Rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội gắn với nội dung phần đọc hiểu cho học sinh THPT - Pdf 44

MỤC LỤC
MỤC LỤC...................................................................................................................................1
I. MỞ ĐẦU.................................................................................................................................2
II. NỘI DUNG............................................................................................................................5
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ..................................................................................................19

1


I. MỞ ĐẦU.
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông hiện nay
được thực hiện theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, xem
học sinh là trung tâm. Một trong những nội dung đổi mới là việc chú trọng văn
nghị luận xã hội. Văn nghị luận xã hội được đưa vào dạy trong chương trình
những năm gần đây và là một câu hỏi bắt buộc trong đề thi tốt nghiệp THPT
Quốc gia.
Đề nghị luận xã hội có thể về một hiện tượng đời sống, hoặc một tư tưởng
đạo lý được rút ra từ một câu chuyện, một đoạn văn, một đoạn thơ…có ý nghĩa
thực tiễn trong đời sống và trong xã hội. Từ đó ta rèn cho học sinh ý thức tự tu
dưỡng, biết yêu thương, quý trọng gia đình, thầy cô, bạn bè; bồi dưỡng lòng yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội; biết hướng tới những tình cảm cao đẹp như lòng
nhân ái, vị tha, lòng tự trọng, tự tin; tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng,
biết căm ghét cái xấu, cái ác, từ đó dần hình thành cho các em tư duy sáng tạo,
năng lực cảm thụ các giá trị Chân – Thiện – Mỹ trong nghệ thuật và trong đời
sống.
Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại ngày nay, các cổng thông tin được mở
rộng: ti vi, máy tính, điện thoại, internet với các trò chơi games, mạng xã hội
facebook, zalo…cuốn nhiều học sinh vào vòng xoáy đam mê, suốt ngày chìm
đắm. Sách vở - món quà tinh thần không thể thiếu với thế hệ 7x, 8x không còn
sức hấp dẫn với thế hệ 9x, 2000 nếu không muốn nói dường như bị lãng quên.

Với đề tài này chúng tôi có những mục đích nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất: Từ thực tiễn đáp ứng yêu cầu của Kỳ thi tốt nghiệp THPT
Quốc gia đòi hỏi học sinh phải nắm vững kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội
để trả lời được câu hỏi thuộc phần Làm văn với thang điểm 2.0.
Thứ hai: Giúp các em biết cách xây dựng đoạn văn đảm bảo hoàn chỉnh
về mặt nội dung và hình thức, rèn luyện cho các em kĩ năng viết đoạn văn theo
bố cục 3 phần: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
Thứ ba: Mỗi đoạn văn đều tập trung làm rõ một chủ đề, một ý chính,
trong quá trình viết giúp học sinh nắm vững các kiểu đoạn văn: diễn dịch, quy
nạp, song hành, tổng – phân – hợp…
Thứ tư: Đoạn văn nghị luận xã hội thường đề cập một vấn đề “nổi cộm”
trong đời sống đang được quan tâm (bệnh vô cảm, bệnh thành tích, hiện tượng
tâm lý đám đông…) hay một tư tưởng đạo lý có ý nghĩa thực tiễn (lòng nhân ái
sẻ chia, lòng biết ơn…). Vì lẽ đó quá trình rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị
luận xã hội sẽ góp phần hình thành, bồi dưỡng nhân cách, giúp các em phân định
rõ đúng – sai, tốt – xấu, phải – trái…, phát triển óc sáng tạo, nuôi dưỡng tâm hồn
các em hướng tới những giá trị thực, giá trị đúng có ý nghĩa trong thực tế đời
sống hiện nay.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
- Đối tượng nghiên cứu là học sinh trung học phổ thông, chủ yếu là học
sinh khối lớp 12.
- Đối tượng cụ thể được tiến hành thực nghiệm là học sinh lớp 12A1,
12A6 trường THPT Ngọc Lặc.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
4.1. Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
Để hình thành kĩ năng viết đoạn văn nghị luận xã hội một cách thuần thục,
nhuần nhuyễn bước đầu giáo viên ôn tập lại cho học sinh lý thuyết về văn nghị
luận xã hội, lý thuyết về đoạn văn. Từ đó giúp học sinh học, tìm hiểu cách xây
dựng đoạn văn, bố cục đoạn văn, viết câu chủ đề…
Học sinh là chủ thể trong quá trình học tập để phát huy tính tích cực, chủ

trong đời sống xã hội. Nếu học văn nghị luận văn học trong nhà trường, người
học được tiếp cận với cuộc sống qua lăng kính sáng tạo của nhà văn, thì học văn
nghị luận xã hội người học được trực tiếp trải nghiệm với cuộc đời qua lăng kính
của chính mình.
Văn nghị luận xã hội có tính thời sự, những vấn đề nóng của xã hội rất dễ
trở thành đối tượng khai thác, từ đó giúp người học bộc lộ quan điểm, thái độ,
nhân sinh quan của mình.
Văn nghị luận xã hội đòi hỏi phương thức nghị luận riêng, phải biết kết
hợp các thao tác lập luận giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, bác bỏ…
một cách hợp lý.
Trong nhà trường THPT tập trung vào hai kiểu bài văn nghị luận xã hội:
Thứ nhất: Nghị luận về một tư tưởng đạo lý là bàn bạc về một vấn đề
thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, quan điểm nhân sinh (như các vấn đề về đạo
đức, về tâm hồn, nhân cách; về các quan hệ gia đình xã hội, cách ứng xử; lối
sống của con người trong xã hội…)[3]
Thứ hai: Nghị luận về một hiện tượng đời sống là kiểu bài nghị luận bàn
về một hiện tượng đang diễn ra trong thực tế đời sống xã hội, mang tính chất
thời sư, thu hút sự quan tâm của mọi người. Hiện tượng đời sống có thể là hiện
tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hay đáng chê, cũng có trường hợp vừa có mặt tốt
vừa có mặt xấu[3]
1.2. Đoạn văn:
Đoạn văn là một phần của văn bản, diễn đạt một ý hoàn chỉnh về mặt nội
dung, được bắt đầu từ chữ cái viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ chấm xuống dòng
[2]
4

Trong trang này:
- Ở mục 1.1: đoạn “Nghị luận là một thể loại …” được trích nguyên văn từ TLTK số 1; Đoạn
“ Thứ nhất …” và “ Thứ hai …” được tham khảo từ TLTK số 3.
- Ở mục 1.2: đoạn “ đoạn văn là một phần …” được trích từ TLTK số 2.

cầu người học phải hiểu rõ bản chất của một đoạn văn nghị luận xã hội, vì thế cơ
sở lí luận về văn nghị luận xã hội và đoạn văn là rất cần thiết.
2. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ.
2.1. Thuận lợi:
Làm văn nghị luận xã hội không còn xa lạ với học sinh, các em đã được
làm quen những năm gần đây. Dạng đề quen thuộc là viết bài văn nghị luận xã
hội về một tư tưởng đạo lý hoặc một hiên tượng đời sống.
2.2. Khó khăn:
- Về phía giáo viên: Việc cung cấp kiến thức cho học sinh gặp nhiều khó
5

Trong trang này: các đoạn sau: “ Đoạn văn diễn dịch …”, “Đoạn văn quy nạp …”, “ Đoạn
phân tích …”, “ Đoạn văn song hành …”, “ Đoạn văn móc xích …” được trích từ TLTK số 4

6


khăn vì số tiết quy định trong chương trình có giới hạn ( chỉ có 1 tiết dạy
bài “Nghị luận về một tư tưởng đạo lý” - tiết 3 PPCT và 1 tiết dạy bài “Nghị
luận về một hiện tượng đời sống” – tiết 13 PPCT). Thời gian đó chỉ đủ để giáo
viên giới thiệu kiểu bài, dạng đề và cách làm sơ lược. Thêm vào đó tư liệu về
nghị luận xã hội không phong phú như nghị luận văn học nên nguồn cung cấp
tài liệu tham khảo cho học sinh còn hạn chế.
- Về phía học sinh:
+ Đối tượng học sinh THPT nói chung ở độ tuổi mới lớn, chưa tiếp xúc
nhiều với thực tế cuộc sống xã hội đa chiều, vốn kiến thức xã hội còn ít ỏi. Do
đó cách nhìn nhận vấn đề chưa thật chuẩn, đôi khi lệch lạc nên để hiểu đúng,
hiểu sâu và bàn luận thấu đáo về một vấn đề xã hội là điều không đơn giản.
+ Trường THPT Ngọc Lặc là một trường miền núi, đa phần là học sinh
dân tộc thiểu số, cuộc sống còn nhiều khó khăn, việc học chưa được đầu tư đúng

SL

%

12A1

40

0

0

6

15,0

29

72,
5

5

12,5

12A6

44

0

Theo đề thi mẫu kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia của Bộ Giáo dục và
Đào tạo, phần nghị luận xã hội sẽ lấy một ý nhỏ hoặc một vấn đề có liên quan
trong phần đọc – hiểu để làm đề thi viết đoạn văn khoảng 200 chữ. Nếu vậy yêu
cầu học sinh phải đọc kỹ bài đọc – hiểu, nắm được nội dung chính, từ đó xác
định đề bàn về vấn đề gì, thuộc về tư tưởng đạo lý hay hiện tượng đời sống để
có cách làm phù hợp.
Ví dụ: Xác định dạng đề nghị luận xã hội cho các đề bài sau:
Đề 1: Cho đoạn thơ sau:
“Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa
Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn
Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
Trong hồn người có ngọn sóng nào không”
( Trích Tổ quốc nhìn từ biển – Nguyễn Việt Chiến)
Câu hỏi phần Nghị luận xã hội: Từ nội dung của đoạn thơ trên, em hãy
viết một đoạn văn ngắn ( khoảng 200 chữ) để trả lời cho câu hỏi “Trong hồn
người có ngọn sóng nào không”.
Đề 2: Đọc văn bản sau:
Tâm lý đám đông – Hiện tượng tâm lý kỳ thú
Các nhà tâm lý học đã làm thí nghiệm như sau: Họ cho hai nhóm thanh
niên, mỗi nhóm khoảng hai mươi người vào hai phòng tách biệt. Họ mang đến
cho hai nhóm đó cùng một thứ nước uống tinh khiết. Nhóm thứ nhất, chỉ được
mời nước, không được giải thích gì thêm. Nhóm thứ hai, trong số hai mươi

(khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng tâm lý đám đông
trong giới trẻ hiện nay?
Ta thấy đề 1 thuộc về tư tưởng đạo lý, học sinh nhận diện nhờ câu thơ
được trích dẫn từ đoạn thơ liên quan đến tư tưởng, đạo lý: trách nhiệm của mỗi
người Việt Nam với chủ quyền biển đảo Tổ Quốc. Đề 2 về một hiện tượng đời
sống đề cập đến một vấn đề đang diễn ra trong đời sống hiện tại: hiện tượng tâm
lý đám đông trong giới trẻ.
3.2. Rèn luyện kĩ năng xác định luận điểm cho đoạn văn nghị luận xã
hội.
PGS.TS Đỗ Ngọc Thống quan niệm: “Luận điểm chính là linh hồn của
đoạn văn nghị luận”.
- Luận điểm là quan điểm, tư tưởng của người viết đối với vấn đề nghị
luận (luận đề) trong bài văn, được thể hiện dưới hình thức những câu văn có tính
khái quát, có thể được xem như câu chủ đề của đoạn văn.
9


- Để đạt được mục đích nghị luận, bày tỏ quan điểm, tư tưởng của người
tạo lập văn bản, bài văn nghị luận nhất thiết phải có luận điểm.
Như vậy có thể thấy việc xác định luận điểm cho đoạn văn nghị luận xã
hội rất quan trọng, có thể xem là “xương sống”, là sợi chỉ đỏ định hướng cho cả
đoạn văn.
Đối với đề nghị luận dễ , người ra đề nêu sẵn luận điểm (tức là loại đề đã
có gợi ý về luận điểm).
Ví dụ: Đề số 2: Viết một đoạn văn nghị luận xã hội (khoảng 200 chữ)
trình bày suy nghĩ của anh/chị về hiện tượng tâm lý đám đông trong giới trẻ hiện
nay?
Ở đề bài này ta có thể dễ dàng xác định ngay được luận điểm là “hiện
tượng tâm lý đám đông trong giới trẻ hiện nay”.
Đối với đề nghị luận khó, luận điểm chưa được tường minh ngay trên bề

cứ.
- Thứ ba, luận cứ phải tiêu biểu.Thứ tư, luận cứ phải đủ để đáp ứng yêu
cầu chứng minh toàn diện cho luận điểm.
3.3.1. Với dạng đề nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lý:
Các luận cứ thường được sử dụng là:
a. Trước tiên cần bày tỏ quan điểm cá nhân về câu nói, ý kiến được dẫn:
đúng hay không đúng, tán thành hay không tán thành.
b. Giải thích ý nghĩa câu nói (vấn đề).
Yêu cầu:
- Chỉ giải thích những từ ngữ, hình ảnh có vấn đề, còn ẩn ý hoặc chưa rõ
nghĩa.
- Giải thích vế câu (nếu có), giải thích ý nghĩa cả câu.
- Nên dựa vào nội dung phần đọc – hiểu để giải thích ý nghĩa, tránh suy
diễn một cách tùy tiện. Vì có những câu nói khi đứng độc lập thì sẽ có ý nghĩa
khác so với khi đặt trong văn cảnh.
- Nếu đề bài không trích dẫn câu nói thì chỉ cần giải thích ngắn gọn khái
niệm/ vấn đề cần bình luận.
c. Phân tích, bình luận, chứng minh từng ý lớn, nhỏ (chú ý dung lượng
chỗ nào cần đi sâu, chỗ nào cần điểm qua):
- Lí giải làm sáng tỏ vấn đề.
Có thể đưa ra dẫn chứng phù hợp để tăng sự thuyết phục nhưng cần ngắn
gọn, chính xác, nhấn mạnh vào khía cạnh ứng dụng của dẫn chứng đối với vấn
đề đang chứng minh. Đưa dẫn chứng phải kèm theo thái độ, quan điểm đánh giá
rõ ràng.
- Đưa ra phản đề để mở rộng vấn đề, bày tỏ quan điểm đồng tình hay
không đồng tình.
d. Rút ra bài học nhận thức và hành động.
Yêu cầu:
Bài học phải được rút ra từ chính tư tưởng, đạo lí mà đề bài yêu cầu bàn
luận.

4.1. Với dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lý:
Đề 1(áp dụng ở lớp 12A1):
Từ nội dung của đoạn thơ trên, em hãy viết một đoạn văn ngắn ( khoảng
200 chữ) để trả lời cho câu hỏi “Trong hồn người có ngọn sóng nào không ?”.
a. Nhận diện và phân tích đề:
Đây là dạng đề nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lý.
Đoạn thơ xây dựng hình ảnh Tổ quốc Việt Nam trong một góc nhìn mới nhìn từ biển đảo quê hương. Trong góc nhìn đó, đất nước Việt Nam hiện lên với
biết bao đau thương mất mát không chỉ vì thiên nhiên dữ dội mà vì cả những kẻ
thù xâm lược đang lăm le bờ cõi biển đảo nước ta.
Đoạn thơ đã đánh thức trong tâm hồn chúng ta về những ngọn sóng: trách
nhiệm của mỗi người với Tổ quốc nhìn từ góc độ biển đảo.

12


b. Xác định luận điểm chính (câu chủ đề của đoạn):
Câu thơ “Trong hồn người có ngọn sóng nào không ?” thể hiện sự trăn trở
của tác giả về ý thức trách nhiệm của mỗi con người Việt Nam đối với Tổ quốc
từ góc nhìn về biển đảo quê hương.
c. Xác định các luận cứ để biện luận, chứng minh cho luận điểm:
- Trả lời cho câu hỏi với tính chất khẳng định: Trong tâm hồn mỗi người
con đất Việt luôn thường trực những ngọn sóng tình cảm yêu thương, biết ơn và
gìn giữ chủ quyền biển đảo, hòa bình Tổ quốc.
- Giải thích hình ảnh “ngọn sóng” trong hồn người: là những con sóng
lòng, con sóng tình cảm, ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với biển đảo Tổ
quốc
- Bình luận, chứng minh:
+ Trong lịch sử khi “Tổ quốc đang bão giông từ biển” có một phần máu
thịt dân tộc nằm lại ở Hoàng Sa, những đau thương từ trận chiến bãi đá Gạc Ma
với 64 chiến sỹ hải quân VN hy sinh.

2/5 – 16/7/2014) phía Trung Quốc buộc phải rút về giàn khoan phi pháp. Những
minh chứng lịch sử đó là sợi chỉ đỏ để bạn và tôi - thanh niên Việt Nam thời đại
mới sống có lý tưởng, nhiệt huyết, đoàn kết, góp phần giữ gìn chủ quyền biển
đảo. Câu thơ đánh thức trong ta thông điệp về tình yêu Tổ Quốc và sứ mạng
công dân, đúng như lời Bác Hồ căn dặn: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu
nước…Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi,
nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy
hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.
Đoạn văn được trình bày theo kiểu quy nạp: Bài làm của học sinh Lê
Thị Ngọc Anh lớp 12A1:
Đất nước ta từ khi sinh ra đã được bao bọc bởi biển cả bao la. Người dân
gắn với biển như một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Biển cho ta cá, cho
ta cuộc sống, cho ta tình yêu. Biển trở thành một phần cuộc sống của con người.
Biển yên, lòng người sẽ yên, còn biển động lòng người làm sao yên ổn. Ngày
nay, những biến đổi khí hậu hay những tác động do con người làm biển không
ngày nào hoàn toàn yên ả. Con người mang trong mình nỗi lo mất biển, mất đi
tình cảm sắt son đã có từ khi dựng nước. Khi Tổ quốc lâm nguy, biển đảo bị đe
dọa, rình rập thì lòng người cũng mang nặng nỗi đau. Chúng ta yêu biển, sẵn
sàng chiến đấu, xả thân vì biển. Nỗi đau trận chiến Gạc Ma với 64 chiến sĩ hải
quân hi sinh vẫn còn đó, niềm vui khi Trung Quốc phải rút về giàn khoan phi
pháp HD – 981 vẫn để lại dư âm. Tình yêu biển trong tâm hồn người Việt là
ngọn sóng bất diệt, trỗi dậy vì tình yêu biển cả, vì tinh thần dân tộc. Ngọn sóng
ấy luôn thường trực trong lòng mỗi con người và mang trong đó tình yêu quyết
chiến để bảo vệ vùng biển quê hương. Thật đau đớn nếu chúng ta mất biển. Biển
còn động thì lòng người còn dậy sóng. Hôm nay, ngày mai và mãi mãi không ai
có thể thay đổi tình yêu biển của mỗi trái tim Việt Nam. Những điều đó là câu
trả lời mạnh mẽ cho câu hỏi của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến trong bài thơ “Tổ
quốc nhìn từ biển”: “ Trong hồn người có ngọn sóng nào không”.
Đoạn văn viết theo kiểu tổng – phân – hợp: Bài làm của học sinh
Nguyễn Thị Ánh Tuyết lớp 12A1:

của anh/chị về hiện tượng tâm lý đám đông trong giới trẻ hiện nay? (lưu ý: gắn
với văn bản phần đọc – hiểu như đã trình bày ở trên).
a. Nhận diện và phân tích đề:
Đây là dạng đề nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống: hiện tượng
tâm lý đám đông trong giới trẻ hiện nay
b. Xác định luận điểm chính (câu chủ đề của đoạn):
Luận điểm chính là hiện tượng tâm lý đám đông trong giới trẻ hiện nay.
c. Xác định các luận cứ để biện luận, chứng minh cho luận điểm:
- Nêu thái độ, đánh giá về hiện tượng: hiện tượng tâm lý đám đông trong
giới trẻ hiện nay ngày càng trở nên phổ biến và cần được quan tâm.
- Thực trạng, các biểu hiện cụ thể:
+ Tâm lý đám đông có sức mạnh riêng của nó và để lại tác hại nghiêm
trọng.
+ Nhiều người a dua, chạy theo đám đông bất kể việc đó tốt hay xấu (bình
luận trên mạng xã hội theo số đông, hùa theo để nói xấu, thậm chí bạo lực với
người khác: clip bạo lực học đường được đưa lên mạng, lan truyền những tin
đồn gây hiệu quả nghiêm trọng, chọn ngành học, công việc theo số đông mà
không theo khả năng và đam mê của mình…
+ Họ chiếm ưu thế về số lượng nhưng không có sự liên kết thực sự nên
không tạo nên sức mạnh bền vững mà chỉ là sức mạnh nhất thời.
- Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên:
+ Nói ra ý kiến riêng mà khác với số đông thì sợ lạc lõng, khác người, bị
chê cười.
+ Do các bạn trẻ chưa có kinh nghiệm sống và kiến thức xã hội.
+ Sự bùng nổ thông tin như hiện nay, nhất là mạng xã hội cũng góp phần
tiếp tay cho các bạn thể hiện cảm xúc của mình trong tích tắc.
- Hậu quả: Tác hại của lối sống chạy theo đám đông: hình thành thói
quen xấu chỉ biết làm theo người khác, biến mình thành những người thiếu bản
lĩnh, dễ bị lôi kéo, kích động, mất đi cá tính riêng, thiếu tính tiên phong.
- Biện pháp khắc phục, bài học nhận thức và hành động:

Đoạn văn viết theo kiểu tổng – phân – hợp: Bài làm của học sinh Phạm
Thị Hương lớp 12A6:
Hiện tượng tâm lý đám đông trong giới trẻ hiện nay rất phổ biến, là một
vấn đề “nóng” được quan tâm. Hiện tượng này xảy ra khi có một đám đông cùng
cư xử như nhau bất kể đúng – sai, tốt – xấu. Điển hình như trên mạng xã hội có
những hiện tượng nổi như cồn với hình ảnh lố bịch như “Tùng Sơn”, “Thánh
Sò” được nhiều thanh niên chia sẻ. Có rất nhiều việc do a dua, “vào hùa” làm
theo đám đông như nói xấu, tẩy chay, lan truyền tin đồn xấu, thậm chí đua nhau
bạo lực với bạn bè rồi quay clip tung lên mạng… Họ theo đám đông làm điều
xấu mà không chút ăn năn vì cái chậc lưỡi: “Kệ, ai cũng làm thế mà!”. Tâm lý
này bén rễ trong suy nghĩ của nhiều người, đặc biệt là giới trẻ vì sợ lạc lõng,
khác người. Một phần cũng do chưa được trải nghiệm, thiếu kiến thức xã hội.
Thêm nữa, sự bùng nổ thông tin, nhất là mạng xã hội cũng góp phần tiếp tay cho
các bạn thể hiện cảm xúc của mình trong tích tắc. Vì vậy, các bạn dễ bị cuốn
theo “tâm lý đám đông”, trở nên thiếu bản lĩnh, dễ bị lôi kéo làm mất đi cá tính
riêng. Nhưng một khi đã phân biệt rõ phải - trái hãy can đảm thực thi những giá
trị nhân bản, không ngừng nâng cao nhân phẩm, đạo đức để thoát khỏi ảnh
17


hưởng “một chiều” của đám đông, đừng quá coi trọng đến sự đánh giá của dư
luận. Bạn và tôi - những thanh niên thời đại mới hãy biến tâm lý đám đông
thành sức mạnh, dám cống hiến, bày tỏ chính kiến và sẵn sàng đem sức mình
xây dựng một xã hội hiện đại, văn minh.
KẾT QUẢ KHẢO SÁT:
Sau khi tiến hành hướng dẫn, rèn luyện kĩ năng cho học sinh, kết quả thu
được có nhiều khả quan, phần lớn học sinh đã hiểu rõ vấn đề, làm bài khá thuần
thục, trôi chảy. Con số thống kê cụ thể như sau:
Lớp


37,5

18

45,0

0

0

12A6

44

2 4,5

12

27,2

28

63,8

2

4,5

Qua đây, có thể nhận thấy: học sinh đã nắm được kĩ năng viết đoạn văn
nghị luận xã hội có nội dung gắn với phần văn bản đọc – hiểu, số học sinh khá –

Trịnh Thị Hương.
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 2, Nxb. GD, 2012.
2. Sách giáo khoa Ngữ văn 8, tập 1, Nxb. GD, 2009.
3. Tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi của Sở giáo dục và đào tạo Thanh Hóa
(Tài liệu lưu hành nội bộ).
4. Trang website thutrang.edu.vn.

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status