Hướng dẫn học sinh lớp 10 trường THPT quan sơn 2 giải các bài tập địa lý tự nhiên đại cương trong ôn thi học sinh giỏi - Pdf 43

I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài nghiên cứu.
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, vấn đề cơ bản nhất là
xây dựng và hoàn thiện con người thông qua hoạt động giáo dục và tự giáo
dục. Đảng, nhà nước và nhân dân đã tin tưởng và giao trọng trách cao quý cho
ngành giáo dục: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”
đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước trong thời
kỳ hội nhập hiện nay để đáp ứng lòng mong muốn của Bác xây dựng đất nước
Việt Nam đoàng hoàng hơn, to đẹp hơn sánh vai với các cường quốc năm châu.
Nhiệm vụ của ngành giáo dục là đào tạo những con người lao động mới có đủ
tài năng, trí tuệ để tiếp thu những thành tựu khoa học kĩ thuật và công nghệ
tiên tiến của thế giới áp dụng vào việc phát triển kinh tế của đất nước. Từng
bước đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp mới. Để làm được điều đó
thì ngành giáo dục nói chung và mỗi người giáo viên nói riêng phải từng bước
đổi mới phương pháp giảng dạy, không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của bản thân. Việc bồi dưỡng nhân tài là một nhiệm vụ
rất quan trọng của ngành giáo dục và của mỗi người giáo viên. Bồi dưỡng nhân
tài phải được thực hiện sớm từ bậc tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thông. Việc bồi dưỡng nhân tài ở bậc trung học phổ thông được thể hiện ở bồi
dưỡng học sinh giỏi, trong đó có bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lí.
Thực tế môn Địa lí ít được nhiều người chú ý nhưng đây lại là một môn
học tương đối khó, để dạy tốt và học tốt môn Địa lí ở trường phổ thông là một
việc khó, thì việc phát hiện và dạy học sinh giỏi môn Địa lí lại càng khó hơn
gấp bội, đòi hỏi cả Thầy và Trò phải có một phương pháp dạy và học tập đúng
đắn, kết hợp với lòng nhiệt tâm cao thì mới đạt kết quả cao. Học sinh giỏi môn
Địa lí không giống như học sinh giỏi của các môn học khác, học sinh giỏi môn
Địa lí lại càng không phải là giỏi thuộc các bài Địa lí là được mà các em phải
có kiến thức các bộ môn khoa học tự nhiên như; Toán, Lí, Hóa, Sinh. Bởi vì kĩ
năng Địa lí cần phải có sự hỗ trợ của các môn học này. Đặc biệt là bộ môn
Toán học.
Là giáo viên giảng dạy môn Địa lí cấp trung học phổ thông, tôi có tham

chuyên gia.
Phương pháp toán học: xử lý thông tin, số liệu thu thập bằng định tính, định
lượng.

2


II. NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi, Giáo viên cần chú trọng khơi gợi
động cơ học tập giúp các em thấy được sự mâu thuẫn giữa những điều chưa biết
với khả năng nhận thức của mình, phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh
trong việc lĩnh hội tri thức. Tình huống này phản ánh một cách lôgíc và biện
chứng trong quan niệm nội tại của bản thân các em. Từ đó kích thích các em
phát triển tốt hơn. Con người chỉ bắt đầu tư duy tích cực khi nảy sinh nhu cầu
tư duy khi đứng trước một khó khăn cần phải khắc phục. Vì vậy giáo viên cần
phải để học sinh thấy được khả năng nhận thức của mình với những điều mình
đã biết với tri thức của nhân loại.
Căn cứ vào quy luật phát triển nhận thức và hình thành các đặc điểm tâm lí
thì từ những lớp cuối của cấp THCS, học sinh đã bộc lộ thiên hướng, sở trường
và hứng thú đối với những lĩnh vực kiến thức, kĩ năng nhất định. Một số học
sinh có khả năng và yêu thích với các môn khoa học tự nhiên, số khác lại thích
thú với các môn khoa học xã hội, nhân văn khác. Ngoài ra còn có những học
sinh thể hiện năng khiếu trong những lĩnh vực đặc biệt…
Thực tế giảng dạy cho thấy phần đông học sinh sẽ yêu thích môn học nếu
được thầy định hướng chỉ bảo tận tình. Để giúp các em ôn thi học sinh giỏi tốt
hơn giáo viên cần tạo cho học sinh hứng thú học tập. Cần cho học sinh thấy
được nhu cầu nhận thức là quan trọng, con người muốn phát triển cần phải có
tri thức cần phải học hỏi. Qua đó người thầy cần biết phân loại, định hướng và
có các biện pháp phát triển phù hợp với học sinh.

7
Lương Thị Hương
9,0
8
Phạm Bá Nhiệm
12,5
KK
9
Lê Biên Cương
10,0
10
Lương Thị Nga
12,0
KK
3


Các bài giảng ôn thi học sinh giỏi môn Địa lí chưa thật sự phổ biến trong
thư viện nhà trường nên quá trình học tập, giảng dạy của giáo viên và học sinh
còn gặp nhiều khó khăn. Môn Địa lí là môn học khó (vừa có kiến thức tự nhiên
vừa có kiến thức xã hội). Không phải là môn học thuộc lòng nên học sinh chưa
thật sự yêu thích. Học sinh chưa nhận thức đúng, chưa có phương pháp học tập
thích hợp.
2.3. Các giải pháp giải quyết vấn đề.
2.3.1. Đối với học sinh
Để tự tin và học giỏi môn Địa lí trong nhà trường, học sinh cần có
phương pháp học tập sao cho khoa học, hợp lý như:
Đọc và soạn bài kỹ trước khi đến lớp. Chú ý ghi lại những từ ngữ quan
trọng, những vấn đề còn chưa rõ trong bài để khi đến lớp khi nghe thầy cô
giảng bài học sinh sẽ tiếp thu nhanh hơn. Phải mạnh dạn hỏi ngay những gì

4


Giáo viên cần đánh giá học sinh một cách khách quan, chính xác, không
chỉ qua bài thi mà cả qua việc học tập bồi dưỡng hằng ngày. Việc lựa chọn
đúng không chỉ nâng cao hiệu quả bồi dưỡng, mà còn tránh bỏ sót học sinh
giỏi và không bị quá sức đối với những em không có tố chất.
- Xây dựng chương trình bồi dưỡng
Hiện nay có rất nhiều sách nâng cao và các tài liệu tham khảo, Internet,...
song chương trình bồi dưỡng chưa có sách hướng dẫn chi tiết, cụ thể từng tiết,
từng buổi học như trong chương trình chính khoá. Vì thế soạn thảo chương
trình bồi dưỡng là một việc làm hết sức quan trọng và rất khó khăn nếu như
chúng ta không có sự tham khảo, tìm tòi và chọn lọc tốt. Giáo viên cần soạn
thảo nội dung bồi dưỡng dẫn dắt học sinh từ cái cơ bản của nội dung chương
trình học chính khoá, tiến dần tới chương trình nâng cao (tức là trước hết phải
khắc sâu kiến thức cơ bản của nội dung học chính khoá, từ đó vận dụng để mở
rộng và nâng cao dần).
Cần soạn thảo chương trình theo vòng xoáy: Từ cơ bản tới nâng cao, từ
đơn giản tới phức tạp. Đồng thời cũng phải có ôn tập củng cố. Ví dụ: Cứ sau 2,
3 tiết củng cố kiến thức cơ bản và nâng cao thì cần có một tiết luyện tập để
củng cố kiến thức; và cứ sau 5, 6 tiết thì cần có một tiết ôn tập để củng cố khắc
sâu. Khi soạn thảo một tiết học chúng ta cần có đầy đủ những nội dung:
+ Kiến thức cần truyền đạt (lý thuyết, hay các công thức có liên quan
đến tiết dạy)
+ Bài tập vận dụng.
+ Bài tập về nhà luyện thêm (tương tự bài ở lớp).
2.3.3. Các dạng bài tập địa lí tự nhiên đại cương cần hướng dẫn cho học
sinh.
2.3.3.1. Dạng bài tập vận dụng hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của
Trái đất.

không có thực nhưng được quan sát thấy bằng mắt.
Nguyên nhân: Do Trái đất chuyển động quanh Mặt Trời, trục luôn nghiêng
về một phía không dổi nên nguời ta có ảo giác hàng năm mặt trời di động biểu
kiến giữa hai chí tuyến.
Dạng 2: Hiện tượng mùa và ngày đêm dài ngắn theo mùa
+ Hiện tượng mùa: Mùa là một phần thời gian của năm, có những đặc điểm
riêng về thời tiết và khí hậu. Một năm thường có 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.
Nguyên nhân : Do trục Trái đất nghiêng với mặt phẳng quỹ đạo của Trái
đất và trong suốt năm trục trái đất nghiêng không đổi phương trong quá trình
chuyển động, nên có thời kì BCB ngả về phía Mặt Trời, có thời kỳ BCN ngả về
phía Mặt Trời, làm cho thời gian chiếu sáng và thu nhận lượng bức xạ ở mỗi
bán cầu đều thay đổi trong năm.
+ Hiện tượng ngày đêm dài ngắn theo mùa
Nguyên nhân: khi chuyển động xung quanh Mặt Trời, trục trái đất nghiêng
không đổi phương trong quá trình chuyển động làm cho vị trí vòng phân chia
sáng tối thay đổi, gây ra hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ
độ.
2.3.4. Hướng dẫn học sinh giải các bài tập địa lí tự nhiên đại cương cụ thể.
2.3.4.1. Bài tập vận dụng hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái
Đất.
Dạng 1. Tính giờ
Bước1: Tính múi giờ
A thuộc bán cầu đông Kinh độ A:15= x
A thuộc bán cầu tây : (360- A):15 = y
Hoặc A:15 = x thì A thuộc múi 24-x
Bước 2: Áp dụng công thức : Tm = T0 + m
(1)
Trong đó Tm: giờ địa phương
T0 : giờ quốc tế
m: là múi giờ

Tây. Việt Nam ở múi giờ số 7.
+ Vậy thủ đô nước đó ở múi giờ 7 – 6 = 1 (múi giờ số 1).
- Cách 2:
+ Từ công thức (2) T0= Tm – m , ta có ở Việt Nam thuộc múi giờ số 7, lúc này
là 20 giờ, vậy lúc này giờ quốc tế sẽ là : T0 = 20 – 7 = 13 giờ.
+ Giờ của địa điểm khi hành khách xuất phát kém giờ tại Việt Nam là 6 giờ,
vậy khi đó tại thủ đô A là: 20 – 6 = 14 giờ
+ Vậy thủ đô lúc hành khách xuất phát ở múi giờ: m = T m – T0 = 14 – 13 = 1
(múi giờ số 1)
Dạng 2: Vận dụng lực Côriôlit.
Với dạng bài tập này, giáo viên cho học sinh quan sát bản đồ các dòng
biển trên thế giới, yêu cầu học sinh quan sát sự di chuyển của dòng biển
nóng,biển lạnh.
Bài tập áp dụng: Dựa vào bản đồ các dòng biển, hãy rút ra quy luật chung
và sự phân bố các dòng biển?
* Khái niệm : Nước ở đại dương chuyển động thành các dòng , tương tự dòng
sông trong lục địa đó là hải lưu (dòng biển)
* Nguyên nhân sinh ra : Do gió, nhiệt độ, độ mặn...
* Mô tả về các dòng biển:
- Các dòng biển nóng
+ Trong vùng nhiệt đới 2 bên xích đạo có những dòng hải lưu nóng chảy theo
hướng Tây - Đông.
+ Gặp lục địa các dòng biển nóng chuyển hướng về phía Bắc ở BCB và phía
Nam ở BCN nhưng lệch ít vì lực nhỏ
+ Đến vĩ độ 30 ảnh hưởng của lực Côriôlít mạnh dần nên lệch sang tay phải ở
BCB và tay trái ở BCN.
7


- Các dòng biển lạnh :

có 2 lần mặt trời lên thiên đỉnh
Số thời gian di chuyển hết: 8030’ x 60’ = 510’
Số ngày di chuyển hết: 510’ : 15,1 = 34 ngày
Lần 1: 21/3 + 34 ngày = ngày 24/4
Lần 2: 23/9 – 34 ngày = ngày 20/8
+ Tại TP Hồ Chí Minh: 10 047’B sẽ nằm trong vùng nội chí tuyến nên trong
năm sẽ có 2 lần mặt trời lên thiên đỉnh
Số thời gian di chuyển hết: 10047’ x 60’ = 647’
Số ngày di chuyển hết: 647’ : 15,1 = 43 ngày
Lần 1: 21/3 + 43 ngày = ngày 3/5
Lần 2: 23/9 – 43 ngày = ngày 10/8
+ Tại Đà Nẵng 16 0B sẽ nằm trong vùng nội chí tuyến nên trong năm sẽ có
2 lần mặt trời lên thiên đỉnh
Số thời gian di chuyển hết: 160 x 60’ = 960’
8


Số ngày di chuyển hết: 960’ : 15,1 = 64 ngày
Lần 1: 21/3 + 64 ngày = ngày 14/5
Lần 2: 23/9 – 64 ngày = ngày 21/7
+ Tại Hà Nội (21 0B) sẽ nằm trong vùng nội chí tuyến nên trong năm sẽ có
2 lần mặt trời lên thiên đỉnh
Số thời gian di chuyển hết: 210 x 60’ = 1260’
Số ngày di chuyển hết: 1260’ : 15,1 = 83 ngày
Lần 1: 21/3 + 83 ngày = ngày 12/6
Lần 2: 23/9 – 83 ngày = ngày 1/7
+ Tại Lạng Sơn (23 0B) sẽ nằm trong vùng nội chí tuyến nên trong năm sẽ
có 2 lần mặt trời lên thiên đỉnh
Số thời gian di chuyển hết: 230 x 60’ = 1380’
Số ngày di chuyển hết: 1380’ : 15,1 = 91 ngày

Bài tập 1: Cho 3 địa điểm sau đây: Hà Nội (210B), Tp Hồ Chí Minh
(10047'B), Buôn Ma Thuột (120 41’B).
9


a. Tính ngày Mặt trời lên thiên đỉnh ở Buôn Ma Thuột?
b. Tính góc nhập xạ của tia sáng Mặt trời ở Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh khi Mặt trời lên thiên đỉnh ở Buôn Ma Thuột?
Bài làm
a) Ngày Mặt Trời lên thiên đỉnh trong năm tại Buôn Ma Thuột vĩ độ 12 0
41’B.
Từ ngày 21/3 – 22/6 Mặt Trời chuyển động biểu kiến từ xích đạo lên Chí
tuyến Bắc đi được một góc = 23027’ (trong 93 ngày)
Vậy Mặt Trời sẽ chuyển động biểu kiến hết: 23027’ x 60’ = 1407’
Do đó khi chuyển động 93 ngày sẽ hết 1407’, vậy trong 1 ngày Mặt Trời sẽ di
chuyển hết: 1407 : 93 = 15,1’
+ Tại Buôn Ma Thuột: 12041’B sẽ nằm trong vùng nội chí tuyến nên trong
năm sẽ có 2 lần mặt trời lên thiên đỉnh
Số thời gian di chuyển hết: 12041’ x 60’ = 761’
Số ngày di chuyển hết: 761’ : 15,1 = 50 ngày
Lần 1: 21/3 + 50 ngày = ngày 10/5
Lần 2: 23/9 – 50 ngày = ngày 4/8
b) Góc nhập xạ tại Hà Nội và TP.HCM khi MT lên thiên đỉnh tại Buôn Ma
Thuột là:
- Ở Hà Nội:
Hà Nội: nằm phía Bắc của Buôn Ma Thuột góc nhập xạ được tính bằng công
thức sau:
hA = 900 - ϕA + α (α vĩ độ nơi Mặt Trời lên thiên đỉnh) ( ϕA là vĩ độ
cần tính)
Thay số:

φ D = 900 – h0 – δ = 900 – 43006’ – 23027’ = 23027’N.
2.3.4.3. Dạng bài tìm tọa độ địa lý
- Tọa độ địa lý của một điểm chính là vĩ độ và kinh độ của điểm đó
- Nắm các dữ kiện tính vĩ độ, kinh độ
Bài tập áp dụng
Bài tập 1: Xác định tọa độ địa lí của A (BCB) khi độ cao của Mặt Trời trên
đường chân trời tại A lúc 12h trưa ngày 22/6 là 41 030’B và ở Việt Nam
(1050Đ) lúc đó là 7h20’?
Bài làm
Xác định vĩ độ của A: Vào ngày 22/6 góc tới tại điểm A là 41 030’B nên
vị trí nằm ngoài chí tuyến Bắc: hA = 900 - ϕ + 23027’ ⇒ ϕA = 900 – h0 + 23027’ =
900 – 41033’ + 23027’ = 71057’B
Xác định kinh độ của A:
Giờ điểm A chênh lệch so với Việt Nam : 12h – 7h20’ = 4h40’
Số kinh độ chênh lệch: 4h40’ x 150 = 700
Do A có giờ sớm hơn Việt Nam nên nằm về phía đông so với Việt Nam
Kinh độ của A: λA = 1050 + 700 = 1750Đ
⇒ Tọa độ địa lý của A (71057’B, 1750Đ)
Bài tập 2: Xác định tọa độ của 2 điểm A và B khi biết : Khi giờ gốc là 20h
ngày 15/8/2016 thì ở các địa điểm đó lần lượt là 5g30’ngày 16/8/2016 và
14g15’ ngày 15/8/2016. Góc nhập xạ tại A vào lúc 12g ngày 22/6 là 61 003’, và
góc nhập xạ vào lúc 12g ngày 22/12 tại B là 49027’
Bài làm
- Xác định kinh độ
A có giờ sớm hơn giờ gốc nên A ở kinh độ Đông.
A có giờ sớm hơn giờ gốc: 9g30’.
+ Kinh độ A: 9g30’ x 150 =
1420 30’ Đ
B có giờ muộn hơn giờ gốc nên B ở kinh độ Tây.
B có giờ muộn hơn giờ gốc: 5g45’

2.3.4.4. Khai thác kiến thức từ hình ảnh.
- Bước 1: Cho học sinh quan sát tranh ảnh để xác định một cách khái quát nội
dung tranh ảnh cần khai thác.
- Bước 2: Giáo viên đặt câu hỏi, nêu vấn đề, tổ chức hướng dẫn học sinh tìm
hiểu nội dung từ tranh ảnh,lược đồ.
- Bước 3: Học sinh trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh ảnh ,lược đồ, sau
khi đã quan sát và nhận xét, kết hợp gợi ý của giáo viên và tìm hiểu nội dung
trong bài học.
- Bước 4: Giáo viên nhận xét, bổ sung nội dung trả lời của học sinh, hoàn thiện
nội dung khai thác tranh ảnh cung cấp cho học sinh
Bài tập 1:

a, Nêu tên của hình vẽ?
b, Xác định khu vực nào trên trái đất có hiện tượng mặt trời lên thiên đỉnh một
năm 2 lần, khu vực nào 1 lần, khu vực ngoại chí tuyến có hiện tượng mặt trời
lên thiên đỉnh không?
Bài làm
GV yêu cầu HS quan sát hình vẽ và xác định những nội dung trong hình
vẽ bao gồm: vĩ độ địa lí (xích đạo, chí tuyến bắc, chí tuyến nam), thời gian các
12


tháng trong năm (12 tháng), các ngày đặc biệt trong năm (21/3, 22/6, 23/9,
22/12) và đường chuyển động biểu kiến của Mặt Trời (đường biểu diễn). Sau
đó trả lời câu hỏi trên.
a. Hình vẽ mô tả đường biểu diễn chuyển động biểu kiến của Mặt Trời trong
năm.
Mặt Trời lên thiên đỉnh là hiện tượng xảy ra ở những địa điểm trong vùng
nội chí tuyến (từ chí tuyến Bắc (CTB) đến chí tuyến Nam (CTN) lúc 12h (giữa
trưa) Mặt Trời ở ngay trên đỉnh đầu của một điểm, tia sáng Mặt trời thẳng góc

a. Tên của hình vẽ: Các mùa theo dương lịch ở bán cầu Bắc
b. Hình vẽ mô tả các mùa theo dương lịch ở bán cầu Bắc.
- Mùa là một phần thời gian của năm, nhưng có những đặc điểm riêng về
thời tiết, khí hậu.
- Nguyên nhân gây ra các mùa là do trục Trái Đất nghiêng với mặt phẳng
quĩ đạo của Trái Đất và trong suốt năm, trục của Trái Đất không đổi phương
trong không gian, nên có thời kì bán cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời, có thời kì
bán cầu Nam ngả về phía Mặt Trời. Điều đó làm cho thời gian chiếu sáng và sự
thu nhận bức xạ Mặt trời ở mỗi bán cầu đều thay đổi trong năm.
Người ta chia 1 năm ra 4 mùa. ở bán cầu Bắc, thời gian bắt đầu và kết
thúc của các mùa của các nước theo dương lịch. Các nước theo dương lịch ở
bán cầu Bắc lấy 4 ngày: Xuân phân (21/3), hạ chí (22/6), thu phân (23/9), đông
chí (22/12) là bốn ngày khởi đầu của 4 mùa.
Bài tập 3:

a. Nêu tên hình vẽ?
b. GV yêu cầu học sinh mô tả sự chiếu sáng của Mặt Trời trên Trái Đất vào
ngày 22/6 và ngày 22/12, từ đó giải thích nguyên nhân và rút ra kết luận về
hiện tượng ngày, đêm dài ngắn khác nhau theo mùa và theo vĩ độ?
c. Giải thích ý nghĩa của câu tục ngữ Việt Nam :
“ Đêm tháng năm, chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười, chưa cười đã tối”
Bài làm
GV hướng dẫn học sinh nắm rõ các đối tượng được thể hiện trên hình vẽ
như trục Trái Đất, đường phân chia sáng tối, tia sáng Mặt Trời, các vĩ tuyến, kí
hiệu ngày và đêm. Sau đó GV yêu cầu học sinh mô tả sự chiếu sáng của Mặt
Trời trên Trái Đất vào ngày 22/6 và ngày 22/12, từ đó giải thích nguyên nhân
và rút ra kết luận về hiện tượng ngày, đêm dài ngắn khác nhau theo mùa và
theo vĩ độ.
14

Ngày 22/6( Hạ chí)
Ngày 22/12 (Đông chí)
Xích đạo
Ngày, đêm có độ dài bằng Ngày, đêm có độ dài bằng
nhau
nhau
Chí tuyến Bắc
Ngày dài hơn đêm
Ngày ngắn hơn đêm
Vòng cực Bắc
Ngày dài 24 giờ
Đêm dài 24 giờ
Chí tuyến Nam
Ngày ngắn hơn đêm
Ngày dài hơn đêm
Vòng cực Nam
Đêm dài 24 giờ
Ngày dài 24 giờ
c. Giải thích ý nghĩa câu tục ngữ:
+ Ý nghĩa của câu tục ngữ: khoảng thời gian trong câu tục ngữ là thường tính
theo âm lịch nên tháng 5 âm lịch tức là khoảng tháng 6 – 7 dương lịch có ngày
dài đêm ngắn. Còn tháng 10 âm lịch là khoảng tháng 11 – 12 dương lịch có
ngày ngắn đêm dài. Đây chính là hiện tượng ngày đêm dài, ngắn khác nhau
theo mùa do sự chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất.
+ Câu tục ngữ này chỉ đúng trong trường hợp ở bán cầu Bắc, còn ở bán cầu
Nam thì ngược lại.
+ Giải thích: Do Trái Đất chuyển đông xung quanh Mặt Trời và trong quá
trình chuyển động trục Trái Đất luôn nghiêng 66 033’ so với mặt phẳng Hoàng
15


10,0
4
Lộc Thị Ngoạn
9,5
5
Vi Thị Tiếng
9,5
6
Lò Văn Đức
12,0
KK
7
Lương Mạnh Cường
8,0
8
Vi Thị Nhung
10,5
9
Lò Văn Tú
8,0
10
Lương Hồng Lưu
9,0
Bảng số liệu học sinh tham gia dự thi học sinh giỏi lớp 10 năm học
2015 – 2016
Stt
Họ và tên
Điểm Giải
1
Nguyễn Thị Mai Nương 10,5

2016 – 2017
16


Stt
Họ và tên
Điểm Giải
1
Ngân Thị Dung
14,0
Ba
2
Lê Thị Thảo
12,0
KK
3
Lương Thị Tâm
12,5
KK
4
Lương Thị Dung
10,5
5
Khương Mai Linh
9,5
6
Hà Thị Xuyến
10,5
7
Lò Thị Hiền

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận
Qua những năm bồi dưỡng học sinh giỏi, tôi nhận thấy rằng: Người thầy cần
không ngừng học hỏi và tự học hỏi để nâng cao trình độ đúc rút kinh nghiệm,
thường xuyên xây dựng, bổ sung chương trình và sáng tạo trong phương pháp
giảng dạy.
Để đưa con thuyền đến bến bờ vinh quang thì vai trò của người cầm lái
thật vô cùng quan trọng. Muốn công tác bồi dưỡng học sinh giỏi có hiệu quả,
trước hết phải có giáo viên vững về kiến thức, kĩ năng thực hành... Thường
xuyên học hỏi trau dồi kiến thức, tích lũy được một hệ thống kiến thức phong
phú. Có phương pháp nghiên cứu bài, soạn bài, ghi chép giáo án một cách
thuận tiện, khoa học. Tham khảo nhiều sách báo, tài liệu có liên quan, giao lưu,
học hỏi các đồng nghiệp có kinh nghiệm và các trường có nhiều thành tích.
Thực sự yêu nghề, tâm huyết với công việc bồi dưỡng HS giỏi. Luôn thân
thiện, cởi mở với HS, luôn mẫu mực trong lời nói, việc làm, thái độ, cử chỉ, có
tấm lòng trong sáng, lối sống lành mạnh để HS noi theo. Học sinh cần có nhiều
loại sách để tham khảo. Luôn phối hợp với gia đình để tạo điều kiện tốt nhất
cho các em tham gia học tập.
Áp dụng sáng kiến này trong công tác bồi dưỡng HSG năm học 2016 –
2017 tôi đã tiến hành nghiên cứu và thấy được những kết quả khả quan. Nếu
được đầu tư kĩ lưỡng đây sẽ là một sáng kiến có tính ứng dụng thực tiễn cao
phục vụ thiết thực cho công tác giảng dạy thu hút được nhiều giáo viên có
niềm đam mê nghiên cứu về lĩnh vực này. Quan trọng hơn học sinh đã cảm
thấy hứng thú hơn với môn học, không bị áp lực bởi khối lượng kiến thức thi
học sinh giỏi mà chất lượng được nâng lên.
Tạo ra tâm thế hứng thú, thúc đẩy quá trình lĩnh hội tri thức môn học và
bồi dưỡng học sinh giỏi. Thông qua việc giải các bài tập địa lí tự nhiên phục vụ
công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi từ đó góp phần thúc đẩy tính
tích cực tư duy của học sinh, nâng cao chất lượng học tập. Nếu có nhiều hình
thức tổ chức dạy học kết hợp với đồ dùng dạy học sẽ trở lên hấp dẫn và người

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status