Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ có chủ đề triển khai từ phần đọc hiểu cho học sinh THPT - Pdf 43

MỤC LỤC
PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................................2
1. Lí do chọn đề tài:..........................................................................................2
2. Mục đích chọn đề tài:...................................................................................3
3. Đối tượng nghiên cứu:..................................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu:.............................................................................3
PHẦN II: NỘI DUNG ĐỀ TÀI.............................................................................4
1. Cơ sở lí luận của vấn đề:..............................................................................4
2. Thực trạng tình hình qua khảo sát điều tra:..................................................5
3. Giải pháp thực hiện đề tài:............................................................................5
3.1. Giải pháp 1: Củng cố kiến thức về đoạn văn cho học sinh và định
hướng yêu cầu đoạn văn Nghị luận xã hội 200 chữ có chủ đề triển khai từ
phần đọc hiểu:................................................................................................5
b. Định hướng yêu cầu đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ có chủ đề
triển khai từ phần đọc hiểu:.......................................................................6
3.2. Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh cách viết đoạn văn Nghị luận xã hội
200 chữ có chủ đề triển khai từ phần đọc hiểu:.............................................6
a. Bước 1: Xác định yêu cầu của đề:........................................................6
b. Bước 2: Xác định câu chủ đề cho đoạn văn:........................................7
c. Bước 3: Tìm ý cho đoạn ( Triển khai ý):..............................................8
d. Bước 4: Viết các ý thành đoạn văn:......................................................9
3.3. Giải pháp 3: Rèn luyện kĩ năng dựng đoạn cho học sinh bằng các dạng
bài tập..........................................................................................................10
a. Dạng bài tập nhận biết:.......................................................................10
b. Dạng bài tập vận dụng:.......................................................................12
c. Vận dụng rèn kĩ năng viết đoạn văn NLXH 200 chữ có chủ đề triển
khai từ phần Đọc hiểu trong đề thi THPT Quốc gia cụ thể:....................17
4. Kết quả sau khi thực hiện đề tài:................................................................19
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:..........................................................21
1. Kết luận:.....................................................................................................21
2. Kiến nghị:...................................................................................................21

bình. Tỉ lệ học sinh đạt điểm cao Đại học chưa nhiều. Ban giám hiệu luôn băn
khoăn về chất lượng giáo dục Nhà trường. Là giáo viên dạy văn tôi thực sự lo
lắng, trăn trở về thực trạng này.
Mỗi thầy cô giáo không chỉ là tấm gương về đạo đức mà còn là tự học và
sáng tạo. Đứng trước sự thay đổi mỗi thầy cô phải nhanh chóng nắm bắt kịp thời
và có những phương pháp giảng dạy phù hợp. Bởi phương pháp chính là chìa
khóa giúp ta thành công “thiếu phương pháp thì người tài cũng có lỗi, có
phương pháp thì người thường cũng làm được điều phi thường”. Năm học vừa
qua, tôi được giao trách nhiệm giảng dạy môn Ngữ văn lớp 11A6, 12A5 và trực
tiếp ôn cho các em thi THPT Quốc gia, tôi luôn mong muốn nâng cao chất lượng
dạy và học văn nói chung, rèn luyện kĩ năng tạo lập đoạn văn nói riêng cho các
em. Vì vậy, tôi đã thực hiện đề tài “Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận
xã hội 200 chữ có chủ đề triển khai từ phần Đọc hiểu cho học sinh THPT”.

2


2. Mục đích chọn đề tài:
“Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu Công
nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế”. Để có thể đổi mới Giáo dục đào tạo thì kiểm tra
đánh giá học sinh đóng vai trò quan trọng,“ Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả
giáo dục là khâu đột phá” ( Ban chấp hành TƯ Đảng – Khóa XI). Mong rằng với
sự điều chỉnh hình thức thi năm 2017, nền giáo dục nước ta sẽ có nhiều chuyển
biến tích cực. Với đề tài này bản thân tôi muốn góp một phần nhỏ để chương
trình đổi mới về hình thức thi đánh giá của Bộ Giáo dục đào tạo đi vào thực tiễn,
có thể đến với từng học sinh mà tôi đang giảng dạy. Từ đó góp phần củng cố kĩ
năng xây dựng đoạn văn, nâng cao chất lượng giảng dạy và học môn Ngữ văn
THPT, nâng cao tỉ lệ đậu tốt nghiệp Đại học cao đẳng và thi HSG cấp tỉnh của
nhà trường.

Sự hoàn chỉnh đó thể hiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu
văn nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức,
thể hiện bằng các phép liên kết; mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao
giờ cũng được viết hoa và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn. Các
câu, các đoạn văn phải được liên kết với nhau bằng một số phép liên kết: Phép
lặp, Phép thế, Phép nối, Phép đồng nghĩa, trái nghĩa và liên tưởng… Để trình
bày một đoạn văn cần phải sử dụng các phương pháp lập luận. Lập luận là cách
trình bày luận cứ dẫn đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ hợp lí thì đoạn văn,
bài văn mới có sức thuyết phục.Trong đoạn văn, nhất là văn nghị luận, ta thường
gặp những đoạn văn có kết cấu (cách lập luận) phổ biến: diễn dịch, quy nạp, tổng
phân hợp... bên cạnh đó là cách lập luận suy luận nhân quả, suy luận tương đồng,
suy luận tương phản, đòn bẩy, nêu giả thiết…
Có thể thấy về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ
nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ
dàng. Đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ thường được triển khai theo ba bước cơ
bản:
- Giải thích câu trích từ phần Đọc hiểu.
- Phân tích và chứng minh: Phân tích các khía cạnh của vấn đề và dẫn ra
các dẫn chứng cụ thể trong cuộc sống, xã hội, lịch sử… để làm sáng tỏ chân lí đã
giải thích.
- Bình luận đánh giá: khái quát khẳng định lại chân lí, mở rộng và nâng
cao ý nghĩa của vấn đề có thể phê phán những hiện tượng, những biểu hiện đi
ngược lại chân lí và liên hệ bản thân để rút ra bài học. (Bộ đề luyện thi Quốc gia
năm 2017 môn Ngữ văn – Đỗ Ngọc Thống, trang 25).
Tất cả những kiến thức lí thuyết trên là cơ sở để tôi thực hiện đề tài sáng
kiến kinh nghiệm này. Bên cạnh đó tôi cũng khảo sát thực trạng kĩ năng viết

4




Yếu

TS

%

TS

%

TS

%

TS

%

3
2

7.5%
4.4%

7
6

17.5%
13.3%

đã học ở THCS.

5


b. Định hướng yêu cầu đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ có chủ đề triển
khai từ phần đọc hiểu:
Về hình thức của đoạn văn, đảm bảo yêu cầu đoạn văn nói chung và dung
lượng 200 chữ. Tuy nhiên, để tránh mất thời gian các em ngồi đếm chữ, chúng ta
có thể lượng hóa đoạn văn ấy trong khoảng 20 đến 30 dòng tùy thuộc vào chữ
của học sinh to hay nhỏ.
Về nội dung, sau khi nắm nội dung cơ bản của đoạn trích trong phần Đọc
hiểu, HS cần chú ý để xác định:
- Chủ đề của đoạn văn: Nghị luận về tư tưởng đạo lí hay một hiện tượng
đời sống được rút ra từ phần đọc hiểu.
- Hệ thống câu hỏi tư duy: Ý kiến ấy là gì? như thế nào? vì sao? đúng hay
sai? thể hiện? có ý nghĩa với cuộc sống con người và bản thân?
- Các ý triển khai trong đoạn:
+ Giải thích ý kiến
+ Phân tích chứng minh
+ Bình luận đánh giá: Mở rộng vấn đề, đồng tình hoặc không đồng tình,
đưa ra phản đề…
+ Bài học liên hệ : chân thành nghiêm túc.
- Xây dựng mô hình đoạn văn:
Câu chức năng
Nội dung yêu cầu
Dung lượng
Câu chủ đề
Vấn đề nghị luận.
2- 3 dòng

6


hướng để viết các câu còn lại). Nội dung đó được trình bày theo cách nào, có
yêu cầu nào khác về hình thức, ngữ pháp.
Ví dụ: Đề 1: Đọc đoạn trích ở Phần Đọc hiểu: ( Người Việt đang hả hê tiễn
đồng loại ra nghĩa địa - Theo VTC Báo mới ngày 25/03/2016 ), (Xem đầy đủ ở
PHỤ LỤC I trang 2).
Anh/chị hãy viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của mình về “thực phẩm
bẩn trong xã hội ngày nay”.
* HS tiến hành đọc đoạn trích để xử lí tốt phần Đọc hiểu và xác định được
yêu cầu của đề:
- Dạng đề: nghị luận về một hiện tượng đời sống.
- Nội dung: nêu lên suy nghĩ của em về “thực phẩm bẩn trong xã hội ngày
nay”:
- Hình thức: đoạn văn 200 chữ.
Đề 2: Đọc đoạn trích ở Phần Đọc hiểu ( Khúc 7, “Những người đi
tới biển” - Thanh Thảo, năm 1977 ), (Xem đầy đủ ở PHỤ LỤC I trang 2).
Từ những dòng thơ :“Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/ (Những tuổi 20
làm sao không tiếc)/Nhưng ai cũng tiếc tuổi 20 thì còn chi Tổ Quốc?”, anh/chị
hãy viết đoạn văn 200 chữ biểu hiện lòng biết ơn trước công lao của thế hệ cha
ông trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.
* HS hiểu nội dung của đoạn trích: Thanh Thảo đã ngợi ca những chàng trai
cô gái tuổi 19, 20 trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ của dân tộc. Họ đã
hi sinh quãng đời thanh xuân đẹp nhất, ngay cả tính mạng của mình để giành lại
cuộc sống tự do cho nhân dân. Từ đó, xác định được yêu cầu của đề:
- Dạng đề: nghị luận về tư tưởng đạo lí.
- Nội dung: nêu lên biểu hiện lòng biết ơn trước công lao của thế hệ cha
ông trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.
- Hình thức: đoạn văn 200 chữ

Căn cứ vào phần yêu cầu của đề bài: trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến
được nêu trong phần Đọc hiểu: “Trồng cây xanh là lẽ sống không chỉ một công
việc mà là một triết lí nảy sinh từ sự phát triển cho sự nghiệp và dân tộc”, ta có
thể viết câu chủ đề : Ở mọi thời đại, mọi quốc gia trên thế giới, một trong những
công việc quan trọng hàng đầu chính là công việc trồng cây xanh. Đó thực sự trở
thành “lẽ sống không chỉ một công việc mà là một triết lí nảy sinh từ sự phát
triển cho sự nghiệp và dân tộc”.
Với dạng đề trên, ta phải đọc kĩ ý kiến đã cho để tìm được chủ đề hoặc có thể
trích dẫn lại ý kiến làm câu chủ đề.
c. Bước 3: Tìm ý cho đoạn ( Triển khai ý):
Khi đã xác định được câu chủ đề của đoạn văn, cần vận dụng các kiến
thức đã học có liên quan để phát triển chủ đề đó thành các ý cụ thể, chi tiết. Nếu
bỏ qua thao tác này, đoạn văn dễ rơi vào tình trạng lủng củng, quẩn ý.
Ví dụ : Đề 1 (ở mục a, Bước 1): Cần xác định các ý:
- Vấn đề thực phẩm trong xã hội ngày nay là một trong những vấn nạn nhức
nhối.
- Hiện trạng của vấn đề này đang nổi cộm, đã và đang diễn ra trong cuộc
sống, gây nhiều bức xúc trong nhân dân.
- Nguyên nhân: Do nhu cầu về thực phẩm tăng cao; nhiều người vì lợi
nhuận, lòng tham để làm giàu bằng cách đê tiện tạo nên thực phẩm bẩn cho
người tiêu dùng.
- Hậu quả: Tình trạng ngộ độc thực phẩm diễn ra thường xuyên; gia tăng các
bệnh hiểm nghèo…
- Giải pháp: từ cơ quan chức năng, thông tấn báo chí
- Mỗi chúng ta trở thành tuyên truyền viên tích cực về vệ sinh an toàn thực
phẩm.
Như vậy, đối với dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống cần triển khai
các ý: Nêu thực trạng, nguyên nhân, tác hại /tác dụng, giải pháp, rút ra bài học.
HS cần nắm bắt những thông tin về chính trị xã hội nhanh nhạy, kịp thời. Đó là
những hiện trạng qua số liệu, chỉ ra được nguyên nhân, tác hại, tìm ra những giải

nhỏ, lẻ.(3) Nhận thức và ý thức bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm của một số
chủ cơ sở, người dân còn hạn chế, nhất là sử dụng phân bón hóa học.(4) Và đặc
biệt, do lòng tham của một số người, vì lợi nhuận họ sẵn sàng giẫm đạp lên đạo
đức, sự sống của chính người thân yêu để làm giàu một cách đê tiện, phi nhân
tính.(5) Các vi phạm về đảm bảo an toàn thực phẩm đã gây ra nhiều hệ lụy cho
sức khỏe của người dân.(6) Tình trạng ngộ độc thực phẩm diễn ra thường
xuyên.(7) Theo thống kê của Bộ y tế trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng
150 – 200 vụ ngộ độc thực phẩm với 5000 đến 7000 người, trong đó có từ 40
đến 60 người tử vong.(8) Không những thế, sử dụng thực phẩm bẩn lâu dài, con
người mắc các bệnh mạn tính: tim mạch, ung thư...(9) Để khắc phục và ngăn
chặn thực phẩm bẩn chúng ta cần có những giải pháp thiết thực.(10) Đẩy mạnh
truyền thông, tuyên truyền giáo dục về an toàn vệ sinh thực phẩm cho người
dân.(11) Các cơ quan chức năng vào cuộc quản lí chặt chẽ và có hình thức xử lí
nghiêm minh các cơ quan, cá nhân vi phạm.(12) Để góp phần xây dựng cuộc
sống chất lượng, kéo dài tuổi thọ mỗi chúng ta hãy cùng chung tay ngăn chặn
và đẩy lùi vấn nạn này.(13)

9


Trong đoạn trên Câu 1 là câu mở đoạn, nêu ý chủ đề của cả đoạn văn. Các
câu còn lại( từ câu 2 đến câu 13), nêu các ý cụ thể, phân tích khía cạnh của vấn đề.
Các bước trên là những thao tác cần có để viết được một đoạn văn hoàn
chỉnh cả nội dung lẫn hình thức, đáp ứng yêu cầu của đề. Tuy nhiên không phải
học sinh nào cũng thực hiện đủ các thao tác trên khi làm bài. Điều này giáo viên
phải thường xuyên nhắc nhở để tạo thành thói quen cho học sinh. Đặc biệt để
hình thành kĩ năng cho học sinh một cách thành thạo cần tăng cường rèn luyện
qua việc thực hành viết đoạn văn cho các em một cách có hệ thống từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp.
3.3. Giải pháp 3: Rèn luyện kĩ năng dựng đoạn cho học sinh bằng các dạng

chúng ta hãy giữ gìn và bảo vệ cây xanh cũng là bảo vệ lá phổi của chính mình.
(13)
10


Mô hình đoạn văn: Câu 1 là câu mở đoạn, mang ý chính của đoạn gọi là
câu chủ đề, 12 câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủ đề. Đây
là đoạn văn phân tích có kết cấu diễn dịch. Từ ngữ chủ đề: công việc trồng cây
xanh; triết lí nảy sinh phát triển sự nghiệp dân tộc; hành động nhỏ: ươm
mầm, chăm sóc cây xanh; lá phổi của con người; trồng cây gây rừng…
* Bài tập 2: Đề bài ở mục a, Bước 1 Đề 2: Đoạn văn sau trình bày nội
dung theo cách nào? Chỉ rõ cách trình bày nội dung đoạn văn?
Ngược dòng quá khứ, trong các cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc,
thế hệ cha ông đã tự nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân, hạnh phúc riêng tư,
thậm chí cả tính mệnh của mình cho Tổ quốc. Nhờ có sự hi sinh ấy, chúng ta mới
được hưởng cuộc sống tự do hạnh phúc như ngày hôm nay. Thế hệ ngày nay cần
tri ân trước công lao của ông cha, đồng thời tiếp tục bảo vệ xây dựng Đất nước
ngày một giàu đẹp hơn. Trong xã hội hiện đại, nhiều hành động đẹp, ý nghĩa của
thanh niên thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, hướng về nguồn cội như:
dành thời gian thăm viếng, quét dọn nghĩa trang liệt sĩ; chăm sóc bà mẹ Việt
Nam anh hùng, thương binh; xây dựng quỹ ủng hộ nạn nhân chất độc da cam…
Tuy vậy, bên cạnh đó vẫn còn một số bạn trẻ chưa biết trân trọng những thành
quả mà cha ông ta đã gây dựng. Họ sống buông thả: quay cuồng trong thuốc
lắc, vũ trường, dật dờ bên bàn phím, sống chìm trong những trang mạng ảo
Facebook, zalo… tạo nên một thế hệ cúi đầu với máy tính bảng, điện thoại…
Chính những con người ấy đang đi ngược với truyền thống của dân tộc, quay
lưng lại với quá khứ, bán rẻ tương lai của chính mình. Quả vậy, công lao của thế
hệ cha anh thật to lớn nên ta không thể sống ích kỉ vô tâm như thế. Mỗi chúng ta
hãy làm việc, học tập, trau dồi đạo đức để góp vào mùa xuân lớn của Đất nước.
Đó cũng là những hành động thiết thực để bày tỏ tấm lòng tri ân của chúng ta

Thật đáng buồn thay! Trong xã hội ngày nay vẫn còn có những người con bất
hiếu: sống buông thả mặc cho lời khuyên ngăn của mẹ. Thậm chí họ ngược
đãi, bạo hành khi cha mẹ về già. Ơn mẹ thật lớn, tình yêu thương của mẹ thật
dạt dào,“vũ trụ có nhiều kì quan, nhưng kì quan vĩ đại nhất vẫn là trái tim
người mẹ”(Bersot).Vì thế mỗi người con hãy sống cho trọn đạo hiếu. Sự hi sinh
như trời biển của mẹ suốt cuộc đời ta khắc cốt ghi tâm:“Đêm nay con ngủ giấc
tròn/ Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”.
Mô hình đoạn văn: Đoạn văn gồm 15 câu:
- Câu đầu (tổng): Nêu lên nhận định khái quát về vấn đề những hi sinh
thầm lặng của mẹ.
- Những câu tiếp ( phân): Phân tích; chứng minh; bình luận làm nổi bật sự
hi sinh thầm lặng của mẹ.
- Câu cuối (hợp): Khẳng định, nâng cao: Sự hi sinh như trời biển của mẹ
suốt cuộc đời ta khắc cốt ghi tâm. “Đêm nay con ngủ giấc tròn/ Mẹ là ngọn gió
của con suốt đời”.
- Vận dụng kết hợp các thao tác lập luận: phân tích, chứng minh, bình luận,
so sánh…
Với HS THPT, cách lập luận chủ yếu cần nhận diện là 3 cách diễn dịch,
quy nạp, tổng phân hợp còn các cách lập luận khác chủ yếu mở rộng dành cho
học sinh khá giỏi, và giúp các em nhận diện cách lập luận trên cơ sở đó tự
mình viết được một số dạng đề yêu cầu viết đoạn văn 200 chữ về vấn đề nghị
luận xã hội có chủ đề tích hợp với phần Đọc hiểu.
b. Dạng bài tập vận dụng:
* Viết câu chủ đề cho đoạn văn.
Trong văn nghị luận, câu chủ đề là câu đặc biệt quan trọng. Khi phân tích
đoạn trích hay tác phẩm, câu chủ đề phải nêu được nội dung chính cần phân tích.
Viết được câu chủ đề có thể coi là có được chìa khoá để mở vấn đề. Vì vậy, đây
là dạng đề theo tôi không kém phần quan trọng trong việc rèn kĩ năng viết đoạn
cho học sinh.
Với dạng bài này, có thể có một số bài tập cụ thể sau:

dù hạnh phúc hay khổ đau thì chỉ là quá khứ, những gì đã qua và tương lai còn
ở phía trước, tương lai tốt đẹp hay không phụ thuộc vào từng khoảnh khắc hiện
tại ta sống. Cứ mãi chìm đắm trong quá khứ hay mơ tưởng ảo tưởng viễn vông
về tương lai mà quên mất thực tại đều là lối sống chưa tích cực. Quá khứ trở
thành động lực để ta nỗ lực hơn. Ai cũng mong có những điều tốt đẹp đón chờ ở
phía trước, nhưng không cố gắng hôm nay thì đâu có ngày mai bởi “ngày mai
bắt đầu từ ngày hôm nay”. Chúng ta hãy biết trân trọng từng giây phút của thực
tại, nỗ lực hết mình, nắm bắt cơ hội để vươn tới thành công. Trong cuộc sống ta
bắt gặp không ít những tấm gương tiêu biểu đang dệt nên những câu chuyện cổ
tích giữa đời thường trong từng phút giây hiện hữu. Nic vujcic, sinh ra đã thiếu
may mắn bị cụt cả hai tay hai chân, nhưng với nghị lực bền bỉ, sự cố gắng trong
từng giây phút, Nic đã tốt nghiệp với tấm bằng kép Đại học và trở thành sứ giả
truyền cảm hứng trên toàn thế giới. Đó còn là thầy Nguyễn Ngọc Kí; em Nguyễn
Thị Thắm … và bao con người khác nữa…Bên cạnh những người đang cố gắng

13


thì đâu đó vẫn có những kẻ đang đánh mất cuộc sống của mình vào điều vô bổ:
game, rượu, thuốc lắc, hay quá sống ảo trên trang mạng...
- Câu kết đoạn là câu cảm thán:
Đời người chỉ sống có một lần, vậy nên, mỗi chúng ta hãy ngừng than
vãn hay xưng tụng quá khứ hoặc bớt ảo tưởng về tương lai, sống trọn vẹn ý
nghĩa trong từng khoảnh khắc của hiện tại. Đó mới thực sự là ta đang sống!
Trong các bài tập trên, bài tập 1 là dạng bài đơn giản được thực hiện ở đầu
năm học, còn bài tập 2 có nhiều yêu cầu phức tạp hơn, không chỉ viết câu chủ đề
mà là viết cả các câu phát triển, và không phải chỉ có yêu cầu viết đoạn mà còn
có cả yêu cầu ngữ pháp kèm theo, vì đây là bài tập được thực hiện vào cuối năm
học khi các kĩ năng viết đoạn của học sinh đã cơ bản được củng cố, thành thạo
và cần rèn luyện thêm các yêu cầu khác cho quen với dạng đề thi THPT Quốc

thi”,“siêu tốc”,“đi phượt”… Nhưng đáng tiếc, vẫn có bộ phận nhỏ giới trẻ
14


vẫn chưa có ý thức giữ gìn tiếng ta. Chúng ta không thể không ngạc nhiên bất
ngờ đến băn khoăn day dứt khi đọc những dòng chữ của các bạn 9x, 10x: “pan
có khoe ko”, “vk iu”, “pan dag làm j”…Không chỉ thế, do thói quen sử dụng
nên một số học sinh đưa những kí tự lạ vào cả vở ghi, bài kiểm tra… Trong giao
tiếp một số người trẻ thích chêm xen bằng tiếng Anh để thể hiện đẳng cấp…
Chính điều đó đã làm cho tiếng Việt mất đi sự trong sáng. Vì vậy, mỗi chúng ta
hãy nâng cao trách nhiệm để góp phần giữ gìn, cách tân để tiếng Việt ngày càng
giàu đẹp hơn.
. Phép nối: Các từ ngữ gạch chân.
. Phép thế: các từ ngữ in đậm.
. Phép nghịch đối: Những dòng in đậm đứng.
Trong đoạn văn vận dụng các phép liên kết sẽ tạo cho kết cấu đoạn thêm
chặt chẽ. Từ đó làm tăng sự lôi cuốn, thuyết phục hơn.
- Viết đoạn văn dựa vào chủ đề được thể hiện trong ý kiến trích dẫn:
Đọc đoạn trích ở Phần Đọc hiểu: (“Hạt giống tâm hồn” do First New
tổng hợp và thực hiện ; NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2010), (Xem đầy đủ ở
PHỤ LỤC V trang 6).
Anh/chị hãy viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến được
nêu trong phần Đọc hiểu: “Mỗi khó khăn, thất bại mà bạn gặp sẽ là một bước
đệm để ta cao hơn”.
GV đan lồng thêm yêu cầu:Viết đoạn văn có sử dụng linh hoạt các kiểu
câu?
Yêu cầu HS xác định:
. Chủ đề NL: từ ý kiến trích dẫn ở đề bài: “Mỗi khó khăn, thất bại mà
bạn gặp sẽ là một bước đệm để ta cao hơn”.
. Hình thức: đoạn văn 200 chữ, sử dụng các kiểu câu.

Với dạng bài tập này yêu cầu học sinh có kĩ năng tổng hợp hơn. Không
chỉ biết xác định câu chủ đề mà còn biết trình bày đoạn văn theo cách lập luận
mà đề yêu cầu.
Từ ý thơ trong đoạn trích ở Phần Đọc hiểu: “Tuổi 18, 20 sắc như cỏ/
Dày như cỏ /Yếu mềm và mãnh liệt như cỏ”. Anh/chị hãy viết đoạn văn 200 chữ
trình bày suy nghĩ của mình về chủ đề: khi tôi tuổi 18.
GV đan lồng thêm yêu cầu: HS viết đoạn văn 200 chữ có vận dụng các
thao tác lập luận, trong đó có thao tác bác bỏ?
Yêu cầu HS xác định:
. Chủ đề NL: Phần dẫn ở đề bài“Tuổi 18, 20 sắc như cỏ/ Dày như cỏ /Yếu
mềm và mãnh liệt như cỏ” và yêu cầu chủ đề: khi tôi tuổi 18.
. Hình thức: đoạn văn 200 chữ, sử dụng các thao tác lập luận, trong đó
có thao tác bác bỏ.
Chẳng hạn: Khi tôi tuổi 18 – là lúc tôi bước vào độ tuổi đẹp nhất trong quãng
thanh xuân của đời mình.(1) Khi ấy, cả tâm hồn và thể xác của con người tràn
đầy nhựa sống.(2) Như Thanh Thảo đã viết: ‘Tuổi 18, 20 sắc như cỏ/ Dày như
cỏ/ Yếu mềm và mãnh liệt như cỏ”.(3) Cây cỏ của thiên nhiên yếu mềm mỏng
manh nhưng mang trong mình một sức sống mãnh liệt, dù trong hoàn cảnh nào
nó vẫn vươn lên đan vào nhau lan đến tận chân trời.(4) Con người vào độ tuổi
18, chưa thực sự trưởng thành cũng đâu còn là trẻ con.(5) Tôi nhận ra mình
đang đứng giữa ranh giới một bên là ngây ngô, trong sáng của tuổi mộng mơ và
một bên là sự trưởng thành từng ngày của tuổi trẻ.(6) Khi tôi tuổi 18, cũng là
khi tôi bắt đầu xa vòng tay của cha mẹ, rời xa mái trường thầy cô bạn bè, bắt
đầu bước vào đời.(7) Tuổi trẻ là vũ khí của người trẻ, thế nên tôi sẽ có cơ hội
biến ước mơ trở thành sự thật, sẵn sàng đương đầu với khó khăn thử thách.(8)
Đó còn là độ tuổi mà ta vừa yếu mềm, dễ tổn thương, song cũng thật mạnh mẽ
hồi sinh sau thất bại.(9) Tôi đón nhận tuổi 18 của mình bằng thái độ sống tích
cực: biết yêu thương và luôn nỗ lực vươn lên từ chính khả năng của bản thân.
(10) Đừng như ai kia sống với tuổi 18 trong men cay của rượu, sa đọa trong vũ
trường thuốc lắc, dật dờ bên bàn phím game online…(11) Tuổi 18 chỉ đến có

khoảng 20 - 30 dòng để tránh mất thời gian có bạn đếm chữ ạ.
- GV: Trước khi xác định đề chúng ta phải tiến hành thao tác gì? Em hãy chỉ
ra cụ thể ở đề thi này?
- HS: Trước khi tìm hiểu đề chúng ta phải đọc kĩ phần đoạn trích trong phần
đọc hiểu để nắm nội dung làm cơ sở để triển khai đoạn văn. Thông thường ta
nên làm xong phần Đọc hiểu trước, sau đó mới sang câu nghị luận xã hội. Ở đề
này, nội dung của đoạn trích: Thầy hiệu trưởng đề cập về lối sống tích cực mà
chúng ta nên hướng tới. Tác giả đã đưa ra lí lẽ để phân tích những biểu hiện của
lối sống đẹp: (hành động, nắm bắt cơ hội…), dẫn chứng để chứng minh ( tấm
gương: Thoreau; Nhà thơ Mary olive…). Những nội dung này giúp ta viết đoạn
văn tốt hơn.
- GV: Quả vậy, việc đọc kĩ đoạn trích phần Đọc hiểu là rất quan trọng. Vì
Phần làm văn NLXH được tích hợp với đoạn trích. Muốn hiểu đúng, hiểu sâu ý
kiến ta nên đặt trong văn cảnh đoạn văn.Vậy ở đề này em cần xác định đề ra sao,
triển khai các bước như thế nào?
- HS: Đây là dạng đề NLXH về một tư tưởng đạo lí, xác định chủ đề từ ý
kiến trích dẫn ở trong đoạn trích:“Đừng nghĩ là “các em chỉ sống một lần” mà
hãy nghĩ là “các em sống một lần tốt nhất”. Từ đó ta có câu chủ đề cho đoạn
17


văn: “Ôi, sống đẹp là thế nào hỡi bạn”(Tố Hữu). Vâng, sống đẹp, sống có ý
nghĩa luôn là điều trăn trở của tất cả chúng ta.
- GV: Đúng rồi. Chúng ta xác định được chủ đề và còn dẫn ý kiến của Tố
Hữu có nội dung tương đồng sẽ lôi cuốn hơn.
- HS: Sau đó ta tìm ý cho đoạn văn. Vì là dạng đề NL về tư tưởng đạo lí
trình bày suy nghĩ về một ý kiến nên em sẽ xác lập các ý:
+ Nêu và giải thích ý kiến: Một lần nữa chân lí ấy được khẳng định qua ý
kiến của thầy Hiệu trưởng David Mccullough : “Đừng nghĩ là “các em chỉ sống
một lần” mà hãy nghĩ là “các em sống một lần tốt nhất: Đừng nghĩ đời người

lập luận nào khác?
- HS: Ta có thể viết theo phương pháp quy nạp và tổng phân hợp. Nếu theo
phương pháp quy nạp ta đưa câu chủ đề để kết đoạn và thay đổi cấu trúc đoạn
văn như sau: Mở đầu là trích dẫn trực tiếp ý kiến của thầy Hiệu trưởng (Thầy
18


hiệu trưởng David Mccullough trong bài phát biểu tại buổi lễ nghiệp trường
trung học Wellesley đã khẳng định :( trích nguyên văn ý kiến...). Các ý giải
thích, chứng minh, bình luận tương tự như trên. Thay đổi câu chốt cuối đoạn
văn : Ý kiến của thầy hiệu trưởng là hoàn toàn đúng đắn, giúp mỗi chúng ta biết
sống đẹp, sống có ý nghĩa nhất trong cuộc đời mình và đó cũng là chân lí sống
mà con người mãi khắc ghi. Nếu viết đoạn văn theo phương pháp tổng phân hợp
thì chỉ bổ sung câu hợp vào sau đoạn văn diễn dịch ở trên. Ta có thể vận dụng
một ý kiến trích dẫn có nội dung tương đồng để khép lại đoạn văn, ví dụ: Để
mọi người yêu quý, thương yêu, mỗi chúng ta hãy sống tốt nhất trong kiếp nhân
sinh của mình,“để khỏi xót xa ân hận vì những tháng ngày sống hoài sống
phí”(N. Ostrovski).
- GV: Ngoài việc mở rộng liên hệ chúng ta có chú ý tới vận dụng phép liên
kết, thay đổi kiểu câu và thao tác lập luận không, chỉ ra cụ thể?
- HS:Vâng, có ạ.Vận dụng các phép liên kết để xâu chuỗi các câu trong
đoạn. Các kiểu câu để tạo cho giọng văn linh hoạt và các thao tác lập luận tăng
sức thuyết phục. Ví dụ:
+ Phép liên kết: phép nối: qua các từ gạch chân: vâng, nhưng…
+ Các kiểu câu: Ngoài câu trần thuật có thể vận dụng câu cảm thán: Họ đã
góp phần tạo nên câu chuyện đẹp giữa cuộc đời! hoặc câu nghi vấn để khẳng
định: Phải chăng đó chỉ là tồn tại, thậm chí hủy hoại cuộc đời mình?
+ Các thao tác lập luận: Giải thích ở phần giải thích ý kiến, phân tích,
chứng minh, bình luận bác bỏ qua các luận điểm.
- GV: Chính xác! Vậy là các em đã xử lí các bước rất hiệu quả. Chúng ta


KẾT QUẢ XẾP LOẠI
Tổng
số học Giỏi
Khá
sinh
TS %
TS %

Trung bình

Yếu

TS

TS

%

%

40

5

12.5% 13

32.5% 19

47.5% 3


PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:
1. Kết luận:
Sáng kiến kinh nghiệm được rút từ thực tế giảng dạy, qua quá trình
hướng dẫn học sinh kĩ năng viết đoạn văn nghị luận. Những giải pháp thực hiện
đã giúp học sinh nhất là đối tượng học sinh từ trung bình trở xuống có kĩ năng
viết đoạn văn, bài văn nghị luận. Trên thực tế, đoạn văn là một phần của văn
bản. Khi các em có kĩ năng viết đoạn thành thạo thì cũng nâng cao kĩ năng viết
bài tập làm văn. Các kĩ năng dựng đoạn đã thực hiện trong đề tài cũng đã góp
phần nâng cao kĩ năng làm văn nghị luận cho học sinh, từng bước nâng cao chất
lượng học tập của học sinh ở bộ môn Ngữ văn trong nhà trường cũng như khả
năng tạo lập văn bản khi bước vào cuộc sống. Tạo cho các em luôn có khả năng
lập luận mạch lạc, chặt chẽ, thuyết phục khi trình bày một vấn đề, một ý tưởng.
Một số bài học rút ra của tôi sau khi thực hiện đề tài là: Giáo viên cần cho học
sinh nắm vững kiến thức về đoạn văn: khái niệm, cách trình bày nội dung trong
đoạn văn; tuỳ theo đối tượng học sinh khá, giỏi hay trung bình, yếu mà vận dụng
lựa chọn các dạng bài tập phù hợp; đặc biệt là phải khuyến khích cho học sinh
tìm hiểu về các vấn đề xã hội ngày nay để có nội dung thực hành khi viết đoạn.
2. Kiến nghị:
Nhà trường cần tổ chức các buổi trao đổi phương pháp giảng dạy nội bộ,
tạo điều kiện cho GV được giao lưu học tập các giờ dạy ở những trường có chất
lượng chuẩn Quốc gia, các giáo viên giỏi đầu ngành để được học tập các phương
pháp .
Học sinh cần tăng cường trao đổi, học nhóm tìm hiểu các đề thi, phương
pháp viết đoạn văn nói riêng bài văn nói chung để nâng cao chất lượng học tập.
Trên đây là những kinh nghiệm của tôi qua việc thực hiện đề tài ở trường
THPT Đông Sơn 2. Tuy nhiên, đây chỉ là kinh nghiệm mang tính chủ quan của
bản thân và mới áp dụng trong phạm vi hẹp. Rất mong sự đóng góp ý kiến, trao
đổi, bổ sung của bạn bè đồng nghiệp và sự phổ biến nhân rộng của đề tài để kết
quả giáo dục nói chung, dạy và học văn nói riêng của học sinh ngày càng được


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Trần Thị Thanh Huyền
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên trường THPT Đông Sơn 2.
Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
Năm học
giá xếp loại
TT
Tên đề tài SKKN
xếp loại đánh giá xếp
(Phòng, Sở,
(A, B,
loại
Tỉnh...)
hoặc C)
1. Hướng dẫn học sinh phân tích Sở Giáo dục
C
2010 - 2011
& Đào tạo
nhân vật từ khía cạnh nội tâm
Thanh Hóa
trong tác phẩm tự sự.
2.
3.
4.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status