Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội theo định hướng đề thi THPT quốc gia - Pdf 44

A. MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
I.1 Cùng với những thay đổi lớn trong đổi mới thi THPT Quốc gia 2017,
môn Ngữ văn cũng có một số điều chỉnh: Thời gian thi Ngữ văn đã rút xuống
còn 120 phút (năm 2016 là 180 phút); thay bằng hai ngữ liệu ở phần Đọc
hiểu, thì đề thi 2017 sẽ còn một ngữ liệu; Thay bằng viết bài văn Nghị luận xã
hội trong khoảng 400 chữ, thì nay chỉ là viết đoạn nghị luận xã hội khoảng
200 chữ. Để nhanh chóng bắt kịp với sự thay đổi này, chưa có một tài liệu
tham khảo chuyên sâu nào giáo viên chỉ biết bám vào cấu trúc đề thi minh
họa môn Ngữ văn kì thi THPT quốc gia 2017 để xây dựng ma trận đề, tìm tòi
ngữ liệu, xây dựng hướng dẫn làm bài. Điểm mới nhất trong đề thi THPT
quốc gia 2017 chính là yêu cầu viết đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ.
I.2 Mục tiêu của đề thi Ngữ văn hướng tới việc thí sinh hiểu và diễn đạt
sự hiểu đó càng mạch lạc, trôi chảy và đúng nội dung càng điểm cao.Thí sinh
chỉ cần làm rõ sự hiểu về một khía cạnh, một luận điểm mà đề gợi ra từ phần
đọc hiểu đã suy nghĩ trả lời.
I.3.Trong khi đó viết đoạn văn 200 chữ là một công việc đầy sáng tạo và
khó nhọc, không chỉ đòi hỏi người viết sự am hiểu chữ nghĩa, năng lực tư duy,
vốn hiểu biết mà còn thử thách trình độ tạo lập văn bản và cả nhân cách, cá
tính của người cầm bút. Điều đó đã đặt ra sự lựa chọn, bạn sẽ chọn viết đoạn
văn ngắn 200 chữ theo cấu trúc đề thi trung học phổ thông quốc gia 2017 hay
viết bài văn nghị luận xã hội 600 chữ? Nhưng viết như thế nào khi đề bài theo
hướng mở, tự do bày tỏ hiểu biết thực sự làm thầy và trò hiện nay lo lắng .
Làm thế nào để có được bí kíp “hái quả ngọt” - đạt được điểm cao của phần
thi này trong cấu trúc đề thi THPT quốc gia?
=> Đó cũng là những lý do khiến tôi chọn đề tài “ Rèn luyện kĩ năng
viết đoạn văn nghị luận xã hội theo định hướng đề thi THPT quốc gia” để
nghiên cứu, áp dụng vào thực tế giảng dạy ở trường THPT. Hy vọng những
kinh nghiệm nhỏ này sẽ có tác dụng hữu ích với đồng nghiệp và học sinh
THPT.
II. Mục đích nghiên cứu:

V. NHỮNG LUẬN ĐIỂM CẦN BẢO VỆ
* Lý do chọn đề tài
* Giải quyết vấn đề.
* Kết quả thực nghiệm .
* Kết luận .
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CŨNG NHƯ Ý NGHĨA LÝ LUẬNVÀ
THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
V.1. Đối với giáo viên:
- Đề tài sẽ cung cấp một “ cẩm nang” giúp người giáo viên trực tiếp
giảng dạy ( đặc biệt đang dạy lớp 12) tìm ra một hướng đi đúng đắn nhằm
nâng cao chất lượng dạy học, ôn luyện trong nhà trường.
V.2. Đối với học sinh:
- Giúp học sinh có kĩ năng, phương pháp làm bài nghị luận xã hội đạt kết
quả cao.
- Viết được đoạn văn nghị luận đúng theo hình thức và nội dung, dung
lượng của đoạn văn
- Trang bị thêm những tri thức cuộc sống trong các vấn đề cuộc sống
(thái độ, hành động đúng đắn trước các vấn đề xã hội) - đó là hành trang tốt
để các em mang theo, không phải chỉ là trong câu chuyện thi cử mà trong cả
cuộc sống sau này.

2


B. NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:

- Với lối mòn ăn sâu trong tâm thức của người dạy và người học bài văn
600 chữ với nội dung tách rời phần đọc hiểu đã được định hình và cách giải
quyết phụ thuộc vào các sách tham khảo bài văn mẫu.

Câu 2: Nghị luận văn Bài văn nghị luận văn học
học( 5,0 điểm)
* Những thay đổi và định hướng rèn luyện kĩ năng làm đoạn văn
nghị luận xã hội 200 chữ tích hợp nội dung phần đọc hiểu:
Tiêu chí
Đề 2016
Đề 2017
Thời gian
180 phút
120 phút
Phần đọc hiểu(3,0 điểm) - 2 văn bản ( 1 thơ, 1 - 1 văn bản ( 1 thơ, 1
văn xuôi)
văn xuôi)
- 8 câu hỏi chia đều 4 - 4 câu hỏi chia đều 4
mức độ: nhận biết, mức độ: nhận biết,
3


thông hiểu, vận dụng
thấp, vận dụng cao)
Phần làm Câu 1: Nghị - Hình thức: Bài văn
văn (7,0 luận xã hội
khoảng 600 chữ.
điểm)
- Nội dung nghị luận:
tách biệt với phần đọc
hiểu
=> 3,0 điểm

thông hiểu, vận dụng

có thể gồm 3 câu đến hàng trăm câu.Với thời gian 120 phút, đề thi Ngữ văn
2017 muốn thí sinh hoàn thành phần đọc hiểu 4 câu (3 điểm) và câu 2 viết
đoạn ngắn (2 điểm), dành nhiều thời gian viết câu 3 nghị luận văn học (5
điểm).
II.2. Nắm lí thuyết về đoạn văn:
- Về nội dung: Đoạn văn là một phần của văn bản, nó diễn đạt ý hoàn
chỉnh ở một mức độ nào đó logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách
tương đối dễ dàng.Tuy nhiên, đoạn văn Nghị luận xã hội 200 chữ cần bám sát
yêu cầu của đề và dựa trên nội dung/ thông điệp ở phần đọc hiểu.
- Về hình thức: Đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể
hiện ở những điểm sau: Một đoạn văn được bắt đầu từ chữ cái viết hoa lùi đầu
dòng đến chỗ chấm xuống dòng.
- Cấu trúc một đoạn văn:
+ Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề:
4


++ Từ ngữ chủ đề : là các từ ngữ được lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đối
tượng được biểu đạt.
++ Câu chủ đề: là câu nêu lên ý chính của toàn đoạn, mang nội dung
khái quát, ý nghĩa ngắn gọn. Thường đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn.
+ Các câu trong đoạn:
++ Có nhiệm vụ triển khai và làm rõ chủ đề của đoạn
++ Trình bày theo các phép diễn dịch, quy nạp, song hành…
II.3 Cách viết đoạn văn NLXH 200 chữ theo yêu cầu của đề thi hiện
hành:
II.3.1. Xác định và đáp ứng các yêu cầu của đề:
- Về nội dung: Đề bài có thể trích dẫn hoặc không trích dẫn câu văn
trong phần đọc hiểu. Điều quan trọng là các em cần hiểu yêu cầu của đề và
xác định hướng đi đúng đắn.


Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó
của ông.
(Theo Tuốc- ghê- nhép)
Với đề bài này, học sinh cần hiểu ý nghĩa câu chuyện, xác định vấn đề
nghị luận và thao tác lập luận chủ yếu : HS tự do bày tỏ cảm nhận của bản
thân:
– Có thể HS trình bày về giá trị của tình yêu thương, sự đồng cảm trong
cuộc sống.
– Có thể HS trình bày bài học về một thái độ, cách ứng xử, ý thức cho và
nhận của con người trong cuộc sống
– Có thể HS trình bày lời chia sẻ với những số phận bất hạnh…
Hoặc đôi khi đề bài trích dẫn 1 câu văn trong đề đọc hiểu và yêu cầu học
sinh viết đoạn văn NLXH 200 chữ, ví dụ như đề thi minh họa của Bộ GD.
- Về hình thức:
+ Thứ nhất: Đề bài yêu cầu viết đoạn văn 200 chữ, học sinh cần trình
bày trong 1 đoạn văn ( không được ngắt xuống dòng ), dung lượng an toàn
khoảng 2/3 tờ giấy thi ( khoảng trên dưới 20 dòng viết tay), có thể nhiều hơn
1 vài dòng cũng không bị trừ điểm. Đoạn văn cần diễn dạt lưu loát, không
mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
+ Thứ hai: Đoạn văn phải đảm bảo bố cục ba phần:Mở đoạn – Thân
đoạn - Kết đoạn.
+ Thứ ba: Đoạn văn sử dụng các thao tác lập luận: Giải thích – Phân
tích – Chứng minh – Bình luận – Bác bỏ - Bình luận mở rộng. Diễn đạt phải
trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.
II.3.2.Phân chia thời gian làm bài (Kinh nghiệm làm đoạn văn Nghị
luận xã hội trong 30 phút).
* Phân chia thời gian hợp lý
Theo như đề thi minh họa 2017 thì môn Ngữ văn được rút xuống còn
120 phút, trong đó câu nghị luận xã hội được giới hạn trong khoảng 200 chữ.

thời gian mà khó diễn đạt. Dùng những câu ngắn nếu có nhiều ý mỗi câu một
ý. Nên chia bài viết thành các đoạn ngắn trên các luận điểm mỗi luận điểm là
1 đoạn.Không đưa những luận điểm chung chung mà không dẫn chứng, tốt
nhất là đưa khoảng 3 đến 4 dẫn chứng và tập chung vào các dân chứng đó.
Không đưa nhiều rồi bỏ lửng.
Điều quan trọng nhất là bạn phải tập luyện thói quen viết văn nghị luận
trong khoảng thời gian 25 phút để rèn luyện, hơn nữa điều quyết định trong
bài văn nghị luận là phải thường xuyên cập nhật tình hình thời sự những diễn
biến đang được công chúng quan tâm hoặc các câu nói của các triết gia hoặc
vĩ nhân sẽ giúp bạn có thể tự tin và nắm bắt được bài văn nghị luận xã hội
Mục tiêu của đề thi Ngữ văn hướng tới việc thí sinh hiểu và diễn đạt sự
hiểu đó càng mạch lạc, trôi chảy và đúng nội dung càng điểm cao. Thí sinh
chỉ cần làm rõ sự hiểu về một khía cạnh, một luận điểm mà đề gợi ra từ phần
đọc hiểu đã suy nghĩ trả lời. Một đoạn văn khoảng 200 chữ tương đương
khoảng 20 dòng, nửa trang giấy thi hoặc ngắn hơn vẫn được chấp nhận, miễn
là thí sinh hiểu và viết rõ ràng, chặt chẽ đã đạt điểm trung bình. Đoạn văn bài
thi 2017 không thể phân tích dẫn chứng hay giải thích từ ngữ, khái niệm hoặc
bàn luận dài dòng mà cần bộc lộ năng lực nhận thức và trải nghiệm về vấn đề
rất cụ thể của cuộc sống đặt ra trong câu hỏi.
* Viết đoạn văn nghị luận: Hiểu đúng và trúng nội dung vấn đề gợi ra
từ câu hỏi đọc hiểu, thí sinh cần dự kiến trình bày đoạn theo cách diễn dịch,
quy nạp hay tổng – phân – hợp…Xác định câu chủ đề của đoạn từ gợi ý của
câu hỏi hoặc lấy ngay câu của đề làm câu chủ đề (nếu có).Các câu tiếp sau sẽ
cụ thể, chi tiết và làm rõ các khía cạnh, biểu hiện của luận điểm.
Thí dụ, sơ đồ cấu trúc một đoạn gồm 20 câu: câu 1 (nêu chủ đề đoạn
văn); các câu 2 đến câu 18 (các biểu hiện, cảm xúc, diễn biến…); câu 20
(tổng quát vấn đề).Cách dễ làm nhất là đặt và trả lời câu hỏi, suy nghĩ tìm từ
ngữ và liên kết câu để diễn đạt ý hiểu thành câu chặt chẽ.
II.3.3. Tìm ý cho đoạn văn:
- Xác định sẽ viết những nội dung cụ thể gì (ý chính)?

+ Câu kết có thể nêu cảm xúc cá nhân, mở rộng vấn đề (nêu bài học
chung), hoặc tóm lược vấn đề vừa trình bày
- Lưu ý:
+ Cần trình bày quan điểm cá nhân nhưng phải phù hợp với chuẩn mực
đạo đức và pháp luật.
+ Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử dụng từ ngữ,
hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,…) .
Tóm lại:
- Để tìm được ý cho đoạn văn, cần xem xét vấn đề ở nhiều góc độ. Cách
đơn giản nhất là thử đặt ra và trả lời các câu hỏi:
+ Nó (vấn đề) là gì? Nó (câu nói) như thế nào?
+ Tại sao lại như thế?
+ Điều đó đúng hay sai, hay vừa đúng vừa sai?
+ Nó được thể hiện như thế nào (trong văn học, trong cuộc sống)?
+ Điều đó có ý nghĩa gì đối với cuộc sống, với con người, bản thân…?
+ Cần phải làm gì để thực thi/hạn chế vấn đề/câu nói?

8


- Từ việc đặt ra và trả lời các câu hỏi trên, có thể hình dung một đoạn
văn nghị luận cần được triển khai theo ba bước:
+ Thứ nhất: Giải thích.
. Trước tiên, cần giải thích nghĩa cụ thể của các một số từ ngữ, khái niệm
còn ẩn ý hoặc chưa rõ nghĩa.
. Sau đó giải thích ý nghĩa cả câu nói.
+ Thứ hai: Phân tích và chứng minh.
. Lí giải vấn đề, làm sáng tỏ vấn đề.
. Dẫn ra các ví dụ về những con người và sự việc cụ thể trong đời sống,
xã hội, lịch sử…

Bước 1. Đọc kỹ đề
* Theo như đề thi mẫu – phần nghị luận xã hội sẽ lấy một ý nhỏ trong
bài đọc hiểu để làm đề thi viết đoạn văn 200 từ (cũng có khi là không). Nếu
9


đề NLXH mà nằm trong đọc hiểu thì trước hết các em phải đọc kỹ bài đọc
hiểu, nắm được cốt lõi nội dung, từ đó xem đề nghị luận 200 từ họ yêu cầu
mình bàn về vấn đề gì? Nhất là phải xác định được vấn đề đó thuộc về Tư
tưởng đạo lý hay Hiện tượng đời sống.
Ví dụ: Leo lên đỉnh núi không phải để cắm cờ mà là để vượt qua thách
thức, tận hưởng bầu không khí và ngắm nhìn quang cảnh rộng lớn xung
quanh. Leo lên đỉnh cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không
phải để thế giới nhận ra các em. Hãy đến Paris để tận hưởng cảm giác đắm
chìm trong Paris chứ không phải lướt qua đó để ghi Paris vào danh sách các
địa điểm các em đã đi qua và tự hào mình là con người từng trải. Tập luyện
những suy nghĩ độc lập, sáng tạo và táo bạo không phải để mang lại sự thỏa
mãn cho bản thân mà là để đem lại lợi ích cho 6,8 tỷ người trên trái đất của
chúng ta. Rồi các em sẽ phát hiện ra sự thật vĩ đại và thú vị mà những kinh
nghiệm trong cuộc sống mang lại, đó là lòng vị tha mới chính là điều tốt đẹp
nhất mà các em có thể làm cho bản thân mình. Niềm vui lớn nhất trong cuộc
đời thực ra lại đến vào lúc các em nhận ra các em chẳng có gì đặc biệt cả.
Bởi tất cả mọi người đều như thế. (Trích Bài phát biểu tại buổi lễ tốt nghiệp trường
trung học Wellesley của thầy Hiệu trưởng David McCullough)

Câu nghị luận xã hội cho là: Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ)
trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích ở phần
Đọc hiểu: “Leo lên đỉnh cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ
không phải để thế giới nhận ra các em.”
Như vậy câu trên là một câu trong bài đọc hiểu. Vậy phải đọc kỹ bài Đọc

Nhìn chung viết đoạn văn giống như cách làm bài nghị luận xã hội mà đề
đã cho cấu trúc trước đó. Chỉ khác là chúng ta viết ngắn lại, cô đúc hơn.Số
dòng, số câu cho từng phần:Mở đoạn: 2-3 câu (có khi chỉ cần 1 câu nếu viết
tốt).Thân đoạn:Giải thích 4 dòng, bàn luận 12 dòng; Mở rộng vấn đề – 4
dòng; Bài học – 5 dòng; Kết đoạn – 2 dòng (hoặc có khi gộp luôn vào chỗ bài
học)
Bài văn 200 từ nhưng bạn có thể viết tới 250 từ (tương đương trên 20
dòng).
II.3.5 Hai loại đoạn văn thường gặp trong cấu trúc đề thi THPT
quốc gia:
1. Dạng 1: Bàn luận về một tư tưởng, đạo lí:
- Đề bài thường trích một câu trong đọc hiểu để yêu cầu thí sinh bày tỏ ý
kiến, bàn luận.
- Các vấn đề từ câu nói thường yêu cầu bàn luận như:
+ Nhận thức: lí tưởng, khát vọng, niềm đam mê, mục đích sống…
+ Phẩm chất: lòng yêu nước, tính trung thực, lòng dũng cảm, sự khiêm
tốn, sự tự học, lòng ham hiểu biết, sự cầu thị…
+ Quan hệ gia đình: tình mẫu tử, tình anh em…
+ Quan hệ xã hội: tình bạn, tình thầy trò, tình đồng bào…
+ Cách ứng xử của mọi người trong cuộc sống: lòng nhân ái, thái độ hòa
nhã, sự vị tha…
+ Các tư tưởng lệch lạc, tiêu cực: ích kỉ, thực dụng, dối trá, hèn nhát…
Cấu trúc chung của đoạn văn:
 Mở đoạn: (khoảng 2 dòng)
 Dẫn dắt vào vấn đề
 Trích dẫn câu nói.
 Thân đoạn: Giải – Nguyên – Minh – Luận – Dụng
 Bước 1: Giải thích ý nghĩa câu nói/ vấn đề.
Yêu cầu:
+ Chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh còn ẩn ý hoặc chưa rõ nghĩa.

 Bước 4: Luận bàn mở rộng vấn đề: Phê phán điểm hạn chế, phân
tích mặt tích cực.
 Bước 5: Áp dụng tư tưởng đạo lí vào trong thực tế: Nêu bài học
nhận thức và hành động (Cần phải làm gì?)
Yêu cầu:
+ Bài học phải được rút ra từ chính tư tưởng, đạo lí mà đề bài yêu cầu
bàn luận.
+ Bài học cần chân thành, giản dị, hướng tới tuổi trẻ, không sáo rỗng,
hình thức.
+ Nên rút ra hai bài học, một bài học về nhận thức, một bài học về hành
động.
 Kết đoạn:
Đưa ra một thông điệp hay một lời khuyên cho mọi người.
VÍ DỤ MINH HỌA:
Đề thi minh họa năm 2017 của Bộ giáo dục:
Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ về câu nói: “Leo lên
đỉnh cao là để các em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới
nhận ra các em”.
Gợi ý:
- Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề
(Thầy hiệu trưởng … đã có câu nói: “Leo lên … các em.”)
12


- Phát triển đoạn:
+ Giải thích câu nói: (Câu nói khẳng định điều gì?)
(“Leo lên đỉnh núi cao” có thể hiểu là sự chinh phục những thử thách,
chiếm lĩnh những tầm cao của con người chúng ta. Còn “nhìn ngắm thế giới”
là sự quan sát, phát hiện sự lớn lao cũng như tận hưởng những vẻ đẹp của
thế giới, của cuộc sống xung quanh. “Thế giới nhận ra các em” nghĩa là sự

 Cần phải phê phán những hiện tượng nào?
Thật đáng chê trách những người không biết đặt ra những “đỉnh cao”,
những mục tiêu cho bản thân mình. Những con người ấy sống cuộc sống như
vô nghĩa, không chút cầu tiến, không chút tương lai. Cũng thật đáng phê
phán những ai xem việc chinh phục đỉnh cao chỉ nhằm để khẳng định mình
trước thiên hạ mà không vì mục tiêu chung cho mọi người.
- Kết đoạn: Bài học với bản thân.
13


(Câu nói của thầy hiệu trưởng đã cho tôi một bài học vô cùng sâu sắc.
Bản thân tôi phải đặt ra mục tiêu cho chính mình và tôi cũng nghĩ rằng, chỉ
có bản thân mình mới có thể hiểu được giá trị của những mục tiêu đó. Tôi
không cần người khác đánh giá mà chỉ cần tôi hiểu được giá trị của chính
mình – những điều tôi đang theo đuổi. Tất cả những điều đó cho tôi và cho
tất cả chúng ta một cuộc sống tuyệt vời.)
2. Dạng 2: Bàn luận về một hiện tượng đời sống:
a. Các dạng đề:
- Các hiện tượng tích cực trong đời sống: tương thân tương ái, tự học
thành tài…
- Các hiện tượng tiêu cực trong đời sống: ô nhiễm môi trường, thực
phẩm bẩn, tai nạn giao thông, gian lân trong thi cử…
- Các hiện tượng hai mặt: đam mê thần tượng, du học rồi ở lại nước
ngoài, mạng xã hội…
b. Dàn ý chung:
- Mở đoạn:
+ Dẫn dắt vào hiện tượng.
+ Nêu thái độ đánh giá về hiện tượng.
- Thân đoạn: Thực – Nguyên – Thái – Biện – Liên.
+ Bước 1: Nêu rõ thực trạng, các biểu hiện cụ thể của hiện tượng trong

. Cùng với sự phát triển của internet là hàng loạt các trang mạng xã hội
ra đời như twitter, zalo, vaber, facebook… kéo theo trào lưu sống ảo, đăng
các thông tin, dòng trạng thái hay ảnh cá nhân để “khoe” với cộng đồng
mạng.
+ Nguyên nhân:
. Chứng bệnh này là nguyên nhân của lối sống xa hoa, chú trọng hình
ảnh, danh tiếng. Nó là một trong những biểu hiện của lối sống “tôi là trung
tâm”.
. Nó cũng xuất phát từ việc người sử dụng mạng xã hội chưa có những
nhận thức đúng đắn, dẫn đến tình trạng lạm dụng.
. Ngoài ra, do cha mẹ ít có thời gian quan tâm, để ý đến con cái nên
không quản lí được thời gian sử dụng mạng xã hội của con cái.
+ Hậu quả:
. Hiện tượng này để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng như làm hình thành
một thế hệ trẻ tự yêu mình, ít hòa nhập với xã hội.
. Người nghiện điện thoại hoặc các trang mạng xã hội thường có lối
sống, thái độ thiếu đồng cảm với mọi người: thay vì giao tiếp cá nhân, họ chỉ
chú ý vào màn hình điện thoại để sống với thế giới ảo của mình.
. Hơn nữa, hiện tượng này dẫn đến tình trạng con người thiếu khả năng
kiểm soát những ham muốn của bản thân nên có những hành động bất
thường chỉ để thỏa mãn nhu cầu cá nhân mình: ăn mặc như nhân vật mình
tưởng tượng, mua sắm vật dụng cá nhân đắt tiền để chạy theo phong trào, dễ
sa ngã…
. Thậm chí, đây cũng là một tâm lí dẫn đến tỉ lệ tử vong cao.
+ Giải pháp và bài học:
. Mỗi cá nhân cần ý thức được ranh giới giữa thế giới ảo và thực để biết
cân bằng cuộc sống.
. Gia đình, nhà trường và xã hội cần có những biện pháp hỗ trợ giúp đỡ,
định hướng cho các thành viên trong cộng đồng, nhất là giới trẻ để mỗi cá
nhân có cuộc sống thật lành mạnh, hài hòa với xã hội.

chặn các hành vi vi phạm xâm phạm chủ quyền biển, hải đảo thiêng liêng của
Tổ Quốc
- Câu kết đoạn: Bàn bạc mở rộng vấn đề, nhấn mạnh trách nhiệm của
thanh niên với đất nước.
Ta có đoạn văn như sau :
+ Mở đoạn:
Những câu thơ trên của Thanh Thảo nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta hôm
nay: Bất cứ thời đại nào, mỗi con người chúng ta nhất là thế hệ thanh niên
cũng luôn phải ý thức vai trò trách nhiệm của mình đối với đất nước.
+ Phát triển đoạn:
. Trước tiên thế hệ trẻ phải xác định tư tưởng, tình cảm, lí tưởng sống
của mình: yêu quê hương đất nước, tự hào tự tôn dân tộc, có ý thức bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ của dân tộc; lao động, học tập để khẳng định bản lĩnh, tài
năng cá nhân và phục vụ cống hiến cho đất nước, sẵn sàng có mặt khi Tổ
quốc cần.
. Thời đại ngày nay, xu thế toàn cầu là xu thế hội nhập, khoa học kĩ thuật
phát triển với tốc độ cao, vậy thế hệ trẻ cần phải học tập tích lũy tri thức để
góp phần phát triển đất nước theo kịp thời đại, hội nhập với xu thế phát triển
chung của quốc tế.
. Bên cạnh đó, phải rèn luyện sức khỏe để có khả năng cống hiến và bảo
vệ đất nước. Đồng thời thanh niên cũng cần quan tâm theo dõi đến tình hình
chung của đất nước, tỉnh táo trước hành động của mình không bị kẻ xấu lợi
dụng.
. Chẳng hạn như vấn đề chủ quyền biển đảo, thanh niên cần hưởng ứng
và tích cực các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng,
16


trên Internet, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn,
đồng thời kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi vi

3.2. Chấm bài
- Vì câu nghị luận xã hội thường là câu hỏi mở nên cũng khó làm đáp
án cho rõ ràng, rành mạch, người chấm bài phải rất “vững tay”.
- Đáp án cũng phải là “đáp án mở”, tức là không nên bó chặt người viết
vào một số ý nào mà chỉ nêu định hướng hoặc cách giải quyết. Còn nội dung
cụ thể thì để học sinh tự xác định, tự bộc lộ. Tuy nhiên cũng phải đảm bảo
những yêu cầu về nội dung và hình thức:
+ Yêu cầu về hình thức: Đảm bảo hình thức, dung lượng đoạn văn: Viết
đoạn văn 200 chữ theo một trong các cách diễn dich, quy nạp hoặc tổng –
phân –hợp…; sử dụng một hoặc một số thao tác lập luận trong số các thao tác

17


gii thớch, phõn tớch, chng minh, bỡnh lun; cú lớ l v dn chng hp lớ,
thuyt phc, m bo quy tc chớnh t, dung t, t cõu
+ V ni dung: Xỏc nh ỳng c vn cn ngh lun; by t c
quan im ca ngi vit v vn ngh lun.
+ Cn c vo vn ngh lun, giỏo viờn a ra mt hng trỡnh by;
cỏch cho im
- Giỏo viờn cn c vo ni dung v hỡnh thc trỡnh by ca hc sinh m
ỏnh giỏ, cho im. Cn trõn trng nhng ý kin cỏ nhõn ca hc sinh mim
l cú lớ v thuyt phc. Trỏnh vic m ý n im v tuyt i khụng ly
ngn di ca bi vit m cho im.
- Khi chm bi, giỏo viờn cn ch ra c th cỏc u im v hn ch
trong bi l ca hc sinh, nht l cỏc hn ch: li trỡnh by, li din t hay
cha hiu vn ngh lun, cha bit cỏch trin khai vn , trỏnh nhn xột
chung chung
III.Kết quả thực nghiệm(Hiu qu ca sỏng kin kinh nghim
i vi hot ng giỏo dc, vi bn thõn, ng nghip v nh trng)

Ln 1 : Ngy thi : 15/ 1/ 2016
Cõu 1 (2.0 im)

T vn bn trong phn c hiu núi trờn, anh/ch hóy vit mt on vn
(khong 200 ch) trỡnh by suy ngh ca mỡnh v vn : Vn húa ch trớch
ca ngi Vit.
Ln 2: / Ngy thi : 25/ 3/ 2017
Cõu 1 (2.0 im): Vit 01 on vn (khong 200 ch) by t suy ngh
ca anh/ch v quan nim sng c th hin qua hai cõu th c nờu phn
c hiu: Gia th gii khụng nhiu may mn Ta hc cỏch va lũng vi
mỡnh
Ln 3: Ngy thi : 14/ 5/ 2017
Cõu 1 (2.0 im): T ni dung on trớch phn c hiu, anh/ch hóy
vit 01 on vn (khong 200 ch) trỡnh by suy ngh ca mỡnh v vai trũ
ca th ca i vi i sng con ngi?
Số Bit phõn bit
Điểm
0- Điểm 0,75 Điểm
Điểm
Ln
bi
vn/
onvn
kim
bài
0,5
-> 1,0
1,25
1,75
tra


35
5



%
12
3,4
%
5
1,4%

343
96,6%

170

47,9
%

120

33,8
%

55

15,
5%

C. Kết thúc vấn đề:
Lm vn l mt cụng vic khú nhc, khụng ch ũi hi ngi vit s
am hiu ch ngha, nng lc t duy, vn hiu bit m cũn th thỏch trỡnh
to lp vn bn v c nhõn cỏch, cỏ tớnh ca ngi cm bỳt. Rốn luyn k nng
vit on vn ngh lun xó hi theo nh hng thi mi l nhng thao tỏc,
k nng quan trng lm nờn trỡnh to lp vn bn ca ngi lm vn. Vit
on vn không phi l công việc mi, song vic luyện tập cho
học sinh hon thnh k nng vit nh th no cho có hiu qu
thì không phi giáo viên no cng chú ý lm. Trong thc t rt
nhiu giáo viên ch coi trng vit cung cp lý thuyt on vn m cha
chỳ trng vic việc luyện tập k nng cho học sinh cha khai thác
ht vai trò ca thao tác này ny. Mun có c iu ó, ph
thuc rt nhiu vo tâm huyt ca ngi giáo viên .
Hiểu biết tri thức, rèn luyện nhân cách cho học sinh, đó
cũng là mục đích cao đẹp của mỗi giờ dạy học văn nói
chung trong nhà trờng phổ thông. Đó cũng là mong muốn bất
cứ ngời thầy, ngời cô dạy Văn nào. Và đó cũng là mục tiêu
cao đẹp của giáo dục: Đánh thức năng lực nhạy cảm, phán
đoán đúng nhất; phát triển nhân cách... và để làm đợc
điều này hãy tìm ra một phơng pháp cho phép giáo viên
dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn (Akômexki). Với suy
nghĩ đó, tôi đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu đổi mới phơng
pháp, nhằm nâng cao hiệu quả của các giờ dạy của bộ môn
Ngữ văn tạo hứng thú cho học sinh trong học tập. Khiến các
em thấy thêm yêu thích những giờ học Văn, không còn thấy tẻ
nhạt, chán ngắt và lê thê. Những cách làm ấy tuy nhỏ, nhng
nó đã phần nào trả lại vị trí xứng đáng của môn Ngữ văn
trong lòng học sinh ở trờng phổ thông hiện nay. Những
trình bày của bản thân tôi còn nhằm giúp cho giáo viên và
học sinh bổ sung kiến thức về tạo lập văn bản, nâng cao

thi Trung hc ph thụng Quc gia nm 2017 mụn Ng vn, Nxb i hc
Quc gia H Ni.
5. Cỏc trang mng xó hi.

21


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH
GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN
XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả:
Hà Thị Hương
Chức vụ và đơn vị công tác: Trường THPT Lam Kinh

TT

Tên đề tài SKKN

1

Con người cô đơn trong thơ Tú
Xương
Rèn luyện kĩ năng đặt câu hỏi
trong giờ văn
Rèn luyện kĩ năng khai thác
nhịp điệu trong dạy thơ
Rèn luyện kĩ năng sử dụng lời
kể, ngôi kể trong dạy văn tự sự

Sở GD &ĐT

C

2005 - 2006

Sở GD &ĐT

B

2005 - 2006

Sở GD &ĐT

C

2007 - 2008

Sở GD &ĐT

C

2008 - 2009

Sở GD &ĐT

C

2009 – 2010


Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôi
kể, lời kể trong dạy văn tự sự
Nâng cao chất lượng sinh hoạt
tổ chuyên môn qua chuyên đề
dạy học trên trường học kết nối

Sở GD &ĐT

C

2011 – 2012

Sở GD &ĐT

C

2012 – 2013

Sở GD &ĐT

C

2013 – 2014

Sở GD &ĐT

C

2014 - 2015


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status