Một số biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 11 trường THPT quan sơn 2 rèn luyện kỹ năng viết đoạn văn nghị luận trên con đường chinh phục kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia 2018 - Pdf 43

I: Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Trong trường học, Ngữ Văn là môn học rất quan trọng vì là môn học góp
phần giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng hoàn thiện nhân cách học sinh. Mỗi bài thơ, bài
văn, mỗi tác phẩm văn học trong chương trình học phổ thông là một bài học đạo
đức dành cho học sinh. Nếu không học môn Ngữ Văn thì làm sao thế hệ trẻ ngày
nay hiểu được những tấm gương chiến đấu ngoan cường của những chiến sĩ cách
mạng, những người đã hy sinh xương máu nhằm giành lại độc lập, tự do để bao
thế hệ ngày sau được sống yên vui, hạnh phúc? Nếu không học môn Ngữ văn thì
làm sao học sinh hiểu rõ cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, một bậc vĩ nhân tài đức vẹn toàn được cả thế giới kính phục? Học Văn
chính là cách học làm người. Môn Văn thật sự là môn học quan trọng giúp cho học
sinh học tốt các môn học khác.
Trong đó, rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn cho học sinh THPT là vấn đề hết
sức quan trọng và cần thiết trong việc học văn nói chung và việc rèn luyện kĩ năng
làm văn nói riêng. Đoạn văn là một phần của văn bản, hay nói cách khác, nó là
đơn vị ngôn ngữ lớn thứ hai sau văn bản, góp phần cấu tạo nên văn bản. Chính bởi
vậy mà đoạn văn rời rạc, mắc nhiều lỗi,… thì không thể có một văn bản hay;
ngược lại, học sinh có kĩ năng viết đoạn văn chặt chẽ, mạch lạc... thì hiển nhiên
văn bản các em tạo lập được sẽ là một văn bản đáp ứng tốt mọi yêu cầu.
Việc rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn giúp các em biết vận dụng các loại văn
bản để phục vụ cho học tập và trong đời sống. Qua việc tiếp thu những kiến thức
của môn Ngữ văn, HS vận dụng sáng tạo, tổng hợp để có thể nói hoặc viết theo
những yêu cầu, những đề tài khác nhau, những kiểu văn bản khác nhau mà cuộc
sống đặt ra cho các em. Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn, các em đồng thời được
ôn luyện, củng cố về kiến thức văn học, được rèn luyện các nội dung về Từ ngữ,
Ngữ pháp như: từ loại, cụm từ, các biện pháp tu từ, các kiểu câu... Từ đó có thể đạt
kết quả cao trong khi làm bài kiểm tra hay bài thi.
Vậy mà những năm gần đây hiện tượng giáo viên và cả học sinh xem nhẹ
môn Văn ngày càng trở nên phổ biến. Có nhiều lý do khiến cho học sinh ngày nay
xem nhẹ môn Ngữ văn. Phần lớn các em nghĩ học giỏi môn Ngữ văn khó chọn

sao cho đủ ý, bố cục rõ ràng không lan man tránh mất điểm. Đề đọc hiểu và nghị
luận xã hội có sự tích hợp theo hướng vận dụng cao. Điều này gây ra không ít lo
lắng băn khoăn trong khi làm bài của các em học sinh.
Đặc biệt, căn cứ vào đề thi minh họa môn Ngữ văn của Bộ GD và ĐT, giáo
viên và học sinh đều không khó nhận ra vai trò của việc viết đoạn văn nghị luận.
Phần Đọc hiểu sẽ kiểm tra, đánh giá học sinh ở các cấp độ: nhận biết, thông hiểu,
vận dụng thấp và vận dụng cao. Trong đó, mức độ kiểm tra từ dễ đến khó, có một
câu yêu cầu học sinh viết một đoạn văn ngắn nhằm đưa ra cảm nhận về tác dụng
của biện pháp tu từ, thao tác lập luận; hoặc ý nghĩa của một hình ảnh, từ ngữ; hoặc
thông điệp, bài học từ ngữ liệu đã cho;…
Trong phần Làm văn sẽ có hai câu. Câu 1(nghị luận xã hội) yêu cầu viết
đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) có sự tích hợp nội dung với văn bản đọc. Câu 2
(nghị luận văn học) yêu cầu học sinh có kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học.
Bài văn hay, đạt điểm cao chỉ khi lập luận chặt chẽ, hành văn trong sáng, mạch lạc,
không mắc lỗi. Để đạt được điều đó học sinh cần rèn luyện từ chính tả, từ câu,...
đặc biệt là đoạn. Bửi đoạn là đơn vị lớn thứ hai sau văn bản. Sẽ không có văn bản
hay nếu đoạn văn nghị luận rời rạc, lộn xộn, không có sự liên kết, không đảm bảo
về nội dung và hình thức.
Chính vì vậy việc rèn luyện cho học sinh cách viết đoạn văn là điều rất cần
thiết để sở hữu kỹ năng viết tốt, chinh phục những điểm số cao trong các bài thi
nhất là trong kì thi tốt nghiệp THPT Quốc gia. Để đạt được điều đó, các em không
chỉ rèn luyện, ôn thi cấp tốc khi học lớp 12 hay mấy tháng cuối trước khi thi mà là
kết quả của cả quá trình “văn ôn, võ luyện”. Với những băn khoăn, trăn trở nảy
sinh trong quá trình giảng dạy và ôn thi tốt nghiệp THPT Quốc gia, tôi viết SKKN:
“Một số biện pháp hướng dẫn học sinh khối 11 trường THPT Quan Sơn 2 rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận trên con đường chinh phục kỳ thi tốt
nghiệp THPT Quốc gia năm 2018”.
2



dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đúng ở đầu
hoặc cuối đoạn văn. Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng
tỏ chủ đề của đoạn.
Có thể thấy về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức
độ nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối
dễ dàng. Mỗi đoạn văn trong văn bản diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặt
chẽ với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản. Mỗi đoạn trong văn bản có
một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhất định: đoạn mở
đầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản (các đoạn này triển khai chủ đề của
văn bản thành các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản. Mỗi đoạn văn
bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nội dung của đoạn tương
đối hoàn chỉnh, hình thức của đoạn có một kết cấu nhất định.
Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể
hiện ở những điểm sau: mỗi đoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa hai dấu
chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phép
liên kết; mỗi đoạn văn khi mở đầu, chữ cái đầu đoạn bao giờ cũng được viết hoa
và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn.
Để trình bày một đoạn văn cần phải sử dụng các phương pháp lập luận.
Lập luận là cách trình bày luận cứ dẫn đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ hợp
lí thì đoạn văn, bài văn mới có sức thuyết phục.
Trong văn bản, nhất là văn nghị luận, ta thường gặp những đoạn văn có
kết cấu (cách lập luận) phổ biến: diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp... bên cạnh
đó là cách lập luận suy luận nhân quả, suy luận tương đồng, suy luận tương phản,
đòn bẩy, nêu giả thiết…
Đoạn diễn dịch là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể. Câu chủ đề
mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai những nội
dung chi tiết cụ thể ý tưởng của chủ đề đó. Các câu triển khai được thực hiện
bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm những
nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết.
Đoạn quy nạp là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch - đi từ các ý chi

câu phải phục vụ chủ đề chung của đoạn văn (Liên kết chủ đề). Các đoạn văn và
các câu phải được sắp xếp theo trình tự hợp lí (Liên kết lôgic).
Về hình thức: Các câu, các đoạn văn phải được liên kết với nhau bằng
một số biện pháp chính như: Phép lặp (Lặp lại ở đầu câu đứng sau từ ngữ đã có
ở câu trước). Phép thế (Sử dụng ở câu đứng sau từ ngữ có tác dụng thay thế từ
ngữ đã có ở câu trước). Phép nối (Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ biểu thị
quan hệ với câu trước). Phép đồng nghĩa, trái nghĩa và liên tưởng (Sử dụng ở
câu đứng sau các từ ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với
từ ngữ đã cho ở câu trước).
Tất cả những kiến thức lí thuyết trên là cơ sở để tôi thực hiện đề tài sáng
kiến kinh nghiệm này. Bên cạnh đó tôi cũng khảo sát thực trạng kĩ năng viết
đoạn văn nghị luận của học sinh lớp 11 ở trường THPT Quan Sơn 2 để có giải
pháp thực hiện hợp lí, hiệu quả.

5


2.2. Thực trạng của vấn đề.
Vào đầu các năm học, nhà trường bao giờ cũng khảo sát chất luợng học
tập các môn Toán, Ngữ văn để phân loại học sinh, có kế hoạch bồi dưõng học
sinh khá giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém. Kết hợp với kết quả khảo sát chất
luợng, trong các giờ học đầu năm học, tôi thường kiểm tra kĩ năng viết đoạn của
học sinh qua các bài tập nhỏ sau các tiết văn học bằng cách cho học sinh viết
đoạn văn nêu cảm nhận về tác phẩm, nhân vật, chi tiết trong tác phẩm.
Một số bài tập tôi dùng để kiểm tra:
+ Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em sau khi học đoạn trích Chí khí anh
hùng của Nguyễn Du?
+ Em hãy viết đoạn văn diễn dịch trình bày cảm nhận của em về nhân vật
Ngô Tử Văn trong tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản viên” của Nguyễn
Dữ?

TS

%

11A1

42

0

0%

12

28,6%

20

47,6%

10

23,8%

11A2

35

0


2.3. Một số biện pháp giải quyết thực trạng.
2.3.1. Giải pháp 1: Củng cố kiến thức về đoạn văn cho học sinh:
2.3.1.1. Khái niệm:
Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi
đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương
đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành.
Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ
ngữ được dùng làm đề mục hoặc được lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ,
các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung
khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đúng ở đầu hoặc
cuối đoạn văn. Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ
đề của đoạn.
2.3.1.2. Các cách trình bày nội dung trong đoạn văn.
Cách diễn dịch: là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể. Câu chủ
đề mang ý nghĩa khái quát đứng ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai những
nội dung chi tiết cụ thể ý tưởng của chủ đề đó. Các câu triển khai được thực
hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm
những nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết.
Cách qui nạp: là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch - đi từ các ý chi
tiết, cụ thể đến ý khái quát. Câu chủ đề nằm ở cuối đoạn. Các câu trên được
trình bày bằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh
giá chung.
Cách tổng phân hợp: là sự phối hợp diễn dịch với quy nạp. Câu mở đoạn
nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kết đoạn là
ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. Những câu khai triển
được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận
xét hoặc nêu cảm tưởng, để từ đó đề xuất nhận định đối với chủ đề, tổng hợp lại,
khẳng định thêm giá trị của vấn đề.
Đó là những kiến thức cơ bản học sinh đã học từ THCS. Tôi đã củng cố
ngay cho học sinh sau khi vào lớp 10 và đầu lớp 11 qua các buổi học phụ đạo

chuyện được trích dẫn ở phần đọc hiểu : NGƯỜI ĂN XIN
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi
môi tái nhợt áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi. Tôi lục hết túi nọ đến túi kia,
không có lấy một xu, không có cả khăn tay, chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi
chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run nắm chặt lấy bàn tanóng hổi của ông:
– Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả. Ông nhìn tôi chăm
chăm đôi môi nở nụ cười: Cháu ơi,cảm ơn cháu!Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
Khi ấy tôi chợt hiểu ra: cả tôi nữa tôi cũng vừa nhận được một cái gì đó của ông.
(Theo Tuốc- ghê- nhép)
Với đề bài này, học sinh cần hiểu ý nghĩa câu chuyện, xác định vấn đề
nghị luận và thao tác lập luận chủ yếu: HS tự do bày tỏ cảm nhận của bản thân:
- Có thể HS trình bày về giá trị của tình yêu thương, sự đồng cảm trong cuộc
sống.
- Có thể HS trình bày bài học về một thái độ, cách ứng xử, ý thức cho và nhận
của con người trong cuộc sống
- Có thể HS trình bày lời chia sẻ với những số phận bất hạnh…
Về hình thức:
Thứ nhất : Đề bài yêu cầu viết đoạn văn 200 chữ, học sinh cần trình bày
trong 1 đoạn văn ( không được ngắt xuống dòng ), dung lượng an toàn khoảng
2/3 tờ giấy thi ( khoảng trên dưới 20 dòng viết tay), có thể nhiều hơn 1 vài dòng

8


cũng không bị trừ điểm. Đoạn văn cần diễn dạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả,
dùng từ, đặt câu.
Thứ hai: Đoạn văn phải đảm bảo bố cục ba phần: Đặt vấn đề - Giải quyết
vấn đề - Kết thúc vấn đề.
Thứ ba: Đoạn văn sử dụng các thao tác lập luận: Giải thích - Phân tích Chứng minh - Bình luận - Bác bỏ - Bình luận mở rộng. Diễn đạt phải trong sáng,
không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp.


9


Viết câu kết của đoạn văn: Câu kết của đoạn có nhiệm vụ kết thúc vấn đề.
Dù đoạn văn dài hay ngắn thì câu kết cũng giữ vai trò quan trọng, để lại ấn
tượng cho người đọc. Câu kết có thể nêu cảm xúc cá nhân, mở rộng vấn đề (nêu
bài học chung), hoặc tóm lược vấn đề vừa trình bày.
Cấu trúc đoạn 200 chữ theo yêu cầu đề thi minh họa hiện nay của Bộ GD
và ĐT: Câu mở đoạn: Giới thiệu vấn đề (khoảng 2 - 4 dòng).
Các câu phát triển đoạn (12 - 16 dòng): Vận dụng các thao tác:
- Giải thích (Câu nói nêu lên vấn đề gì?)
- Lí giải (Vì sao lại nói như thế?)
- Dẫn chứng (Họ đã làm thế nào?)
- Bình luận (Vấn đề đúng hay sai hay vừa đúng vừa sai?)
- Bác bỏ (Hiện tượng trái ngược cần phê phán là gì?)
Câu kết đoạn: Rút ra bài học (Bản thân và mọi người cần phải làm gì?) (2
- 4 dòng).
Các bước trên là những thao tác cần có để viết được một đoạn văn hoàn
chỉnh cả nội dung lẫn hình thức, đáp ứng yêu cầu của đề. Tuy nhiên không phải
học sinh nào cũng thực hiện đủ các thao tác trên khi làm bài. Điều này giáo viên
phải thường xuyên nhắc nhở để tạo thành thói quen cho học sinh. Đặc biệt để
hình thành kĩ năng cho học sinh một cách thành thạo cần tăng cường rèn luyện
qua việc thực hành viết đoạn văn cho các em một cách có hệ thống từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp.
2.3.3. Giải pháp 3: Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận cho học sinh bằng
các dạng bài tập.
2.3.3.1. Dạng bài tập nhận biết
Mục đích của bài tập là cung cấp cho học sinh các dạng đoạn văn cụ thể,
trên cơ sở đó các em nhận biết được mô hình cấu trúc đoạn, từ ngữ chủ đề, câu

Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
Tuổi hai mươi làm sao không tiếc?
Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ Quốc?
(Trường ca “Những người đi tới biển” – Thanh Thảo)
Gợi ý: Đoạn văn có các ý sau :
+ Câu mở đầu dẫn dắt vấn đề : Những câu thơ trên của Thanh Thảo nhắc nhở thế
hệ trẻ chúng ta hôm nay: Bất cứ thời đại nào, mỗi con người chúng ta nhất là thế
hệ thanh niên cũng luôn phải ý thức vai trò trách nhiệm của mình đối với đất
nước.
+ Các ý chính của đoạn : có thể tham khảo một số gợi ý sau :
- Thế hệ trẻ phải xác định tư tưởng, tình cảm, lí tưởng sống của mình
– Yêu quê hương đất nước, tự hào tự tôn dân tộc, có ý thức bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ của dân tộc
– Lao động, học tập để khẳng định bản lĩnh, tài năng cá nhân và phục vụ cống
hiến cho đất nước, sẵn sàng có mặt khi Tổ Quốc cần.
- Phải rèn luyện sức khỏe để có khả năng cống hiến và bảo vệ đất nước
- Quan tâm theo dõi đến tình hình chung của đất nước, tỉnh táo trước hành động
của mình không bị kẻ xấu lợi dụng
- Thời đại ngày nay, thanh niên cần lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các
hành vi vi phạm xâm phạm chủ quyền biển, hải đảo thiêng liêng của Tổ Quốc
11


+ Câu cuối bàn bạc mở rộng vấn đề, nhấn mạnh trách nhiệm của thanh niên với
đất nước.
Ta có đoạn văn sau :
Những câu thơ trên của Thanh Thảo nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta hôm
nay: Bất cứ thời đại nào, mỗi con người chúng ta nhất là thế hệ thanh niên cũng
luôn phải ý thức vai trò trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trước tiên thế
hệ trẻ phải xác định tư tưởng, tình cảm, lí tưởng sống của mình: yêu quê hương

Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về
ý kiến được nêu trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu: “Leo lên đỉnh cao là để các
em có thể nhìn ngắm thế giới chứ không phải để thế giới nhận ra các em.”
Gợi ý:

12


Mở đoạn: Câu mở đoạn có thể dùng 1-3 câu để mở đoạn (giống như phần
mở bài vậy). Phần này phải có cái nhìn tổng quát, khái quát được nội dung mà
đề bài yêu cầu. Phải hiểu được đề thi bàn về vấn đề gì? Nên viết theo hướng:
nêu nội dung khái quát rồi dẫn câu nói vào (hoặc không dẫn nguyên câu thì trích
vào cụm từ khóa). Ví dụ theo đề trên ta có thể viết như sau: Thành công luôn là
khao khát của mỗi con người trên hành trình chinh phục những ước mơ và khát
vọng - nhưng khi lên đến đỉnh của thành công, điều quan trọng nhất vẫn là để
“ngắm nhìn thế giới” chứ không phải là để cho ai đó nhận ra mình.
Thân đoạn: Phải giải thích các cụm từ khóa, giải thích cả câu (cần ngắn
gọn, đơn giản). Bàn luận: Đặt ra các câu hỏi - vì sao - tại sao - sau đó bình luận,
chứng minh từng ý lớn, ý nhỏ. Đưa ra dẫn chứng phù hợp, ngắn gọn, chính xác
(tuyệt đối không kể chuyện rông dài, tán gẫu, sáo rỗng). Đưa ra phản đề - mở
rộng vấn đề - đồng tình, không đồng tình. Rút ra bài học nhận thức và hành
động
Kết đoạn: Viết kết đoạn thường kết lại bằng một danh ngôn hay câu nói
nổi tiếng.
Bài tập 4: Đề thi thử của trường THPT chuyên Đại học vinh
Để theo đuổi ước mơ của mình, bạn phải hành động. Nếu không, bạn sẽ
mất cơ hội. Hãy chủ động hành động thay vì để cuộc đời đưa đẩy bạn. Nếu
không có được những gì bạn muốn, thì hãy chủ động tạo ra những gì bạn muốn.
Đấng Sáng Tạo sẽ thắp sáng con đường bạn đi. Vận may của cả đời bạn, cánh
cửa của những ước mơ đang mở ra. Con đường dẫn tới mục đích sống có thể

Ý kiến khẳng định: cách thức để tuyên truyền, cổ vũ mọi người cùng
thực hiện một nhiệm vụ, hành động, phương châm sống đúng đắn không phải
chỉ bằng những triết lý, lời nói suông mà quan trọng là phải bằng việc làm,
hành động cụ thể, thiết thực.
Bàn luận: "Không có những khẩu hiệu được đóng khung trên tường"
vì: Khi ấy khẩu hiệu mới chỉ là lý thuyết, chưa được hiện thực hóa thành
hành động và chưa được kiểm chứng trong thực tiễn. Nhiều lúc, nó chưa đủ
sức mạnh tác động làm thay đổi nhận thức, hành động để mỗi người tự
nguyện làm theo. Khẩu hiệu được đóng khung bất biến, trong khi thực tiễn lại
phong phú, sinh động, nảy sinh nhiều tình huống phức tạp. Vì vậy, trong một số
hoàn cảnh cụ thể, nếu chỉ làm theo khẩu hiệu một cách cứng nhắc, máy móc
thì hiệu quả công việc sẽ không cao.
Phải "tạo ra những khẩu hiệu từ chính các hành động của mình" vì: Bằng
hành động thực tiễn thì những nhiệm vụ, yêu cầu đặt ra trong khẩu hiệu mới trở
thành hiện thực. Và qua thực tế đời sống thì khẩu hiệu mới được kiểm chứng, từ
đó sẽ khái quát được những triết lý, phương châm hành động đúng đắn. Hành
động đúng đắn có ý nghĩa thiết thực và hiệu quả trên thực tế. Vì vậy, nó có tác
dụng nêu gương, khích lệ, thuyết phục, cổ vũ mọi người tạo thành phong trào
hành động được nhân rộng trong xã hội. So với khẩu hiệu được đóng khung, thì
hành động trong thực tiễn có tính linh hoạt, từ đó có khả năng thay đổi, điều
chỉnh để phù hợp với các hoàn cảnh cụ thể khác nhau của đời sống. Do đó, hiệu
suất công việc sẽ cao hơn.
Mở rộng: Nhận định không đồng nghĩa với việc phủ định vai trò của các
khẩu hiệu trong đời sống. Không phải bất cứ hành động nào cũng tạo nên "khẩu
hiệu". Chỉ có những hành động đúng đắn, tác động tích cực đến bản thân và
cộng đồng mới có sức tuyên truyền, định hướng, cổ vũ mọi người làm theo. Rút
ra bài học nhận thức và hành động đúng đắn, phù hợp.

14


mưa, lâu dần theo thời gian hàng triệu năm, nước bào mòn các hoà tan thành
hang động vĩ đại. Với "siêu hang động" Sơn Đoòng, câu chuyện ở một hướng
khác.
Sơn Đoòng nằm trên một đường đứt gãy hướng Bắc - Nam, chính trục
đứt gãy này tạo điều kiện cho hang động lớn nhất thế giới này hình thành một
cách mạnh mẽ qua dòng chảy không gì cản được của dòng nước lũ và bào mòn
thành hang động tuyệt vời mà các nhà khoa học gọi là "Một vũ trụ bị bỏ quên
nằm ẩn mình trong một hệ sinh thái độc đáo. Điều này không được tìm thấy ở
bất kỳ nơi nào khác trên hành tinh này".
(Theo dulich.dantri.com.vn ngày 17/05/2015)
Từ nội dung của đoạn trích trên, anh/chị hãy viết một đoạn văn khoảng 5 7 câu bày tỏ cảm xúc và suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân đối với các danh
thắng thiên nhiên của đất nước.
Đề 3:
Viết 1 đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh (chị)
về quan niệm của tác giả, trong đoạn trích phần Đọc hiểu: “nếu bạn muốn sống
15


một đời mà không phạm chút sai lầm nào, làm gì được nấy, thì đó hoặc là bạn ảo
tưởng, hoặc là bạn hèn nhát trước cuộc đời”.
Đề 4:
“Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người
ngại núi e sông. Xưa nay những đấng anh hùng làm nên những việc gian nan
không ai làm nổi, cũng là nhờ cái gan mạo hiểm, ở đời không biết cái khó là cái
gì. […] Còn những kẻ ru rú như gián ngày, làm việc gì cũng chờ trời đợi số, chỉ
mong cho được một đời an nhàn vô sự, sống lâu giàu bền, còn việc nước việc
đời không quan hệ gì đến mình cả. Như thế gọi là sống thừa, còn mong có ngày
vùng vẫy trong trường cạnh tranh này thế nào được nữa. Hãy trông những
bọn thiếu niên con nhà kiều dưỡng, cả đời không dám đi đâu xa nhà, không dám
làm quen với một người khách lạ; đi thuyền thì sợ sóng, trèo cao thì sợ run



Viết đoạn văn ngắn (khoảng 200 chữ), trình bày suy nghĩ của anh (chị) về
trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt ở giới trẻ ngày nay.
KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỦA HỌC SINH HAI LỚP 11 TRƯỜNG THPT QUAN
SƠN 2 SAU KHI TRIỂN KHAI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:

Khối lớp

Tổng
số học
sinh

Đầu
năm

11A1

42

11A2

35

Cuối
năm

11A1

42

0

0%

12

28,4%

20

47,6%

10

23,8%

0%

10

28,6%

18

51,4%

7

20%


0

So với kết quả khi chưa thực hiện đề tài, kết quả có thay đổi rõ rệt, tỉ lệ
khá giỏi tăng, tỉ lệ trung bình, yếu giảm. Dưới đây là thống kê số liệu tăng giảm
cụ thể:
Nhìn vào bảng so sánh đối chứng ta thấy sau khi thực hiện đề tài số học
sinh đạt điểm giỏi của lớp 11A1 tăng 4,7%, lớp 11A2 tăng 0%. Số học sinh đạt
điểm khá của 11A1 tăng 19,2%, 11A2 tăng 5,7%. Số học sinh đạt điểm trung
bình 11A1 giảm 4,8%, 11A2 tăng 5,7% . Số học sinh bị điểm yếu của 11A1
giảm 18,9%, 11A2 giảm 11,4%.
Kết quả như trên đã nằm ngoài dự kiến và mong muốn của người thực
hiện đề tài. Mong rằng kết quả này sẽ được tiếp tục khẳng định qua những kì thi
trong các năm học tới.

17


Phần 3: Kết luận và kiến nghị
3.1. Kết luận
Sáng kiến kinh nghiệm được rút từ thực tế giảng dạy, qua quá trình hướng
dẫn học sinh khối 11 trường THPT Quan Sơn 2 kĩ năng viết đoạn văn nghị luận.
Những giải pháp thực hiện đã giúp học sinh nhất là đối tượng học sinh có học
lực từ trung bình trở xuống có kĩ năng viết đoạn văn, bài văn nghị luận.
Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp hướng dẫn học sinh khối 11
trường THPT Quan Sơn 2 rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận trên con
đường chinh phục kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia năm 2018” đã giúp các
em có kĩ năng viết đoạn thành thạo, dần viết hay thì cũng nâng cao kĩ năng viết
bài làm văn nghị luận xã hội và nghị luận văn học. Các kĩ năng viết đoạn trong
phạm vi đề tài này đều là những kĩ năng có thể sử dụng hiệu quả khi viết các
đoạn văn ngắn trong đề thi, hay các đoạn văn trong phần thân bài của bài nghị

luận, NXB Giáo dục.
4. Nguyễn Quang Ninh (1997), 150 bài tập rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văn,
NXB Giáo dục.
5. Phan Trọng Luận (chủ biên), Sách giáo khoa Ngữ Văn 11 (tập1, tập 2), NXB
Giáo dục.
6. Trần Đình Sử (2006), Luyện viết bài văn hay, NXB Giáo dục.

DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP SỞ GD&ĐT

TT
1.

Tên đề tài SKKN
Sử dụng bản đồ tư duy trong

Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
Năm học
giá xếp loại
xếp loại đánh giá xếp
(Phòng, Sở,
(A, B,
loại
Tỉnh...)
hoặc C)
Cấp Sở
C

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép của người khác.
Người viết

Nguyễn Mạnh Cường

Phạm Thị Phương Thảo

20


21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status