một số giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn hóa học lớp 10a1 trường thpt quan sơn 2 năm học 2012 - 2013 - Pdf 24

Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Phần 1: MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động sáng tạo, độc lập
tiếp thu tri thức là một vấn đề mà ngành giáo dục đã và đang quan tâm
trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là tổ
chức các hoạt động tích cực cho người học. Từ đó khơi dậy và thúc đẩy,
phát triển nhu cầu tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh trong tự thân của người
học từ đó phát triển, phát huy khả năng tự học của họ. Trước vấn đề đó
người giáo viên cần phải không ngừng tìm tòi khám phá, khai thác, xây
dựng hoạt động, vận dụng, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học
trong các giờ học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học
sinh, xây dựng cho học sinh một hướng tư duy chủ động, sáng tạo.
Bên cạnh đó, vấn đề học sinh yếu kém hiện nay cũng được xã hội
quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này, để đưa nền giáo dục
đất nước ngày một phát triển toàn diện thì người giáo viên không chỉ phải
biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính tích cực
của học sinh.
Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với không ít giáo viên nhưng
ngược lại, giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân
mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại giúp cho
học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức. Để nâng dần
chất lượng học sinh không phải là chuyện một sớm một chiều mà nó đòi
hỏi phải có sự kiên nhẫn và lòng quyết tâm của người giáo viên. Phụ đạo
học sinh yếu kém phải được giáo viên quan tâm nhất là trong tình hình học
tập hiện nay của học sinh, nhưng phụ đạo như thế nào, phương pháp ra sao
thì đó cũng là một vấn đề đòi hỏi giáo viên phải không ngừng tìm hiểu.
Việc phụ đạo học sinh yếu kém bộ môn là một trong những vấn đề
rất quan trọng, cấp bách, cần thiết và không thể thiếu trong mỗi môn học ở
các cấp học nói chung và ở cấp Trung học phổ thông nói riêng. Ở giai đoạn
này học sinh phải chuẩn bị kiến thức, kĩ năng vững vàng để chuẩn bị cho kì

khăn (nếu có) nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
3. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Trang 2
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
+ Nghiên cứu lí luận : nghiên cứu các tài liệu, các trang web, bài
viết,….có liên quan
+ Nghiên cứu thực nghiệm : Tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu kém
môn Hóa lớp 10A1 và đưa ra giải pháp phụ đạo.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI.
4.1. Đối tượng nghiên cứu :
Các giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn Hóa học lớp 10A1.
4.2. Khách thể :
Học sinh lớp 10A1 trường THPT Quan Sơn 2.
5. GỈA THUYẾT VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.
5.1. Giả thuyết.
- Đề tài nghiên cứu: Các giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn Hóa
học lớp 10A1 trường THPT Quan Sơn 2
- Nếu đề tài thành công có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên nhằm
giúp học sinh yêu thích môn học hơn và nâng cao chất lượng giáo dục.
5.2. Giới hạn đề tài nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong phạm vi:
- Tìm hiểu các nguyên nhân học sinh yếu kém môn Hóa
- Các giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn Hóa lớp 10A1.
6. KẾ HOẠCH TIẾN HÀNH ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU.
STT Thời gian Nội dung công việc
1 Tháng 08 năm 2012 Lập đề cương
2 Tháng 09 năm 2012 Xây dựng cơ sở lí thuyết của đề tài
3
Tháng 09 và 04 năm
2013

lại, lười suy nghĩ, không chuẩn bị bài ở nhà, trong giờ học thì lơ là không tập
trung, làm giảm khả năng tư duy của học sinh.
2. XÁC ĐỊNH, PHÂN LOẠI HỌC SINH YẾU KÉM.
- Căn cứ 1: Điểm bộ môn Hóa của năm học, tham khảo thêm điểm một số môn
học có liên quan ví dụ như Toán, Lý, Sinh.
- Căn cứ 2: Không thể dựa hoàn toàn vào điểm bộ môn của năm học qua mà
phải kết hợp với những biểu hiện và quá trình học tập trên lớp, các con điểm
thường xuyên hiện tại…
3. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN YẾU, KÉM CỦA HỌC SINH.
3.1. Về phía học sinh
Trang 4
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Học sinh là người học, là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên
nhân học sinh yếu kém có thể kể đến là do :
- Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, bản thân nhận thấy rằng
các em học sinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý
chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài, không
làm bài tập, cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường. Còn một bộ phận nhỏ thì
các em không xác định được mục đích của việc học. Các em chỉ đợi đến khi lên
lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học sau đó về nhà
lấy vở ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên điều gì, ý nghĩa của
nó ra làm sao. Chưa có phương pháp và động cơ học tập đúng đắn.
- Học sinh không có thời gian cho việc tự học: Đa số học sinh của
trường đều ở xa trường, gia đình chủ yếu là sống bằng nghề trồng trọt, sống phụ
thuộc vào rừng núi, các em ở nhà phải phụ giúp gia đình việc, làm nan, làm
nương, làm rảy, chăn nuôi; thậm chí có học sinh phải đi làm thêm trái buổi để
kiếm tiền ăn học.
- Học sinh bị hỏng kiến thức từ lớp nhỏ: Đây là một điều không thể phủ
nhận với chương trình học tập hiện nay. Nguyên nhân này có thể nói đến một
phần lỗi của giáo viên lớp dưới chưa đánh giá đúng trình độ của học sinh.

để tham gia các trò chơi vô bổ.
- Chưa tạo được nhiều công ăn việc làm có thu nhập ổn định tại địa
phương, chưa định hướng nghề nghiệp cho hộ gia định nơi cư trú. Dẫn đến
tình trạng ăn buổi sáng lo buổi tối, trời nắng đi làm trời mưa thì ở nhà. Dẫn
đến kinh tế gia đình không ổn định.
Trên đây là một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém
mà bản thân tôi nhận thấy trong quá trình công tác. Qua việc phân tích
những nguyên nhân đó, bản thân tôi đưa ra một số biện pháp, giải pháp để
giáo dục, phụ đạo học sinh yếu kém như sau:
4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN.
4.1. Giải pháp chung
4.1.1. Xây dựng môi trường học tập thân thiện.
Trang 6
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần để những biện pháp đạt hiệu
quả cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần gũi,
cảm giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn trong học tập,
trong cuộc sống của bản thân mình.
Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng,
không mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh
cảm thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng mình.
Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản hồi
tích cực. Ví dụ như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, động viên. Giáo
viên nên tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen
ngợi các em. Hoặc có thể dùng các phiếu thưởng có in các lời khen phù hợp với
từng việc làm của các em như: “Biết giúp đỡ người khác”, “ Thái độ nhiệt tình
và tích cực”…
4.1.2. Phân loại đối tượng học sinh.
Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những đặc
điểm vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm

Đồng thời, giáo viên phối hợp với gia đình giáo dục ý thức học tập của học sinh.
Do hiện nay, có một số phụ huynh luôn gò ép việc học của con em mình, sự áp
đặt và quá tải sẽ dẫn đến chất lượng không cao. Bản thân giáo viên cần phân tích
để các bậc phụ huynh thể hiện sự quan tâm đúng mức. Nhận được sự quan tâm
của gia đình, thầy cô sẽ tạo động lực cho các em ý chí phấn đấu vươn lên.
4.1.4. Kèm cặp học sinh yếu kém.
Tổ chức cho học sinh khá, giỏi thường xuyên giúp đỡ các bạn yếu, kém
về cách học tập, về phương pháp vận dụng kiến thức.
Tổ chức kèm cặp, phụ đạo cho các em. Trong các buổi này, tôi chủ yếu
kiểm tra việc lĩnh hội các kiến thức giảng dạy trên lớp, nếu thấy các em chưa
chắc, tôi tiến hành ôn tập củng cố kiến thức để các em nắm vững chắc hơn, nói
chuyện để tìm hiểu thêm những chỗ các em chưa hiểu hoặc chưa nắm chắc để bổ
sung, củng cố. Hướng dẫn phương pháp học tập: học bài, làm bài, việc tự học ở
nhà.
Trang 8
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Phối hợp với gia đình tạo điều kiện cho các em học tập, đôn đốc thực hiện
kế hoạch học tập ở trường và ở nhà.
4.2. Giải pháp cụ thể.
- Lập danh sách học sinh yếu kém thông qua bài kiểm tra chất lượng đầu
năm và quá trình học tập trên lớp.
- Điểm danh học sinh mỗi buổi học, ghi nhận và báo với GVCN những
trường hợp học sinh bỏ học phụ đạo để có biện pháp khắc phục.
4.2.1. Xác định kiến thức cơ bản, trọng tâm và cách ghi nhớ.
- Xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức nền (những kiến thức cơ bản,
có nắm được những kiến thức này mới giải quyết được những câu hỏi và bài
tập) trong tiết dạy cần cung cấp, truyền đạt cho học sinh.
- Đối với học sinh yếu kém không nên mở rộng, chỉ dạy phần trọng tâm,
cơ bản, làm bài tập nhiều lần và nâng dần mức độ của bài tập sau khi các em đã
nhuần nhuyễn dạng bài tập đó.

một cách gián tiếp thông qua hóa trị của những nguyên tố đã biết và áp dụng
công thức hóa trị:
b
y
a
x
BA
→ a.x = b.y
- Hóa trị của Hidro là I
- Hóa trị của Oxi là II
Ví dụ: Xác định hóa trị của lưu huỳnh (S) trong các hợp chất sau:
a) Na
2
S
Ta có: hóa trị của Na là I → I.2 = x.1 → x = 2 (Vậy hóa trị của S là II)
b) SO
3
:hóa trị của O là II → x.1 = II.3 → x = VI (Vậy hóa trị của S là VI)
* Đối với hợp chất:
- Hóa trị của một số gốc axit thường gặp
Gốc axit Tên Hóa trị Gốc axit Tên Hóa trị
SO
4
2-
sunfat II HCO
3
-
hidrocacbonat I
CO
3

4
Ta có: H có hóa trị I, oxi có hóa trị II
→ I.2 + b.1 = II.4 → b = VI (hóa trị của Lưu huỳnh là VI)
a) Xác định hóa trị của Lưu huỳnh trong hợp chất K
2
SO
3
Ta có: K có hóa trị I, oxi có hóa trị II
→ I.2 + b.1 = II.3 → b = IV (hóa trị của Lưu huỳnh là IV)
4.2.1.2. Dãy hoạt động hóa học của các nguyên tố.
Dãy hoạt động hóa học (tên gọi ở cấp THCS) cũng là một phần quan
trọng trong chương trình phổ thông. Giúp học sinh giải quyết được nhiều vấn đề:
Phản ứng của kim loại với axit, với muối có xảy ra hay không?, thứ tự phản ứng,
đặc biệt quan trọng ở chương trình lớp 12. Tuy vậy, rất nhiều học sinh không
nhớ được dãy hoạt động này, các em không xác định được kim loại nào đứng
trước kim loại nào. Từ đó dẫn đến việc không giải được các bài tập về hỗn hợp
kim loại tác dụng với dung dịch axit hoặc với muối
Dãy hoạt động hóa học của các kim loại :
K Ba Ca Na Mg Al Zn Fe Ni Sn Pb H Cu Hg Ag Pt
Au
Khi Bà Con Nào May Áo Záp Sắt Nên Sang Phố Hỏi Cửa Hàng Á Phi
Âu
Phạm vi áp dụng của dãy hoạt động:
- Những kim loại đứng trước H tác dụng với dung dịch axit giải phóng khí
hidro
Ví dụ: Zn + 2HCl → ZnCl
2
+ H
2


n
H
3,0
4,22
72,6
4,22
2
===
Zn + 2HCl → ZnCl
2
+ H
2
0,3 mol 0,3 mol
Cu + HCl →
Khối lượng Zn:
gamMnm
Zn
5,1965.3,0. ===
Khối lượng Cu: m
Cu
= m
hh
- m
Zn
= 26 - 19,5 = 6,5 gam
4.2.1.3. Các cơng thức hóa học liên quan đến bài tập tính tốn.
Đối với một bài tốn, tùy theo dữ kiện đề bài cho mà ta áp dụng cơng
thức cho hợp lí. Giáo viên hướng dẫn học sinh biết cách xác định các dữ kiện đề
cho, vận dụng cơng thức và định hướng cách giải.
CÁC CƠNG THỨC THƯỜNG GẶP

m
Khối lượng hỗn hợp gam
A
m
Khối lượng chất A gam
B
m
Khối lượng chất B gam
M
Khối lượng mol g/mol
A
M
Khối lượng mol chất A g/mol
B
M
Khối lượng mol chất B g/mol
dd
V
Thể tích dung dòch lít
V
đ(dktc)
Thể tích ở ĐK tiêu chuẩn lít
%C
Nồng độ phần trăm %
M
C
Nồng độ mol Mol/lít
D Khối lượng riêng g/ml
A%
Thành phần % của A %

Mnm ×=

7.
%100
%
dd
ct
mC
m
×
=
* Công thức tính khối lượng dung dịch:
8.
dmctdd
mmm +=
;
9.
( )
DmlVm
dddd
×=
;
10.
%
%100.
C
m
m
ct
dd

m
m
B
hoặc
AB %%100% −=
15.
BAhh
mmm +=
* Công thức tính tỷ khối của chất khí:
16.








==
B
A
B
A
M
M
d
m
m
d
Ví d ụ 1 : Cần bao nhiêu gam Clo đủ tác dụng với kim loại nhôm tạo thành 26,7

2Al + 3Cl
2
→ 2AlCl
3
0,3 mol 0,2 mol
Khối lượng của Al:
2
Cl
m
= n.M = 0,3 . 71 = 21,3 gam.
Ví d ụ 2 : Hòa tan 11 gam hỗn hợp 2 kim loại Al và Fe vào V lít dd HCl 0,5M thì
thu được 8,96 lít khí H
2
(đktc).
a) Tính % khối lượng mỗi kim loại trong hỗn hợp đầu ?
b) Tính thể tích (V) của dung dịch HCl đã dùng ?
Tóm tắt đề và định hướng cách giải:
- Dựa vào dãy hoạt động xét xem hai kim loại này có phản ứng với dd
HCl → cả 2 kim loại đều đứng trước H nên đều phản ứng.
- Cho thể tích khí H
2
ở điều kiện tiêu chuẩn → tính được số mol dựa vào
công thức : V
(đktc)
= n.22,4 → n = V
(đktc)
/ 22,4.
- Đối với bài toán cả hai kim loại (chất) đều phản ứng và cho sản phẩm
phản ứng tương tự nhau thì ta giải bằng cách lập hệ phương trình.
- Lập hệ phương trình và dùng các dữ kiện đó để giải.

4,22
96,8
4,22
)(
2
===
Trang 14
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Gọi x, y lần lượt là số mol của Al và Fe
2Al + 6HCl → 2AlCl
3
+ 3H
2
(1)
x mol 3x mol 1,5x mol
Fe + 2HCl → FeCl
2
+ H
2

y mol 2y mol y mol (2)
Từ (1) và (2), ta có:
+ Số mol của H
2
: 1,5x + y = 0,4
+ Khối lượng hỗn hợp: m
Al
+ m
Fe
= 27.x + 56.y = 11

115627
4,05,1
Tính khối lượng mỗi kim loại: m
Al
= n.M = 0,2.27 = 5,4 gam
Áp dụng công thức tính thành phần phần trăm :
%100% ×=
hh
A
m
m
A

%04,49
11
100.4,5100.
% ===
hh
Al
m
m
Al
→ % Fe = 100% - 49,09% = 50,91%
b) Theo phản ứng (1) và (2), ta có số mol của HCl là: n
HCl
= 3x + 2y
Thay x = 0,2 ; y = 0,1 vừa giải ở trên vào ta tính được số mol của dd HCl:
n
HCl
= 3x + 2y = 3. 0,2 + 2. 0,1 = 0,8 mol

đổi gọi là gì? Chất khác ở đây là gì? Như vậy phương trình hóa học được
ghi như thế nào?
Ví dụ 1

:

Kẽm phản ứng với axit clohiđric tạo thành muối kẽm clorua và
hiđro
- Chất tham gia ở đây là kẽm và axit clohiđric.
- Chất tạo thành ở đây là muối kẽm clorua và khí hiđro
- Ta có sơ đồ phản ứng: kẽm + axitclohiđric → kẽm clorua + hidro
- Đây mới chỉ là sơ đồ phản ứng bằng chữ, nếu dựa vào đây để
giải một bài tập hóa học thì chưa được, cần phải có một phương trình
hóa học bằng công thức hóa học cụ thể, như vậy để viết được một
phương trình hóa học đòi hỏi các em phải có những kiến thức sau:
+ Công thức của các chất tham gia cũng như các sản phẩm
phải viết như thế nào cho đúng.
+ Các chất đó thuộc đơn chất hay hợp chất.
+ Công thức của đơn chất hay hợp chất viết như thế nào.
+ Xác định hóa trị của các nguyên tố trong hợp chất.
Để thực hiện được các vấn đề trên, học sinh cần phải luyện tập
viết đúng kí hiệu hóa học của các nguyên tố, công thức của đơn chất,
hợp chất.
Để hình thành kĩ năng viết đúng kí hiệu hóa học, ngay từ những
bài đầu học về nguyên tố hóa học, kí hiệu hóa học, giáo viên yêu cầu
học sinh tập nghe, nhìn, viết, đọc. Học nhìn giáo viên viết kí hiệu và
luyện tập chứ không phải viết một cách tuỳ tiện.
Để hình thành kĩ năng sử dụng công thức hóa học học sinh cần
lưu ý:
+ Viết đúng công thức hóa học khi biết số nguyên tử của mỗi


:

Lập phương trình hóa học theo sơ đồ sau: Al + O
2
→ Al
2
O
3
Ta thấy số nguyên tử O có nhiều và không bằng nhau và là số lẻ là 3
nên:
Bước 1: Đặt hệ số 2 trước Al
2
O
3
, như vậy số nguyên tử oxi ở vế
phải là 6 nguyên tử nên ta đặt hệ số 3 trước O
2
ở vế trái.
Bước 2: Cân bằng số nguyên tử Al ở 2 vế phương trình cho bằng
nhau.
Phương trình đúng : 4Al + 3O
2
→ 2Al
2
O
3
Trong trường hợp phân tử có 3 loại nguyên tố thì thường số nguyên
tử của 2 loại nguyên tố kết hợp với nhau thành một nhóm nguyên tử, ta
xem cả nhóm tương đương với một nguyên tố.

+
Na
2
SO
4
Ta thấy số nguyên tử Na ở vế trái là một, Fe là 2 và ở vế phải Na là 2
và Fe là một, nên ta làm chẵn số nguyên tử Na và Fe trước.
2NaOH + Fe
2
(SO
4
)
3
→ 2Fe(OH)
3
+ Na
2
SO
4
Tiếp đó cân bằng nhóm –OH vì một bên là 2, một bên là 6, cho
nên ta đặt hệ số cân bằng số 3 trước NaOH: 2.3NaOH, số nguyên tử Na
một bên 6, một bên 2, cho nên đặt 3 trước Na
2
SO
4
.
3.2NaOH + Fe
2
(SO
4

hóa học ta phải luyện cho các em từ phương trình đơn giản đến phức
tạp.
* Đối với phản ứng là phản ứng oxi hóa - khử: ta xác định sự
tăng hay giảm số oxi hóa, sau đó chọn hệ số và đưa vào phương trình
và cân bằng các nguyên tố còn lại.
4.2.2. Vận dụng kiến thức Hóa học giải thích một số hiện tượng
thực tiễn
có liên quan đến bài học.
4.2.2.1. Tại sao nước máy lại có mùi Clo
Trang 18
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Giúp HS hiểu và giải tỏa được thắc mắc, hiểu được vai trò của hóa học và
kiểm nghiệm qua thực tế, giáo viên có thể giảng xen trong bài Clo.
Khi sục Clo vào nước một lượng nhỏ Clo tan trong nước gây ra mùi, một
phần Clo tác dụng với nước theo phản ứng: Cl
2
+ H
2
O  HCl + HClO.
Hợp chất HClO không bền bị phân hủy theo phản ứng: HClO  HCl +
O.
Oxi nguyên tử có khả năng diệt khuẩn, nên dùng để diệt khuẩn nước sinh
hoạt.
4.2.2.2. Tại sao sau cơn mưa thì bầu trời mát mẻ và trong lành
hơn.
Đối với bài ozon, rất đơn điệu nếu không liên hệ những vấn đề thực tế,
gần gũi mà dễ hiểu, giúp học sinh hiểu bài hơn, hứng thú với môn học hơn. Từ
đó nâng cao khả năng tự tiếp thu tri thức. Giải thích vấn đề này như sau:
Do trong không khí có 20% oxi (O
2

Hiện nay trong các kỳ thi ( trừ kỳ thi HSG) môn Hóa học được thi với
hình thức trắc nghiệm khách quan, vì vậy việc giải các bài toán cần phải tính
nhanh và chính xác. Để giải nhanh và chính xác chúng ta nên sử dụng một số
phương pháp sau:
4.2.3.1. Định luật bảo toàn khối lượng:
Nội dung của định luật: “Tổng khối lượng các chất tạo thành sau phản
ứng” = “Tổng khối lượng các chất tham gia phản ứng”.
Xét một vài ví dụ sau:
Bài toán 1. Cho 24,4 gam hỗn hợp Na
2
CO
3
, K
2
CO
3
tác dụng vừa đủ với dung
dịch BaCl
2
. Sau phản ứng thu được 39,4 gam kết tủa. Lọc tách kết tủa, cô cạn
dung dịch thu được m gam muối clorua. m có giá trị là
A. 2,66 B. 22,6 C. 26,6 D. 6,26
Hướng dẫn giải.
2 3
BaCl BaCO
n = n = 0,2 (mol)
áp dụng định luật bảo toàn khối lượng :
hh BaCl
m m+
2

Cl H
,
n n n . , (mol)
,
− +
= = = =
2
2 24
2 2 0 2
22 4
=>
muèi kim lo¹i
Cl
m m m

= + =
10 + 0,2.35,5 = 17,1 (gam) Đáp án B.
4.2.3.2. Định luật bảo toàn mol electron:
Nội dung định luật.
Trong phản ứng oxi hóa - khử, số mol electron mà chất khử cho đi bằng
số mol electron mà chất oxi hóa nhận về.
e nhËn e nh 'êng
n n
=
∑ ∑

- Sử dụng cho các bài toán có phản ứng oxi hoá - khử, đặc biệt là các bài
toán có nhiều chất oxi hóa, nhiều chất khử.
- Trong một phản ứng hoặc một hệ phản ứng, cần quan tâm đến trạng thái
oxi hóa ban đầu và cuối của một nguyên tử mà không cần quan tâm đến các quá


=
; n
NO giải phóng
= 0,1 mol
- Chất khử là Fe:
3
56 56
0 +3
Fe - 3e Fe
m m


- Chất oxi hóa gồm O
2
và HNO
3
:
0
2
12 12
32 8
-3
O 4e 2O
m m

+ →
− −
3
+5 +2

3
nóng dư thì thu được V lít khí NO
2
(đktc). Giá trị
V là
A. 11,2 lít B. 22,4 lít C. 53,76 lít D. 76,82 lít
Hướng dẫn giải. Al, Mg, Fe nhường e, số mol electron này chính bằng số mol
e Cu nhường khi tham gia phản ứng với HNO
3
. Số mol electron mà H
+
nhận
cũng chính là số mol electron mà HNO
3
nhận.
Trang 22
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
13 44
1 2 0 6
22 4
+
2
2H + 2e H
,
, ,
,

=

17,4 gam hỗn hợp H

tạo thành NO
2
, sau đó NO
2
lại
nhường cho O
2
. Vậy trong bài toán này, Cu là chất nhường, còn O
2
là chất nhận
electron.
Cu - 2e → Cu
2+

0,45 0,9
O
2
+ 4e → 2O
2-
x 4x
4x = 0,9 ⇒ x = 0,225 ⇒
2
O
V
= 0,225.22,4 = 5,04 lít
Đáp án A
4.2.3.3. Áp dụng sơ đồ đường chéo:
Trang 23
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Nội dung định luật.

M (2)

C
M
là nồng độ mol dung dịch thu được sau khi trộn lẫn. Với C
M (1)
< C
M
< C
M
(2)
c. Các chất khí không tác dụng với nhau.

Trong đó :
V
1
là thể tích chất khí có M
1
; V
2
là thể tích chất khí có M
2
M
là khối lượng mol trung bình thu được sau khi trộn lẫn. Với M
1
<
M
<
M
2


1 1 2
2
1
2 1
2 2 1
V M M M
V M M
M
V
M M
V M M M


⇒ =


1 1 2
1 2
2
1
2 2 1
Liên hệ: Nguyễn Văn Hùng ĐT:0946734736; Mail:
Xét một số bài toán sau:
Bài toán 1. Một dung dịch HCl nồng độ 45% và một dung dịch HCl khác có
nồng độ 15%. Để có một dung dịch mới có nồng độ 20% thì cần phải pha chế về
khối lượng giữa 2 dung dịch theo tỉ lệ là
A. 1 : 3 B. 3 : 1 C. 1: 5 D. 5:1
Hướng dẫn giải. áp dụng qui tắc đường chéo ta có
Đáp án C.

2
45 20 15
5 1
25
25 5
15 45 20
H
H
CO
CO
V
V
V
V
⇒ =
2
2
2 4
4
24
22
28 22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status