn LUYỆN kỹ NĂNG đọc HIỂU văn bản tự sự CHO học SINH THPT - Pdf 32

1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG XUÂN THỌ

Mã số:…………………………...

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ
CHO HỌC SINH THPT

Người thực hiện: TRƯƠNG MỸ NGA
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn

Năm học: 2012 -2013
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC


2

I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên:

TRƯƠNG MỸ NGA

2. Sinh ngày: 27/05/1984
3. Giới tính: Nữ
4. Địa chỉ: Ấp Thọ Trung, xã Xuân Thọ, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai

1.1.2. Đọc hiểu tác phẩm tự sự 10
1.2.3. Tình hình dạy đọc hiểu văn bản tự sự ở trường THPT. 11
1.2. Hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự 13
1.2.1. Khái niệm bài tập, hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự 13
1.2.2. Sự cần thiết của hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự 14
1.2.3. Định hướng khi xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện đọc hiểu văn bản tự sự 16
1.2.4. Yêu cầu khi xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự 18
2. Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự ở trường THPT 20
2.1. Bài tập đọc hiểu chi tiết nghệ thuật về nhan đề của văn bản tự sự 20
2.2. Bài tập đọc hiểu chi tiết nghệ thuật về hình tượng nhân vật trong văn bản tự sự 21
2.3. Bài tập đọc hiểu chi tiết nghệ thuật về hình tượng không gian, thời gian trong văn bản tự sự 27
2.4. Bài tập đọc hiểu chi tiết nghệ thuật mở đầu, kết thúc văn bản tự sự 30

III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 32
1. Mô tả thực nghiệm 32
2. Nội dung và quy trình thực nghiệm 32
3. Cách thức đánh giá 32
4. Đánh giá kết quả thực nghiệm 35
5. Kết luận chung 38
THƯ MỤC THAM KHẢO 40


4

I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Sự phát triển của khoa học và công nghệ
Từ xưa đến nay, việc dạy và học văn trong nhà trường bao giờ cũng hết sức
quan trọng, nó góp phần hoàn thiện tâm hồn và nâng cao nhân cách cho các thế hệ
học sinh. Làm sao để học sinh (HS) có thể đọc hiểu và rung động trước những áng
văn hay? Đó là vấn đề đã được đặt ra từ lâu trong thực tiễn dạy học văn nói chung

Qúa trình dạy học văn hiện nay cho thấy, để học tốt văn, người học cần phải
có kỹ năng đọc hiểu văn bản, biết cảm thụ, cảm nhận tốt, phải biết rung cảm trước
cuộc đời và số phận của con người trong tác phẩm thì mới có thể thấy được giá trị
đích thực của văn học. Suy cho cùng, mục đích của việc dạy Ngữ văn là giúp học
sinh có những kiến thức cơ bản về tác giả, tác phẩm tiêu biểu (được chọn làm văn
bản đọc – hiểu), biết nhận thức và rung động trước cái hay, cái đẹp của văn
chương, của ngôn ngữ dân tộc, có kỹ năng trình bày một cách chính xác rồi hấp
dẫn các ý tưởng, cảm xúc của mình. … “Sứ mệnh của dạy văn là bồi dưỡng rèn
luyện cảm xúc thẩm mỹ…” [7].
4. Tăng cường tính thực hành trong quá trình dạy học văn.
Xây dựng hệ thống bài tập là một trong những biện pháp có có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong quá trình phát huy tính chủ động, sáng tạo của HS. Hầu hết
các phương pháp dạy học tích cực đều thông qua hệ thống bài tập để HS tìm tòi,
suy nghĩ và chiếm lĩnh tri thức, đồng thời tăng cường tính thực hành trong quá
trình dạy và học. Trong khi thực tế, chúng ta ít rèn, dạy học còn thiên về lý thuyết,
thiên về thuyết giảng mà coi nhẹ luyện tập, coi nhẹ thực hành.
Hơn nữa, xây dựng hệ thống bài tập trong quá trình dạy học là một trong
những biện pháp góp phần hình thành và rèn luyện kỹ đọc hiểu văn bản văn học
cho HS, giúp học sinh có được những kỹ năng cơ bản khi đọc hiểu và tiếp nhận
văn học. Từ đó, HS sẽ không còn cảm thấy lúng túng, khó khăn khi đứng trước
một tác phẩm văn học, tự bản thân các em sẽ biết cách khám phá và cảm nhận thế
giới muôn màu muôn vẻ của văn chương.
Xuất phát từ những lí do trên, và trong khuôn khổ cho phép của một sáng
kiến kinh nghiệm, tôi chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng
đọc hiểu văn bản tự sự cho học sinh THPT”. Tôi không xây dựng hệ thống bài
tập đọc hiểu tác phẩm văn chương mà chỉ giới hạn ở phạm vi nghiên cứu là các
văn bản tự sự – một thể loại quen thuộc trong chương trình Ngữ văn THPT.


6

7

Có thể nói, đọc hiểu là một hình thức hoạt động có tính chất đặc thù của
nhận thức về văn học. Giữa đọc và hiểu tác phẩm có mối quan hệ biện chứng: do
hiểu đúng mà đọc đúng, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng hơn. Đầu tiên là đọc để nắm
bắt được văn bản, làm cơ sở cho việc tìm hiểu văn bản. Hiểu nội dung tức là người
đọc đã phát hiện ra các thông tin mà tác giả gửi gắm trong văn bản tác phẩm, kể cả
việc nhận diện các yếu tố nghệ thuật đã được sử dụng nhằm chuyển tải thông tin
tới người đọc một cách ấn tượng. Như vậy, hiểu là việc chạm tới nội dung bề mặt
của ngôn từ nghệ thuật (còn gọi là hiển ngôn), để từ đó có thể hiểu rung cảm trước
những gì mà ngôn từ gợi ra để nhận thức được chiều sâu ý nghĩa của văn bản (còn
gọi là hàm ngôn).
Do đó, đọc hiểu tác phẩm văn chương đòi hỏi người đọc không chỉ nắm bắt
thông tin mà còn phải thẩm thấu được thông tin, phân tích, đánh giá được khả năng
sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo được mối giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn
đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó cho người khác. Đúng như nhà văn Anh Đức
đã tâm sự: “Khi đọc, tôi không chỉ thấy dòng chữ mà còn thấy cảnh tượng ở sau
dòng chữ, trí tưởng tượng nhiều khi dẫn tôi đi rất xa, vẽ thêu ra lắm điều thú vị”.
Văn bản nghệ thuật chỉ thực sự có đời sống khi nó vận động trong cảm thụ của
người đọc. Mỗi người đọc văn, học văn bằng vốn sống, vốn văn hoá và thẩm mĩ
riêng sẽ có được hình ảnh riêng về tác giả, tác phẩm. Gắn liền với cá tính và được
xác định bởi cá tính tiếp nhận, đó là đặc thù của hoạt động tiếp nhận văn học và
cũng là đặc thù của hoạt động đọc hiểu.
Trong chương trình Ngữ văn bậc THPT hiện nay, đọc - hiểu được xem như
một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn.
- Vai trò của hoạt động đọc hiểu trong dạy học tác phẩm văn chương
Tác phẩm văn chương là sản phẩm tinh thần độc đáo của nhà văn. Để hiểu
tác phẩm nghệ thuật, người ta đọc cần phải sống và trải nghiệm với nó, nắm bắt
được phương thức tồn tại của tác phẩm cũng như logic phát triển tư tưởng của tác
giả trong tác phẩm. Do đó, đọc – hiểu có vai trò rất quan trọng trong quá trình dạy

gợi, phát huy tính sáng tạo, chủ động, tích cực của học sinh, truyền cho các em
lòng yêu thích văn chương.
Dạy văn phải phát huy tính độc lập, khơi gợi khả năng sáng tạo cho HS.
Hoạt động đọc trong nhà trường góp phần tạo điều kiện cho HS phát triển về mặt


9

năng lực văn học. Đây cũng chính là con đường duy nhất để chuyển dịch HS từ đối
tượng tiếp thu thụ động sang tư cách bạn đọc sáng tạo, tư cách chủ thể tích cực
năng động trong quá trình tiếp nhận tác phẩm.
Đọc hiểu tác phẩm trong nhà trường không chỉ giúp cho học sinh lĩnh hội
được nghệ thuật, ý thức được những tác dụng của nó, mà còn hướng đến tổ chức sự
giao tiếp, đối thoại có hiệu quả với nghệ thuật và phát triển tiềm năng cảm thụ, tiếp
nhận, qua đó từng bước hình thành, phát triển phẩm chất tư cách chủ thể văn học
bạn đọc sáng tạo của mình. Hiểu và cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn
chương kích thích các em yêu văn hơn và bày tỏ quan điểm chính kiến của mình.
Muốn làm được như thế thì người thầy phải biết tôn trọng người học, đặt học trò
vào đúng vai trò chủ thể của mình, phải có đối thoại dân chủ và tạo ra cái mới, cái
lạ cho HS.
Hơn nữa, trong quá trình đọc hiểu, người học không chỉ đọc để suy nghĩ, để
liên tưởng, tưởng tượng mà còn phải thâm nhập vào tác phẩm, sống trong mối
quan hệ giữa các yếu tố tạo nên tác phẩm để cùng nhà văn đồng sáng tạo. Hoạt
động đọc hiểu sẽ góp phần khơi gợi ở HS tình yêu, sự đam mê với văn chương
thông qua sự thấu hiểu, đồng cảm với cuộc đời, số phận nhân vật, qua sự cảm nhận
cái hay, cái tính tế, sáng tạo của nhà văn trong việc sử dụng câu, từ, hình ảnh. Nó
là chìa khóa mở ra một thế giới nghệ thuật đầy hứng thú và say mê cho các em.
Theo như các nhà lí luận, đọc hiểu là phương pháp tiếp nhận nghệ thuật
bằng sự cảm thụ trực tiếp. Mục đích của đọc hiểu là hình thành và duy trì những ấn
tượng nghệ thuật để học sinh tiếp tục đi sâu vào nội dung tư tưởng và hình thức

đòi hỏi phải được phân tích toàn diện cặn kẽ và đúng phương hướng. Điều đặc biệt
ở tác phẩm thuộc thể truyện là cấu tạo hình tượng tác phẩm dựa vào ba yếu tố:
Tình tiết, nhân vật và lời kể như đã nêu. Cho nên khi phân tích cấu tạo hình tượng
của truyện, không thể không lưu tâm đến ba yếu tố đó. Đó cũng là nét phân biệt
cấu tạo một tác phẩm truyện với một bài thơ trữ tình hay một bài văn chính luận.
1.2.3. Tình hình dạy đọc hiểu văn bản tự sự ở trường THPT.
- Về phía giáo viên
Thực trạng phổ biến và cũng là một trong những nhược điểm lớn cần khắc
phục trong dạy học văn bản tự sự hiện nay là GV “áp đặt” những kiến thức cách
hiểu văn chương của mình cho HS.Trong khi lẽ ra, GV phải là người bạn đọc lớn
tuổi có kinh nghiệm, người bắc cầu cho quá trình đối thoại giữa nhà văn và học


11

sinh, tổ chức, định hướng để tự HS từng bước chiếm lĩnh tác phẩm và tự phát triển
dần.
Hiện nay, không ít GV chỉ “chạy” theo khối lượng kiến thức có trong sách
giáo khoa, dạy sao cho đủ, cho đúng phân phối chương trình, cho kịp thời gian, mà
không quan tâm đến việc tìm ra những biện pháp tác động đến quá trình nhận thức
của HS, rèn luyện cho các em những kỹ năng cơ bản để đọc - hiểu, cảm thụ văn
bản.
Ngoài ra, trong dạy học tác phẩm văn chương, GV là người tổ chức, định
hướng cho HS đọc – hiểu, tiếp nhận tác phẩm đôi khi lại thiếu sự rung động, cảm
xúc đối với văn bản mình dạy khiến không khí giờ học văn nặng nề, thiếu sự rung
cảm thẩm mỹ.
- Về phía học sinh
Thực trạng dạy học văn bản tự sự ở trường THPT đã cho chúng ta thấy được
hầu hết HS chỉ đến với tác phẩm văn chương thông qua bài giảng của thầy cô. HS
lâu nay chỉ được coi như một khách thể, một đối tượng tiếp thụ của GV, GV truyền

[11].
Theo Đại tự điển Tiếng Việt: “bài tập là bài ra để luyện tập, vận dụng kiến
thức đã học” [15].
Tuy nhiên, trong dạy học, thông qua nghiên cứu lí luận và sự trải nghiệm
thực tiễn, Thái Duy Tuyên cho rằng: “bài tập là một hệ thông tin xác định bao
gồm những điều kiện và những yêu cầu được đưa ra trong quá trình dạy học, đòi
hỏi người học một lời giải đáp, mà lời giải đáp này về toàn bộ hoặc từng phần
không ở trạng thái có sẵn của người giải tại thời điểm mà bài tập được đặt ra”
[14, tr.224].
Như vậy, khái niệm “bài tập” ở đây có thể được hiểu theo nghĩa rộng là
“bao gồm các đề ra, các câu hỏi, vấn đề, tình huống…” [10] được đặt ra trong quá
trình dạy học.
Hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng là những bài tập có liên hệ nhất định với
nhau, được xây dựng thống nhất trong quá trình dạy học nhằm mục đích hình
thành và phát triển một năng lực, một kỹ năng nào đó cho HS.


13

Bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự là những câu hỏi, vấn đề,
tình huống…nhằm định hướng, dẫn dắt HS tiếp cận, phân tích, đánh giá văn bản tự
sự ấy, qua đó chiếm kĩnh nội dung thẩm mỹ và hình thức nghệ thuật của văn bản,
đồng thời hình thành, phát triển năng lực, kỹ năng đọc hiểu tích cực, chủ động và
sáng tạo cho HS.
1.2.2. Sự cần thiết của hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn
bản tự sự
Hệ thống bài tập trước hết giúp HS hiểu đúng, cảm thụ đúng các văn bản tự
sự trong nhà trường, bổ sung những hạn chế mà thời lượng của một giờ đọc - hiểu
không cho phép giáo viên mở rộng.
Thực tế dạy học văn bản tự sự ở trường THPT đã cho chúng ta thấy, dạy đọc

giả.
Hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự góp phần định
hướng, giúp HS phát hiện ra điểm sáng thẩm mỹ ấy. Nó là cơ sở giúp giải mã văn
bản, khám phá cái đẹp tiềm tàng, cũng như dụng ý nghệ thuật mà nhà văn gửi gắm
thông qua lớp vỏ ngôn từ của văn bản ấy.
Thông qua hệ thống bài tập, tăng cường tính thực hành cho học sinh trong
quá trình dạy học vănvăn bản tự sự, giúp học sinh nhận thức vai trò của việc đọc
hiểu văn bản trong quá trình làm văn.
Từ xưa đến nay, việc học văn đi liền với việc làm văn. Cho nên tự nó cũng
toát nên yêu cầu tăng cường tính thực hành giảm lý thuyết gắn với đời sống. HS
học văn là để nâng cao kiến thức, rèn luyện các kỹ năng cơ bản và vận dụng
chúng vào trong quá trình làm văn. Cho nên việc giảng dạy môn văn theo quan
điểm tích hợp không phủ định việc dạy các tri thức, kỹ năng riêng của từng phân
môn.Vấn đề là làm thế nào phối hợp các tri thức, kĩ năng thuộc từng phân môn
thật nhuần nhuyễn nhằm đạt tới mục tiêu chung của môn Ngữ Văn.
Hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự, góp phần tăng
cường tính thực hành trong dạy học văn. Thông qua việc HS giải quyết các bài đọc
hiểu, các em chẳng những nắm được kiến thức cơ bản về văn bản, khám phá những
điều bất ngờ tiềm ẩn trong văn bản mà còn rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu, viết
đoạn. Điều này rât hữu ích cho quá trình làm văn. Việc các em hiểu đúng, cảm thụ
đúng văn bản tự sự cùng với những kỹ năng được rèn luyện trong quá trình đi tìm


15

đáp án cho những bài tập đọc hiểu sẽ giúp các em viết được những áng văn hay,
mạch lạc và giàu cảm xúc.
1.2.3. Định hướng khi xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện đọc hiểu văn
bản tự sự
Một là, hệ thống bài tập góp phần hình thành và rèn luyện kỹ năng đọc hiểu

phẩm; đặt tác phẩm vào truyền thống văn học để xác định vị trí, ảnh hưởng của nó.
Sau cùng là sự tác động, ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng, tình cảm, hiểu biết và
nhân cách người đọc.
Ba là, xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu vản bản tự sự
phải dựa trên quan điểm tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhà trường.
- Quan điểm tiếp cận lịch sử phát sinh:
Mỗi tác phẩm văn chương luôn luôn ra đời trong những bối cảnh lịch, sử,
văn hóa, xã hội cụ thể, những yếu tố thẩm thấu chắt lọc thông qua lăng kính của
nhà văn. Tiếp cận, phân tích, cảm thụ tác phẩm theo quan điểm toàn diện trước hết
phải vận dụng những hiểu biết ngoài văn bản như hoàn cảnh lịch sử, thời đại, văn
hoá,văn học, tiểu sử, con người, tư tưởng, ý đồ nghệ thuật của nhà văn để hiểu
đúng tác phẩm. Hệ thống bài tập đọc hiểu là công cụ giúp HS nắm vững những
hiểu biết ngoài văn bản này.
- Quan điểm tiếp cận văn bản:
Hiểu biết ngoài văn bản cực kỳ quan trọng nhưng không thể thay thế cho
việc khám phá bản thân văn bản. Do đó, GV khi xây dựng hệ thống bài tập đọc
hiểu phải giúp HS tiếp cận cấu trúc văn bản, phát hiện các cấp độ của chỉnh thể
nghệ thuật, nhất là phân tích sự thống nhất giữa nội dung và hình thức văn bản.
- Quan điểm tiếp cận hướng vào đáp ứng của học sinh:
Xây dựng hệ thống BT đọc hiểu cần hướng học sinh đến vai trò của một chủ
thể cảm thụ, đặt HS trong mối quan hệ với văn bản để HS có thể nói lên tâm tư,
nguyện vọng, bày tỏ những suy nghĩ, cảm xúc của riêng mình.
Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự theo
quan điểm tiếp cận đồng bộ là một trong những giải pháp đảm bảo hiệu quả vững
chắc cho việc dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường.


17

Bốn là, xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ đọc hiểu văn bản tự sự cho

Bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự cần bám sát cấu trúc văn
bản tự sự, định hướng cho HS tiếp xúc với thế giới hình tượng nghệ thuật, ý nghĩa
tư tưởng thẩm mỹ của văn bản thông qua lớp vỏ ngôn từ của văn bản đó. Khi HS
giải quyết hệ thống bài đọc hiểu, HS sẽ tham gia vào một cuộc đối thoại lớn mà
trong đó mối quan hệ giữa học sinh – giáo viên – nhà văn được xác lập thông qua
văn bản.
Bám sát cấu trúc văn bản, hệ thống bài tập đọc hiểu sẽ giúp HS thấy được
tầm quan trọng của việc đọc văn bản tự sự, góp phần nâng cao năng lực đọc hiểu
và sáng tạo của HS. Điều đó khiến cho học sinh chủ động, sáng tạo hơn trong quá
trình tiếp nhận và có thể hiểu sâu sắc văn bản đó.
Thứ hai: Bài tập được xây dựng phải vừa chi tiết, cụ thể, vừa đảm bảo tính
hệ thống nhằm rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự cho HS
Khi xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu cho HS, các bài
tập cần phải được thiết kế một cách chi tiết, cụ thể, hướng vào các vấn đề trọng
tâm của tác phẩm nhằm định hướng, giúp HS hiểu và nắm vững tác phẩm. Để làm
được điều này, chúng tôi chú ý chia nhỏ các vấn đề, hướng đến những chi tiết, sự
việc góp phần thể hiện chủ đề, ý nghĩa của tác phẩm văn chương.

Thứ ba: Đảm bảo nguyên tắc đa dạng khi xây dựng hệ thống bài tập rèn
luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản tự sự.
Hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng đọc hiểu cần phải được xây dựng một
cách đa dạng, phong phú, phản ánh được tính đa dạng, phức tạp của văn bản tự sự.
Sự đa dạng thể hiện ở chỗ: cùng một kỹ năng, chúng tôi xây dựng nhiều kiểu bài
tập khác nhau. Như vậy sẽ tránh được sự nhàm chán, đơn điệu; tạo sự hứng thú,
kích thích suy nghĩ của HS, giúp HS tham gia một cách tích cực vào quá trình tìm
hiểu, khám phá cái hay, cái đẹp của văn bản.
Thứ tư: Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính vừa sức, gợi mở, kích thích sự
cảm thụ, khả năng tư duy tích cực, sáng tạo, độc lập của người học.




20

1. Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, Kim Lân đã xây dựng một tình huống oái
ăm: Tràng - một người dân của xóm ngụ cư, nhà nghèo, xấu xí, ngờ nghệch, bấy
lâu có nguy cơ “ế vợ”, nay bỗng dưng nhặt được vợ chỉ nhờ mấy câu hò đùa và
bốn bát bánh đúc.
Theo như tình huống truyện, lẽ ra nhan đề truyện ngắn phải là “nhặt vợ”, tại
sao nhà văn lại đặt nhan đề cho truyện của mình là “Vợ nhặt”?
2. Tái hiện lại hình ảnh dân làng Xô – Man trong công cuộc đấu tranh chống
lại kẻ thù xâm lược, Nguyễn Trung Thành có thể đặt tên cho tác phẩm là “Làng
Xô-man” hay “Tnú” – theo tên nhân vật chính, nhưng nhà văn lại chọn nhan đề
cho truyện ngắn của mình là “Rừng xà nu”.
Theo anh (chị), tại sao Nguyễn Trung thành lại chọn nhan đề cho truyện
ngắn của mình như vậy?
 Bài tập cảm thụ chi tiết nghệ thuật về nhan đề của văn bản tự sự mà
chúng tôi xây dựng góp phần khêu gợi trí tò mò và mong muốn khám phá của
người đọc. Đây là một cách hay để tạo sự chú ý, kích thích hứng thú của các em.

2.2. Bài tập đọc hiểu chi tiết nghệ thuật về hình tượng nhân vật trong
văn bản tự sự
Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong văn bản.
Hình tượng nhân vật là “kết quả của sự sáng tạo có tính chất hư cấu của tác
giả về một đối tượng có một đời sống riêng” [27]. “Nhân vật hiện lên trong tác
phẩm thường dưới dạng những tính cách (…). Bởi thế nhiệm vụ quan trọng bậc
nhất của phân tích nhân vật là phát hiện tính cách” [55, tr.695] - những đặc điểm
tâm lý ổn định chi phối mọi hành vi, thái độ và bộc lộ cốt cách, thái độ của nhận
vật.
Để phát hiện tính cách nhân vật, “phải xem xét nhân vật như một chỉnh thể
đa dạng do nhiều yếu tố khác nhau hợp thành, nhà văn phải dùng chi tiết để thể

về ý nghĩa của tên nhân vật khi gắn nó với cuộc đời số phận của nhân vật trong quá


22

trình tìm hiểu văn bản tự sự, từ đó, hiểu được dụng ý nghệ thuật của nhà văn qua
việc đặt tên cho nhân vật.
♦ Kiểu 2: Chi tiết nghệ thuật về ngoại hình nhân vật
Trong văn bản tự sự, miêu tả ngoại hình chính là một biện pháp của nhà văn
nhằm hé mở tính cách nhân vật. Nhà văn thường khắc họa nhân vật bằng cách
miêu tả vẻ bề ngoài như: cử chỉ, tác phong, diện mạo. đồ dùng, cách ăn mặc, nói
năng của nhân vật.
Các bài tập cảm thụ về ngoại hình nhân vật mà chúng xây dựng dựa trên
những chi tiết trên.
1. Trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” Nguyễn Minh Châu đã miêu
tả nhân vật người đàn bà hàng chài như sau:
“Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của người
đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt
mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ”.
Vẻ bề ngoài ấy gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về cuộc đời, số phận nhân vật.
2. Suy nghĩ của anh (chị) về sự thay đổi ngoại hình của Chí Phèo - nhân vật
trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao - sau khi ra tù qua đoạn trích sau:
“Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc
như thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen
mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc quần áo nái đen
với áo Tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một
ông thày tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết!”
 Kiểu bài tập chi tiết về ngoại hình nhân sẽ giúp cho HS có thể hình dung,
tưởng tượng một cách khái quát về nhân vật, có những nhận định, đánh giá ban đầu
về nhân vật. Đồng thời, kiểu bàn tập này cũng rèn luyện cho học sinh kỹ năng khi

thuật về ngôn ngữ của nhân vật – một trong những yếu tố mà HS thường bỏ qua
đọc hiểu các tác phẩm tự sư.
1. Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi nêu bên dưới:


24

“Rồi đến một hôm, quản ngục mở khóa cửa buồng kín, khép nép hỏi ông
Huấn:
- Ðối với những người như ngài, phép nước ngặt lắm. Nhưng biết ngài là
một người có nghĩa khí, tôi muốn châm chước ít nhiều. Miễn là ngài giữ kín cho.
Sợ đến tai lính tráng họ biết, thì phiền lụy riêng cho tôi nhiều lắm. Vậy ngài có cần
thêm gì nữa xin cho biết. Tôi sẽ cố gắng chu tất.
Ông đã trả lời quản ngục:
- Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt
chân vào đây”.
(Chữ người tử tù – Nguyễn Tuân)
Theo anh (chị), tại sao Huấn Cao lại nói với viên quản ngục như vậy trong
khi viên quản ngục đã biệt đãi ông?
2. Suy nghĩ của anh chị về câu nói của chị Tí trong đoạn trích dưới đây:
“Trời nhá nhem tối, bây giờ chị em Liên mới thấy thằng cu bé xách điếu
đóm và khiêng hai cái ghế trên lưng ở trong ngơ đi ra; chị Tí, mẹ nó, theo sau, đội
cái chỏng trên đầu và tay mang không biết bao nhiêu là đồ đạc: tất cả cái cửa
hàng của chị.
- Sao hôm nay chị dọn hàng muộn thế?
Chị Tí để chỏng xuống đất, bày biện các bát uống nước mãi rồi mới chép
miệng trả lời Liên:
- Ối chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì”.
(Hai đứa trẻ - Thạch Lam)
 Kiểu bài tập trên đây rèn luyện cho HS kỹ năng khi phân tích nhân vật ta

(Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành)
Bài tập đọc hiểu chi tiết nghệ thuật về nội tâm nhân vật nhằm giúp học
sinh tái hiện những ý nghĩ, cảm xúc và diễn biến tâm trạng của nhân vật trong quá
trình đọc hiểu tác phẩm văn chương.


Trích đoạn Kết luận chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status