RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HỌC SINH LỚP 9. - Pdf 24

SKKN: Rốn luyn k nng vit on vn ngh lun vn hc cho hc sinh lp 9.
PHềNG GIO DC & O TO THCH THT
TRNG THCS THCH HO.
SNG KIN KINH NGHIM
RẩN LUYN K NNG VIT ON VN
NGH LUN VN HC CHO HC SINH LP 9.
NGI VIT:
- H v tờn: Ngụ Th Ngh
- Sinh ngy 30 thỏng 12 nm 1969.
- Quờ quỏn: Tn Hng Ba Vỡ - H Ni.
- n v cụng tỏc: Trng THCS Thch Ho - Thch Tht - H Ni
- Chc v: Giỏo viờn Ch tch CCS
- Trỡnh chuyờn mụn: HSP Ng vn
- Trỡnh Chớnh tr: Trung cp Chớnh tr - Hnh chớnh.
- Ngy vo ng: 29 thỏng 3 nm 1999.
- Khen thng: Giáo viên giỏi cấp huyện các Năm học: 1996 -1997, 1997 - 1998,
1999 - 2000. Lao động tiến cấp huyện các Năm học: 2007 - 2008, 2008 - 2009,
2009 - 2010, 2010 - 2011.
- K lut: Khụng
Ngi thc hin: Ngụ Th Ngh - GV Trng THCS Thch Ho Thch Tht H Ni.
1
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
D.TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn 8;
2. Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn 9;
3. Ôn thi vào lớp 10 môn Ngữ văn – của các tác giả: Nguyễn Thị Nương –
Chu Thị Lý – Trần Thị Loan.
4. Ôn tập kiến thức thi vào lớp 10 Ngữ Văn – của các tác giả:
Nguyễn Thị Thuận – Nguyễn Lương Hùng – Đoàn Thị Thanh Hương –
Nguyễn Ngọc Anh.
5. Luyện tập cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ thông

SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong chương trình học tập Tiếng Việt – Tập làm văn ở THCS và THPT,
việc lập luận trong đoạn văn được đặt ra như một kĩ năng cần phải rèn luyện. Kĩ
năng này có thể được luyện ngay trong một câu, một số câu , một đoạn văn hay
trong cả một bài văn. Tuy vậy, trong câu do dung lượng không lớn nên việc lập
luận đơn giản, thường chưa thể hiện đầy đủ bản chất. Còn trong một đoạn văn, một
văn bản hoàn chỉnh, việc lập luận sẽ phong phú đa dạng hơn. Do đó việc hình thành
kĩ năng lập luận trong đoạn văn, trong văn bản cho học sinh là điều rất quan trọng
đặc biệt đối với học sinh lớp 9, làm cơ sở để các em học lên bậc THCS.
Ở bậc Trung học cơ sở, trong phân môn Tập làm văn, học sinh đã học về
đoạn văn và các thể văn nghị luận. Kiến thức về đoạn văn các em được tìm hiểu sơ
lược từ lớp 6 (Tiết 20: Lời và đoạn văn tự sự), lớp 7(Tiết 99: Luyện tập viết đoạn
chứng minh, giải thích) và tăng cường hơn ở lớp 8, lớp 9. Lớp 8 có 4 tiết :Tiết 10,
tiết 76, tiết 100, 102 với các kiến thức kĩ năng về xây dựng đoạn trong văn bản, viết
đoạn trong văn thuyết minh, xây dựng và trình bày luận điểm. Lên lớp 9, các em
được học về liên kết câu và liên kết đoạn văn ( Tiết 102, 110).
Dạng văn nghị luận các em cũng được học từ lớp 7, khái quát về đặc điểm
văn nghị luận, phép lập luận chứng minh, giải thích; Lớp 8 học tiếp văn nghị luận,
về cách nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả.
Ở lớp 9 đã có sự kế thừa, nâng cao kiến thức về văn nghị luận. Các em học văn
nghị luận xã hội (nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống, nghị luận về một
vấn đề tư tưởng đạo lí) và nghị luận văn học (nghị luận về tác phẩm truyện hoặc
đoạn trích, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ). Có thể nói việc tìm hiểu về đoạn
văn, về văn nghị luận có một hệ thống từ thấp đến cao phù hợp với lứa tuổi và cấu
trúc của chương trình Ngữ văn THCS.
Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà – Thạch Thất – Hà Nội.
4
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.

- Tiến hành thực nghiệm trong các tiết dạy.
IV. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
- Đề tài được tôi thực hiện tại trường THCS Thạch Hoà trong hai năm học:
2010 -2011 và 2011 – 2012 với đối tượng thực hiện là học sinh lớp 9.
- Phạm vi thực hiện: ứng dụng vào các tiết học văn học, tập làm văn, các
buổi học bồi dưỡng, phụ đạo buổi chiều và ôn thi vào 10.
Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà – Thạch Thất – Hà Nội.
6
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
B: NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ:
Như chúng ta đã biết:
- Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi
đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối
hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.
Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ
ngữ được dùng làm đề mục hoặc được lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ,
các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung
khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đúng ở đầu hoặc
cuối đoạn văn. Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ
đề của đoạn. (SGK Ngữ văn 8 tập I, trang 36).
Có thể thấy về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ
nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ
dàng. Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽ
với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản. Mỗi đoạn trong văn bản có một
vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định: đoạn mở đầu
văn bản, các đoạn thân bài của văn bản (các đoạn này triển khai chủ đề của văn bản
thành các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản. Mỗi đoạn văn bản khi tách
ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nội dung của đoạn tương đối hoàn chỉnh,
hình thức của đoạn có một kết cấu nhất định.

cách khái quát, nâng cao để tránh sự trùng lặp của hai câu chốt trong đoạn.
- Đoạn lập luận tương đồng là cách trình bày đoạn văn có sự so sánh tương
tự nhau dựa trên một ý tưởng: so sánh với một tác giả, một đoạn thơ, một đoạn
văn,… có nội dung tương tự nội dung đang nói đến.
- Đoạn so sánh tương phản là đoạn văn có sự so sánh trái ngược nhau về
nội dung ý tưởng: những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộc
sống,…tương phản nhau.
Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà – Thạch Thất – Hà Nội.
8
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
- Đoạn lập luận theo suy luận nhân quả: Có 2 cách: Trình bày nguyên nhân
trước, chỉ ra kết quả sau. Hoặc ngược lại chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyên nhân
sau.
- Đoạn lập luận đòn bẩy là cách trình bày đoạn văn mở đầu nêu một nhận
định, dẫn một câu chuyện hoặc những đoạn thơ văn có nội dung gần giống hoặc
trái với ý tưởng ( chủ đề của đoạn) tạo thành điểm tựa, làm cơ sở để phân tích sâu
sắc ý tưởng đề ra.
Các câu trong đoạn văn cũng như các đoạn trong bài phải có sự liên kết
chặt chẽ với nhau về nội dung cũng như hình thức:
- Về nội dung:
+ Các đoạn văn phải phục vụ chủ đề chung của văn bản, các câu phải phục
vụ chủ đề chung của đoạn văn.( Liên kết chủ đề).
+ Các đoạn văn và các câu phải được sắp xếp theo trình tự hợp lí( Liên kết
lôgic).
- Về hình thức: Các câu, các đoạn văn phải được liên kết với nhau bằng
một số biện pháp chính như:
+ Phép lặp: Lặp lại ở đầu câu đứng sau từ ngữ đã có ở câu trước.
+ Phép thế: Sử dụng ở câu đứng sau từ ngữ có tác dụng thay thế từ ngữ đã
có ở câu trước.
+ Phép nối: Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ biểu thị quan hệ với câu

KẾT QUẢ XẾP LOẠI
Giỏi Khá Trung bình Yếu
TS % TS % TS % TS %
9A 38 2 5,2% 7 18,4% 18 47,4% 11 29%
9B 33 1 3% 6 18,2% 16 48,5% 10 30,3%
Qua kết quả khảo sát có thể nhận thấy số học sinh không có kĩ năng viết đoạn
còn nhiều, số học sinh có kĩ năng viết đoạn thành thạo còn ít. Trên bài làm của hầu
hết các em thể hiện việc nắm khái niệm đoạn văn, từ ngữ chủ đề, câu chủ đề trong
đoạn văn, cách trình bày đoạn văn còn lơ mơ.
Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà – Thạch Thất – Hà Nội.
10
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
Các em không biết trình bày đoạn văn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về nội
dung cũng như hình thức. Nhiều bài viết lủng củng sơ sài, lập luận không mạch lạc
chặt chẽ. Các ý lộn xộn, không có lớp có lang, ý lớn ý nhỏ không theo trình tự hợp
lí. Đầu đoạn văn không viết hoa lùi đầu dòng, các dòng khác thò ra thụt vào tuỳ tiện.
Có thể nói kĩ năng làm văn, đặc biệt là kĩ năng viết đoạn của học sinh còn
nhiều hạn chế. Do vậy để khắc phục hạn chế của học sinh, nâng cao chất lượng dạy
và học đòi hỏi giáo viên phải có những giải pháp hợp lí.
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
1. Giải pháp 1: Củng cố kiến thức về đoạn văn cho học sinh:
1.1. Khái niệm:
- Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi
đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối
hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.
- Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ
ngữ được dùng làm đề mục hoặc được lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ,
các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái
quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đúng ở đầu hoặc cuối
đoạn văn. Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ đề của

cách nào, có yêu cầu nào khác về hình thức, ngữ pháp.
- Ví dụ: Đề 1: Viết một đoạn văn ngắn để nêu lên suy nghĩ của em về những
điều người cha nói với con qua khổ thơ sau:
“Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục.”
(Nói với con – Y Phương)
Trong đoạn có sử dụng:
Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà – Thạch Thất – Hà Nội.
12
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
+ Lời dẫn trực tiếp.
+ Phép lặp.
(Có gạch chân hoặc chú thích)
* Yêu cầu của đề:
- Nội dung: nêu lên suy nghĩ của em về những điều người cha nói với con
qua khổ thơ
- Hình thức: đoạn văn ngắn.
- Yêu cầu ngữ pháp: Lời dẫn trực tiếp, phép lặp.
Đề 2:
a. Chép thuộc bốn câu đầu của đoạn trích “Cảnh ngày xuân”
b. Bằng một đoạn văn quy nạp từ 9 đến 12 câu nêu cảm nhận của em về cái
hay của bốn câu thơ vừa chép.
Đây là dạng đề thường gặp khi thi Ngữ văn 9 vào 10.
* Yêu cầu cần đạt:
a. Chép chính xác 4 câu thơ đầu như trong SGK.
b. Viết đoạn văn.
- Nội dung: cảm nhận của em về cái hay của bốn câu thơ
- Hình thức: Đoạn quy nạp, độ dài từ 9 đến 12 câu.

Ví dụ 3: Đề yêu cầu sửa một câu có lỗi thành câu đúng và dùng câu đó làm
câu chủ đề.
- Đề 1: Khi viết đoạn văn phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “
Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, một bạn học sinh đã viết câu
mở đoạn như sau:
“Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện người con gái Nam
Xương” của Nguyễn Dữ vừa là người phụ nữ thuỳ mị nết na, tư dung tốt đẹp lại
là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, là người vợ thuỷ chung với chồng, là
người mẹ hiền của con chồng”.
Chỉ ra các lỗi trong câu văn trên? Hãy viết câu văn sau khi đã sửa lại cho đúng?
Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà – Thạch Thất – Hà Nội.
14
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
- Đề 2:
a.Chép lại câu viết dưới đây, sau khi đã sửa hết các lỗi chính tả, ngữ pháp:
"Trong truyện "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê bằng những
nét đặc xắc trong cách miêu tả nhân vật và cách kể truyện đã làm nổi bật tâm
hồn trong sáng, dũng cảm vượt khó khăn gian khổ, hi sinh lạc quan trong cuộc
sống chiến đấu của những cô gái thanh niên sung phong trên tuyến đường
Trường Sơn".
b. Dùng câu văn đă sửa trên làm phần mở đoạn viết tiếp 8 - 10 câu, phần kết
đoạn là một câu cảm thán.
- Với các đề trên, ta phải đọc kĩ câu văn đã cho để tìm được các lỗi chính tả
và lỗi ngữ pháp, sau đó sửa lại cho đúng để sử dụng câu đó làm câu chủ đề.
Ví dụ 4: Đề có phần dẫn ý, dựa vào đó ta có thể xác định được câu chủ đề.
- Đề 1: Trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn
Dữ đã sáng tạo chi tiết cái bóng trên tường rất đặc sắc. Hãy viết đoạn văn khoảng
10 câu theo lối diễn dịch trình bày cảm nhận của em về chi tiết đó.
- Đề 2: Nhận xét về đoạn kết trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam
Xương” của Nguyễn Dữ, có ý kiến cho rằng đó là một kết thúc có hậu, lại có ý kiến

nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người.
- Đặc biệt, hai chữ “nao nao” đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật.
- Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra về trong sự bần thần
nuối tiếc, lặng buồn. “dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồn không
thể nói hết. Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đã hé mở vẻ
đẹp của một tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâu
lắng.
Bước 4: Viết các ý thành đoạn văn:
Trên cơ sở các ý vừa tìm, viết thành đoạn văn. Căn cứ vào yêu cầu về kiểu
diễn đạt để xác định vị trí câu chủ đề và cách lập luận trong đoạn văn. Ngoài ra còn
đảm bảo các yêu cầu về ngữ pháp (nếu có).
Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà – Thạch Thất – Hà Nội.
16
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
Ví dụ:
Với đề trên ( bước 3) cần đặt câu chủ đề ở đầu đoạn văn, sắp xếp các ý viết
thành đoạn văn đủ số câu, đánh thứ tự các câu trong đoạn, trình bày thành đoạn văn
đảm bảo sự liên kết cả nội dung lẫn hình thức.
Sáu câu thơ cuối đoạn trích “Cảnh ngày xuân”đã miêu tả cảnh chị em Thuý
Kiều du xuân trở về.(1) Cảnh vẫn mang cái nét thanh tao, trong trẻo của mùa
xuân, rất êm dịu: ánh nắng nhạt, khe nước nhỏ, nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang. (2)
Mọi cử động đều rất nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người
thơ thẩn, dòng nước uốn quanh.(3) Một bức tranh thật đẹp, thanh khiết.(4)Cảnh đã
có sự thay đổi về thời gian và không gian: Không còn bát ngát, trong sáng, không
còn cái không khí đông vui náo nhiệt của lễ hội, tất cả đang nhạt dần, lặng dần.
(5)Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng.(6)Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”,
“nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con
người.(7)Đặc biệt, hai chữ “nao nao” đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật.
(8)Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra về trong sự bần thần nuối
tiếc, lặng buồn, “dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồn không

lu Ngng Bớch.(1) Hai chữ "khóa xuân" cho thấy õy thực chất là bị giam
lỏng. (2) Nàng trơ trọi giữa không gian mênh mông, hoang vắng. (3) Câu thơ sáu
chữ, chữ nào cũng gợi lên sự rợn ngợp của không gian: "Bốn bề bát ngát xa trông".
(4) Cảnh "non xa", "trng gần" nh gợi lên hình ảnh lầu Ngng Bích chơi vơi giữa
mênh mang trời nớc. (5) Từ lầu Ngng Bích nhìn ra chỉ thấy những dãy núi mờ xa,
những cồn cát bụi bay mù mịt. (6) Cái lầu chơi vơi ấy giam một thân phận trơ trọi,
không một bóng ngời, không sự giao lu giữa ngời với ngời. (7) Hình ảnh "non xa",
"trăng gần", "cát vàng", "bụi hồng" có thể là cảnh thực mà cũng có thể là hình ảnh
mang tính ớc lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian, qua đó diễn tả tâm
trạng cô đơn của Kiều. (8) Cụm từ "mây sớm đèn khuya" gợi thời gian tuần hoàn,
khép kín. (9) Thời gian cũng nh không gian giam hãm con ngời. (10) Sớm và khuya,
ngày và đêm, Kiều "thui thủi quê ngời một thân". Nàng chỉ biết làm bạn với "mây
sớm, đèn khuya". (11) Nàng ó rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối.
Ngi thc hin: Ngụ Th Ngh - GV Trng THCS Thch Ho Thch Tht H Ni.
18
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
Mô hình đoạn văn: Câu 1 là câu mở đoạn, mang ý chính của đoạn gọi là
câu chủ đề, 10 câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề. Đây là
đoạn văn phân tích có kết cấu diễn dịch. Từ ngữ chủ đề: Kiều, nàng, Ngưng Bích,
hoàn cảnh, tâm trạng, cảnh, hình ảnh
2. Bài tập 2:
Đoạn văn sau trình bày nội dung theo cách nào? Chỉ rõ cách trình bày
nội dung đoạn văn?
“ Chính Hữu khép lại bài thơ bằng một hình tượng thơ:
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo(1).
Đêm khuya chờ giặc tới, trăng đã xế ngang tầm súng(2). Bất chợt chiến sĩ
ta có một phát hiện thú vị: Đầu súng trăng treo(3). Câu thơ như một tiếng reo vui
hồn nhiên mà chứa đựng đầy ý nghĩa(4). Trong sự tương phản giữa súng và trăng,

Hữu Thỉnh mang đến cho người đọc những tín hiệu riêng của mùa thu.
- Năm câu tiếp ( phân): Phân tích để chứng minh những tín hiệu riêng đó.
- Câu cuối (hợp): Khẳng định, nâng cao: chỉ bằng vài nét vẽ, nhà thơ đã nắm
bắt, tái hiện được vẻ đẹp mơ hồ, tinh tế của khoảnh khắc giao mùa.
4. Bài tập 4:
Đoạn văn sau trình bày nội dung theo cách so sánh tương đồng, nội dung
nói về hình ảnh “vầng trăng” trong bài “Ánh trăng” của Nguyễn Duy. Chỉ rõ cách
lập luận trong đoạn văn?
“ Tuổi thơ Nguyễn Duy gắn bó với trăng và cả khi trở thành người lính thì
trăng vẫn là người bạn tri kỉ:
“hồi chiến tranh ở rừng
vầng trăng thảnh tri kỉ”.(1)
Bằng nghệ thuật nhân hoá, Nguyễn Duy đã khắc hoạ vẻ đẹp tình nghĩa,
thuỷ chung của hai người bạn: trăng và người lính, người lính và trăng(2). Cuộc
sống trong rừng thời chiến tranh biết bao gian khổ, khó khăn nhưng trăng vẫn đến
Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà – Thạch Thất – Hà Nội.
20
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
với người lính bằng một tình cảm chân thành, nồng hậu, không chút ngần ngại(3).
Trăng đến toả ánh sáng dịu mát cho giấc ngủ người chiến sĩ “ Gối khuya ngon
giấc bên song trăng nhòm” ( Hồ Chí Minh) (4). Trăng đến bên người chiến sĩ cùng
chờ giặc tới trong những đên khuya sương muối: “Đầu súng trăng treo” ( Chính
Hữu)(5). Ánh trăng cùng với người lính qua biết bao năm tháng gian khổ của đất
nước để vượt lên mọi sự tàn phá của quân thù:
“Và vầng trăng, vầng trăng đất nước
Vượt qua quầng lửa, mọc lên cao”. ( Phạm Tiến Duật) (6).
Trăng với người lính trong thơ thật gần gũi và gắn bó (7). Đặc biệt, trong
thơ Nguyễn Duy ánh trăng đã trở thành một biểu tượng cao đẹp: “ vầng trăng tri
kỉ”, “vầng trăng tình nghĩa” (9).
Đoạn văn trình bày nội dung bằng cách đoạn văn so sánh mối quan hệ giữa

Nương sống lại dưới thuỷ cung trong “ Chuyện người con gái Nam Xương” của
Nguyễn Dữ. Chỉ ra câu nêu nguyên nhân, câu nêu kết quả trong đoạn văn.
“ Câu chuyện lẽ ra chấm hết ở đó nhưng dân chúng không chịu nhận cái
tình thế đau đớn ấy và cố đem một nét huyền ảo để an ủi ta(1). Vì thế mới có đoạn
hai, kể chuyện nàng Trương xuống thuỷ cung và sau lại còn gặp mặt chồng một
lần nữa(2).”
Đoạn văn có kết cấu hai phần, phần trước(Câu 1) trình bày nguyên nhân,
phần sau(Câu 2) trình bày kết quả.
b. Đoạn văn sau nói về lòng hiếu nghĩa của Kiều trong lúc lưu lạc. Chỉ ra
cách lập luận trong đoạn văn?
Chính trong hoàn cảnh lưu lạc quê người của nàng ta mới thấy hết được
tấm lòng chí hiếu của người con gái ấy(1). Nàng biết sẽ còn bao cơn “ cát dập
sóng vùi” nhưng nàng vẫn chỉ lo canh cánh lo cho cha mẹ thiếu người đỡ đần
phụng dưỡng vì hai em còn “ sân hoè đôi chút thơ ngây”(2). Bốn câu mà dùng tới
bốn điển tích “người tựa cửa”, “ quạt nồng ấp lạnh”, “sân lai”, “ gốc tử(3)”.
Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà – Thạch Thất – Hà Nội.
22
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
NguyễnDu đã làm cho nỗi nhớ của Kiều đậm phần trang trọng, thiết tha và có
chiều sâu nhưng cũng không kém phần chân thực(4).
Mô hình đoạn văn: Ý tưởng của đoạn bình về lòng hiếu của Kiều. Câu 1
nêu kết quả, ba câu còn lại nêu nguyên nhân.
7. Bài tập7:
Đoạn văn sau lập luận theo cách đòn bẩy, nội dung nói về hai câu thơ tả
cảnh xuân trong “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Chỉ ra cách lập luận của đoạn
văn?
Thơ cổ Trung Hoa có hai câu thơ tả cảnh mùa xuân đầy ấn tượng:
“ Phương thảo liên thiên bích
Lê chi sổ điểm hoa(1).
Trong“ Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng có hai câu thơ tả cảnh mùa xuân

3.2. Dạng bài tập vận dụng:
3.2.1. Viết câu chủ đề cho đoạn văn.
Trong văn nghị luận, câu chủ đề là câu đặc biệt quan trọng. Khi phân tích
đoạn trích hay tác phẩm, câu chủ đề phải nêu được nội dung chính cần phân tích.
Viết được câu chủ đề có thể coi là có được chìa khoá để mở vấn đề. Vì vậy, đây là
dạng đề theo tôi không kém phần quan trọng trong việc rèn kĩ năng viết đoạn cho
học sinh.
Với dạng bài này, có thể có một số bài tập cụ thể sau:
3.2.1.1. Cho câu chủ đề viết còn mắc lỗi về ngữ pháp, diễn đạt, yêu cầu
học sinh sửa lại cho chuẩn:
Ví dụ: bài tập 1:
Khi viết đoạn văn phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện
người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, một bạn học sinh đã viết câu mở đọan
như sau:
Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà – Thạch Thất – Hà Nội.
24
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”.
“Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện người con gái Nam
Xương” của Nguyễn Dữ vừa là người phụ nữ thuỳ mị nết na, tư dung tốt đẹp lại
là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, là người vợ thuỷ chung với chồng, là
người mẹ hiền của con chồng”.
Chỉ ra các lỗi trong câu văn trên? Hãy viết câu văn sau khi đã sửa lại cho
đúng?
Yêu cầu với bài tập:
- Chỉ ra các lỗi trong câu văn:
+ Câu chủ đề còn dài, ý rườm rà, có ý không lô gíc: là người mẹ hiền của
con chồng”.
+ Cấu trúc câu không hợp lí: Phụ từ “vừa” không bao giờ đi một mình mà
phải đi thành cặp: vừa vừa
- Viết lại câu chủ đề: Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status