Đề tài Rèn kỹ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn - Pdf 57

Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

A. MỤC ĐÍCH, SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
1. Nhà triết học, tâm lí học và cũng là nhà cải cách giáo dục nổi tiếng
người Mỹ John Dewey từng nói: Quá trình giáo dục thực sự nên là quá trình
học cách tư duy thông qua việc thực hành trên những vấn đề thực tế. Có thể nói,
giáo dục ngày nay đang ngày càng đề cao vai trò của thực hành, của việc vận
dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn. Đối với bộ môn Ngữ văn, quá trình học
cách tư duy thông qua việc thực hành dễ nhận thấy nhất chính là cho học sinh
viết bài, qua đó bày tỏ hiểu biết, quan niệm, cảm nhận của các em về một tác
phẩm hay một vấn đề nào đó đặt ra trong cuộc sống... Như vậy, có thể nói, trong
dạy học Văn, việc rèn kĩ năng cho học sinh giữ vai trò vô cùng quan trọng. Nếu
chỉ trang bị kiến thức mà bỏ qua hoạt động rèn kĩ năng thì chẳng khác nào người
cày, cày mãi mà chẳng gieo trồng (Plato). Cho dù học sinh có kiến thức chắc
chắn, sâu rộng đến đâu mà không được rèn giũa về mặt kĩ năng, chắc chắn các
em cũng không thể có bài làm tốt. Bởi thế, việc rèn kĩ năng cho học sinh đóng
vai trò rất quan trọng đối với việc dạy học Ngữ văn của giáo viên nói chung và
với công tác ôn luyện học sinh giỏi nói riêng.
2. Đưa nghị luận xã hội vào chương trình Ngữ văn chính là một biểu hiện
rõ nét cho thấy Bộ Giáo dục và Đào tạo đang rất chú trọng đổi mới môn Ngữ
văn theo hướng thiết thực, bám sát đời sống và các vấn đề thực tế, phát huy năng
lực tư duy, sáng tạo của học sinh. Từ năm học 2006 – 2007, văn nghị luận xã hội
đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình sách giáo khoa mới. Cũng từ đó,
nghị luận xã hội luôn xuất hiện trong các đề thi tốt nghiệp, tuyển sinh đại học và
thi chọn học sinh giỏi. Riêng đề thi học sinh giỏi, câu nghị luận xã hội chiếm
một phần quan trọng, với tỉ lệ 8/20 điểm (40% tỉ lệ toàn bài). Đây là dạng đề
mang tính tổng hợp và vận dụng cao, đòi hỏi học sinh vừa phải có kĩ năng lập
luận, tư duy logic lại vừa phải có những hiểu biết sâu rộng về các vấn đề xã hội.
Rõ ràng, việc thể hiện, tranh luận, bảo vệ hay bác bỏ một quan niệm là thước đo
quan trọng đối với sự trưởng thành của mỗi người. Rèn kĩ năng nghị luận xã hội
cho học sinh sẽ không chỉ nhằm kiểm tra kiến thức tổng hợp về mọi mặt đời

1. Phạm vi triển khai
Đề tài thực hiện trên tiết dạy thuộc bộ môn Ngữ văn chương trình THPT
dành cho học sinh giỏi.
2. Phạm vi nghiên cứu
2.1. Lý luận chung về văn nghị luận, kiểu bài nghị luận xã hội.
2.2. Các giải pháp nhằm rèn kỹ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội của học
sinh giỏi môn Ngữ văn.
C. NỘI DUNG
Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 2

THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

1. Tình trạng giải pháp
1.1. Tình trạng chung
Văn nghị luận xã hội chiếm một phần quan trọng trong đề thi học sinh
giỏi, với tỉ lệ 8/20 điểm (40% tỉ lệ toàn bài). Vì vậy, việc rèn kĩ năng nghị luận
xã hội cho học sinh giỏi là công việc vô cùng quan trọng đối với người giáo viên
ôn luyện. Nhiều thầy cô đã có những cuốn sách, những bài viết chia sẻ kinh
nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy với những phương pháp rèn
luyện tương đối hiệu quả. Có thể nói, đây là nguồn tư liệu quý báu cho chúng tôi
trong quá trình thực hiện đề tài.
1.2. Tình trạng của nhà trường
Nhận rõ tầm quan trọng của kiểu bài nghị luận xã hội trong đề thi học sinh
giỏi, các thầy cô trong bộ môn Ngữ văn của nhà trường đặc biệt chú ý xây dựng
giáo án chi tiết, tỉ mỉ rèn luyện từng kỹ năng nhỏ nhất cho học sinh đội tuyển.
Mỗi một kỳ ôn luyện học sinh giỏi với những đối tượng không giống nhau là
thêm một lần những ý tưởng được nảy sinh. Vì vậy, với dạng đề tưởng như rất

khiến người đọc, người nghe nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quan
điểm và niềm tin của mình. Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tư
tưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyết
phục của lập luận. Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh,
bác bỏ… văn nghị luận tác động vào lí trí, nhận thức và cả tâm hồn người đọc,
giúp họ hiểu rõ vấn đề đã nêu ra.
Văn nghị luận đã hình thành từ rất xa xưa và ngày nay càng được phát
triển mạnh mẽ. Nó xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nó là vũ
khí tư tưởng sắc bén giúp con người nhận thức các vấn đề một cách đúng đắn, từ
đó thúc đẩy sự phát triển xã hội. Do vậy, học văn nghị luận có vai trò quan trọng
trong việc dạy học văn trong nhà trường.
Văn nghị luận có thể được chia ra làm hai dạng: Nghị luận văn học và
nghị luận xã hội.
I.2. Văn nghị luận xã hội
Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về những vấn đề diễn ra xung
quanh đời sống, xã hội. Đề tài của dạng bài nghị luận xã hội cũng hết sức rộng
mở. Nó gồm tất cả các vấn đề về tư tưởng đạo lí, một lối sống đẹp, một hiện
tượng tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc sống, một vấn đề về thiên nhiên, môi
trường…
Khảo sát đề văn học sinh giỏi các cấp trong những năm gần đây, có thể
thấy đề văn nghị luận xã hội có thể cụ thể hóa thành các dạng sau:
1. Nghị luận về một tư tưởng đạo lí
Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 4

THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

2. Nghị luận về một hiện tượng đời sống


THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

chỉnh. Tất nhiên, trong quá trình viết bài, học sinh cần có sự kết hợp đa dạng các
thao tác lập luận nhưng phải làm nổi bật được thao tác chính.
Đối với đề không yêu cầu rõ cách thức làm bài, giáo viên cần rèn cho học
sinh khả năng lựa chọn các thao tác lập luận cho phù hợp, thao tác nào là chính,
thao tác nào là bổ trợ. Nhờ đó, học sinh sẽ có các định hướng đúng đắn trong
quá trình viết bài.
Bước 3: Xác định phạm vi tư liệu (Viết về đối tượng nào?)
Phạm vi tư liệu được xác định rõ trong đề. Tuy nhiên, với học sinh giỏi, tư
liệu không chỉ dừng lại ở giới hạn của đề mà cần phải biết mở rộng, khắc sâu đối
tượng nghị luận bằng cách liên hệ, so sánh tới những tư liệu khác có liên quan.
Xác định tư liệu gắn bó chặt chẽ với việc tìm ý cho bài viết (Triển khai
những ý nào?). Bởi mỗi tư liệu đều phải phục vụ một ý, một luận điểm nhất
định. Như vậy, xác định tư liệu không được làm một cách qua loa, đại khái mà
cần được chú trọng.
II.2. Rèn kĩ năng lập dàn ý
1.1. Dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí
Là một dạng của nghị luận xã hội, nghị luận về một tư tưởng, đạo lý có
những đặc điểm riêng về nội dung và hình thức.
a. Đặc điểm nội dung: đề cập đến
- Những vấn đề liên quan đến nhận thức như lý tưởng sống, mục đích sống,
nghề nghiệp, ước mơ...
- Những vấn đề liên quan đến đạo đức, tâm hồn, tính cách như trình bày về
lòng yêu nước, lòng nhân ái, đức tính vị tha, bao dung, độ lượng, vị tha - ích kỷ,
thói ba hoa, ..

a. Mở bài:

1. Giới thiệu tư tưởng, đạo lý
- Giới thiệu vấn đề.
- Trích (nêu) vấn đề.

b. Thân bài
* Giải thích: Trả lời cho các câu hỏi:

2. Giải thích tư tưởng đạo lí cần

- Là gì?

bàn.

+ Chú ý tập trung giải thích những từ ngữ
trừu tượng, có hàm ý, ẩn dụ..., tránh giải thích
tràn lan, những từ đã rõ nghĩa.
+ Giải thích từ/ khái niệm cả về nghĩa đen và
nghĩa bóng.
Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 7

THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

+ Giải thích từ là cách để giải thích nghĩa của
cả câu nói.
- Như thế nào?: Nêu biểu hiện của vấn đề

* Bài học nhận thức, hành động: Trả lời cho 5. Nêu ý nghĩa, rút ra bài học
câu hỏi:

nhận thức và hành động về tư

- Chúng ta hiểu gì ?(nhận thức)

tưởng, đạo lí.

- Chúng ta sẽ làm gì? (hành động)
- Liên hệ bản thân (xuất phát từ những trải
nghiệm từ chính bản thân người viết)
c. Kết bài
- Khẳng định lại ý nghĩa chung của vấn đề
được đặt ra.
Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 8

THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

- Kêu gọi được mọi người làm theo phương
diện đúng đắn của tư tưởng, nhắc nhở tránh
những phương diện hạn chế.
* Kỹ năng phân loại theo chủ đề
Những tư tưởng, đạo lý bàn luận về nhiều vấn đề trong cuộc sống mang ý
nghĩa muôn thủa, là những vấn đề chung về con người, cuộc sống, cách sống...
mà con người sẽ luôn quan tâm, trăn trở. Đây là những vấn đề thường trừu
tượng, khái quát nhưng ta có thể sắp xếp, phân loại những tư tưởng này theo

+ Trong quá trình bàn luận, người viết cần đặt vấn đề trong bối cảnh cuộc
sống hiện nay để làm rõ ý nghĩa thực tiễn của nó.
- Liên hệ bản thân
+ Trình bày được nhận thức và bài học sâu sắc mà cá nhân rút ra được từ vấn
đề trên.
+ Có những phương hướng cụ thể trong việc xác định mục đích sống của cá
nhân.
Kết bài: Khái quát lại vấn đề
* Chủ đề về vấn đề đạo đức, tâm hồn, tính cách (tình thương, lòng nhân ái...)
Đề bài: Đứng thẳng vươn cao trong cuộc đời hay cúi xuống giúp đỡ người
khác, anh/chị chọn lối sống nào?
Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận
Thân bài:
- Giải thích
+ Đứng thẳng vươn cao: sống mạnh mẽ bằng lí trí để thành đạt trong cuộc sống
+ Cúi xuống giúp đỡ người khác: sống nhân văn, sống vì người khác bằng lòng
vị tha, nhân ái, bao dung.
-> Khuyên con người sống cần yêu thương, giúp đỡ người khác bằng tấm lòng
vị tha, nhân ái, bao dung.
- Phân tích, chứng minh
+ Trong cuộc sống cần mạnh mẽ,đứng thẳng vươn cao, ý chí để thành đạt, phải
biết phấn đấu vì lí tưởng đạt được mục tiêu và khẳng định mình về danh vọng và
địa vị. Tuy nhiên, tư thế của con người phụ thuộc vào tấm lòng, thái độ của họ.
Nếu quá lí trí tỉnh táo để thực hiện lí tưởng thì con người dễ trở thành ích kỉ, thờ
ơ với đồng loại.
+ Cúi xuống giúp đỡ người khác là lối sống nhân văn, làm cho con người luôn
thanh thản nhẹ nhõm.
Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 10

THPT chuyên Lê Quý Đôn

tập thể....
- Bình luận, chứng minh
+ Cá nhân và tập thể có mối quan hệ gắn bó mật thiết, không thể tách rời như
nước trong biển cả.
Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 11

THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

. Con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội, mỗi cá nhân mang trong
mình bản chất và sức mạnh của tập thể (dẫn chứng).
. Hàng triệu giọt nước làm nên biển cả cũng như mỗi cá nhân đều có một vai trò
nhất định trong sự tồn tại, phát triển của một tập thể. Một giọt nước thì không
làm được gì nhưng biển cả thì có thể làm đắm một con thuyền, nước hòa vào
nhau làm nên sức mạnh lớn lao vĩ đại của biển cũng như cá nhân sẽ phát huy
được năng lực và tìm được ý nghĩa cuộc sống của mình trong tập thể (Dẫn
chứng).
+ Giọt nước nếu tách mình ra khỏi biển cả sẽ bị diệt vong cũng như con người
cá nhân không thể tồn tại nếu tách ra khỏi cộng đồng xã hội (Dẫn chứng).
- Mở rộng
+ Phê phán những hiện tượng xã hội đi ngược với quy luật đời sống: lối sống lập
dị, chủ nghĩa cá nhân, đầu cơ trục lợi... (Dẫn chứng).
+ Mỗi cá nhân tuy có quan hệ gắn bó mật thiết với xã hội, tập thể nhưng đều có
những nét riêng biệt về cá tính, phẩm chất, vai trò không thể thay thế trong một
giới hạn nào đó; đặc biệt là vị trí, vai trò của những anh hùng, vĩ nhân (Dẫn
chứng).
+ Mỗi con người cần xây dựng cho mình lý tưởng sống cao đẹp, phù hợp với xã
hội và thời đại, luôn có ý thức tự khẳng định mình trong sự cống hiến cho sự

b. Thực trạng

b. Thực trạng

- Quy mô

- Quy mô

- Tính chất, mức độ

- Tính chất, mức độ

- Ví dụ tiêu biểu

- Ví dụ tiêu biểu

c. Hậu quả

c. Tác dụng

d. Nguyên nhân

d. Nguyên nhân

- Khách quan

- Khách quan

- Chủ quan




Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

- Thực trạng:
Chính vì các thiết bị thông minh có những chức năng ưu việt nên con
người ngày càng say mê nó, phụ thuộc vào nó. Các sản phẩm thông minh được
chúng ta tạo ra, nhưng đến lượt mình, các thiết bị thông minh cũng đang nhào
nặn lại chúng ta, bắt chúng ta phải thích ứng với nó, thậm chí lệ thuộc vào nó.
+ Nhiều người quá ỷ lại vào thiết bị, ít vận động, động não trong hoạt động thực
tiễn.
+ Nhiều bạn trẻ mắc chứng nghiện điện thoại, chỉ mải mê “giao tiếp” với điện
thoại mà quên giao tiếp thực với cuộc đời xung quanh... ‘
+ Nhiều người có lối sống ảo, chìm đắm, mải mê trong thế giới ảo mà dường
như quên mất thực sự mình là ai, làm gì, ở đâu.
+ Thói quen chỉ trích thậm chí lăng mạ, chửi bới thiếu văn hóa của một bộ phận
“anh hùng bàn phím”
+ Nhiều bạn trẻ say sưa thậm chí nghiện các trò chơi điện tử…
(Nêu dẫn chứng)
- Hậu quả:
+ Chìm đắm trong thế giới ảo đến mức xa lạ với cuộc sống thực lại, thiếu kĩ
năng sống, ngơ ngác, lạc loài với mọi thứ, bị động, thụ động trong cuộc sống.
+ Có những suy nghĩ, hành động lệch lạc, sai trái.
+ Mối quan hệ giữa người với người dần trở nên rời rạc, xa cách. Con người
càng ngày càng trở nên vô cảm.
- Giải pháp: Sử dụng thông minh không có nghĩa là không sử dụng hay là từ
chối các tiện nghi, từ chối những tiện ích của đồ dùng mà phải là xây dựng cho
được thái độ chủ động trong việc sử dụng những phương tiện, tiện nghi làm
việc. Chúng ta là ông chủ chứ không phải là nô lệ của những đồ dùng, thiết bị do
chúng ta tạo ra.

Đề 1: Từ truyện ngắn Đời thừa của nhà văn Nam Cao, anh (chị) hãy trình
bày quan điểm của mình về tình trạng sống thừa của con người trong xã hội.
Đề 2: Trong tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ đã để
cho nhân vật Trương Ba bộc bạch suy nghĩ của mình: Không thể bên trong một
đằng, bên ngoài một nẻo được. Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.
Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề này.
- Một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà học sinh chưa
được học.
Ví dụ:
Đề 1: Đọc câu chuyện sau và trả lời câu hỏi:
NIỀM TỰ HÀO CỦA SỐ 0
Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 15

THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

Nhờ rất nhiều số 0 đi theo mà số 1 trở thành khổng lồ.
Thành khổng lồ, những số không vinh dự và tự hào lắm, đi đâu cũng kể
lể, vỗ ngực rằng: “Ta là khổng lồ”
(Theo Ngụ ngôn chọn lọc, NXB Thanh niên, 2003)
Suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa gợi ra từ câu chuyện trên.
Đề 2:
Một niềm vui một nỗi buồn
Nếu phải giữ một mình suốt đời
Bạn có thể chết vì nó
Một điều hiểu một ý nghĩ
Nếu phải giữ một mình suốt đời
Có thể làm bạn điên

* Bước 1: Phân tích văn bản văn học để rút ra vấn đề tư tưởng đạo lí cần bàn
luận
- Giới thiệu, tóm tắt nội dung văn bản/ tác phẩm văn học
- Phân tích ngắn gọn tác phẩm để rút ra vấn đề tư tưởng đạo lí cần nghị luận
* Bước 2: Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí được nêu ra từ tác phẩm văn học
ở đề bài (phần trọng tâm)
- Giải thích vấn đề (nếu cần). Các vấn đề xã hội có thể được diễn đạt bằng các
hình ảnh, ngôn ngữ ẩn dụ, biểu tượng hoặc đa nghĩa, bởi vậy, người viết cần chú
ý cắt nghĩa, giải thích trước khi tiến hành bàn luận vấn đề.
- Phân tích, chứng minh, bình luận các khía cạnh của vấn đề ; bác bỏ, phê phán
những sai lệch (nếu có)
- Rút ra bài học nhận thức và hành động từ vấn đề tư tưởng đạo lí đặt ra trong
tác phẩm.
c. Kết bài: Khái quát lại vấn đề cần bàn luận.
Ví dụ minh họa:
LỪA VÀ NGỰA.
Có chú lừa đi cùng một con ngựa trông sang trọng bảnh bao lắm. Trên lưng
ngựa chỉ có bộ yên thồ hàng, còn trên lưng lừa lại chồng chất hàng hóa nặng
đến mức nó không chịu nổi. Lừa cầu xin ngựa chia sẻ giúp nó một chút gánh
nặng nếu không nó sẽ chết gục trước khi tới được thành phố. Nó nói:
- Cầu xin anh giúp tôi vơi một nửa gánh nặng này, đối với anh cũng chỉ như
trò đùa thôi.
Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 17

THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

Ngựa ta nghe xong từ chối thẳng thừng, thậm chí còn phì một tràng hơi vào


THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

+ Trên hành trình cuộc đời, mỗi người mang những số phận, trách nhiệm khác
nhau nhưng cần phải biết chia sẻ gánh vác trách nhiệm công việc chung. Không
ai dù đầy đủ đến đâu cũng có thể khẳng định cả đời mình không cần đến sự giúp
đỡ của bất kì ai.
+ Những người sống ích kỉ sẽ phải chịu hậu quả thích đáng là sự xa lánh của
người khác, khi gặp khó khăn không ai ra tay cứu giúp thậm chí phải chịu gánh
nặng của cả mình và người khác để lại và phải sống trong day dứt khổ đau. Khi
con người không biết quan tâm, chia sẻ, họ sẽ trở nên vô cảm, tàn nhẫn.
+ Khi con người biết quan tâm, chia sẻ cùng nhau, cuộc sống sẽ trở nên nhẹ
nhàng và tốt đẹp hơn.
- Bàn luận, mở rộng vấn đề
+ Mở rộng: Con người không nên để cái tôi của mình quá lớn, phải luôn luôn có
lòng thương người và tinh thần trách nhiệm. Ngược lại, cũng không nên cam
chịu đến mức gục ngã một mình trước những gánh nặng cuộc đời
+ Phê phán: Sự ích kỉ, thiếu tinh thành trách nhiệm trong gánh vác công việc
chung.
- Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động.
* Kết bài: Khái quát lại vấn đề cần bàn luận.
(Đề và đáp án tham khảo của giáo viên Đinh Thị Ngọc Vân, trường Chuyên
Nguyễn Trãi, tỉnh Hải Dương)
1.3.2. Dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống rút ra từ tác phẩm văn học
a. Mở bài:
- Dẫn dắt vấn đề, giới thiệu câu chuyện/ tác phẩm trong đề bài
- Nêu vấn đề cần nghị luận

→ Cả hai bài thơ đều khiến người đọc trăn trở về hiện tượng những giá trị văn
hóa truyền thống đang ngày càng bị mai một. Con người trong cuộc sống hiện
đại đang dần đánh mất những vẻ đẹp ngàn xưa của dân tộc.
b. Nghị luận về hiện tượng văn hóa truyền thống đang bị mai một:
- Mô tả hiện tượng:
+ Văn hóa truyền thống là những nét đẹp văn hóa của dân tộc được tích lũy kế
thừa từ nhiều thế hệ. Văn hóa truyền thống góp phần định hình bản sắc văn hóa
dân tộc, tạo nên những chuẩn mực xã hội, hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách của mỗi
cá nhân.
+ Hiện nay, trong nhịp sống hiện đại, những giá trị văn hóa truyền thống đang có
nguy cơ mất dần. Hiện tượng này biểu hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống:
+ Giới trẻ quay lưng lại với các hình thức văn hóa nghệ thuật cổ truyền: chèo,
tuồng, cải lương, múa rối…
Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 20

THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

+ Các chuẩn mực đạo đức truyền thống trong nói năng, ăn mặc, ứng xử… của
ông cha bị mai một, thay thế vào đó là những hiện tượng thiếu văn hóa: ăn mặc
lố lăng, nói năng thiếu lễ phép, thô tục…
- Bàn luận:
+ Nguyên nhân: Sự phát triển mau lẹ của đời sống kinh tế xã hội, con người
chạy theo cái mới, bỏ quên những giá trị truyền thống; sự xuất hiện của các
luồng văn hóa lai căng lan tràn và phổ biến; xu hướng đám đông và sự xuống
cấp về đạo đức và ý thức con người.
+ Đánh giá: Đây là hiện tượng đáng lo ngại. Hiện tượng gây ra những hậu quả
nghiêm trọng:

đề này, người viết chỉ xin đưa ra dàn ý một cách khái quát như sau:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề
* Thân bài:
- Mô tả và giải thích ý nghĩa bức tranh/ hình ảnh. Rút ra vấn đề cốt lõi
được gợi ra từ bức tranh/ hình ảnh ấy là gì? (xác định đó là vấn đề tư tưởng đạo
lí hay hiện tượng đời sống)
- Chứng minh – bình luận
Căn cứ vào vấn đề được gợi ra là tư tưởng đạo lí hay hiện tượng đời sống
mà người viết có cách triển khai phù hợp:
+ Dạng đề về tư tưởng đạo lí: Phân tích, chứng minh, bình luận các khía
cạnh của vấn đề ; bác bỏ, phê phán những sai lệch (nếu có)
+ Dạng đề về hiện tượng đời sống: Nêu các biểu hiện của hiện tượng, giải
thích nguyên nhân vì sao lại có hiện tượng đó, đánh giá tác động của hiện tượng
đối với cá nhân và cộng đồng xã hội: Đây là hiện tượng tích cực hay tiêu cực?
Hiện tượng ấy có ý nghĩa như thế nào hay để lại hậu quả ra sao?
- Rút ra bài học nhận thức và hành động từ vấn đề gợi ra từ bức tranh/
hình ảnh.
* Kết bài: Khái quát lại vấn đề
Ví dụ minh họa:
Trình bày suy nghĩ về ý nghĩa anh/ chị cảm nhận được từ bức hình sau:

Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 22

THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

* Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận được gợi ra từ bức hình: cách
nhìn và quan niệm của mỗi người trước những sự vật hiện tượng xung quanh.

+ Đôi khi trong cuộc sống cũng nên thay đổi góc nhìn, cách nhìn sẽ thấy
cuộc đời mới mẻ, bớt nhàm chán hơn.
- Phê phán lối sống bảo thủ, ích kỉ…
* Kết bài: Khái quát lại vấn đề, liên hệ bản thân
(Đề và đáp án tham khảo của giáo viên Lê Thị Thu Huyền – trường THPT
Chuyên Nguyễn Tất Thành, Yên Bái)
II.3. Rèn kĩ năng viết bài
a. Kĩ năng xây dựng luận điểm
Trong làm văn nghị luận, việc xác định luận điểm là yếu tố then chốt để
triển khai đoạn văn. Để xác định luận điểm, có thể dựa vào những dữ liệu của
đề bài, bằng cách đặt câu hỏi, hoặc dựa vào cách thức nghị luận; xác định luận
điểm từ những ý tưởng bất ngờ...
Học sinh có thể thể hiện luận điểm một cách tường minh, hoặc ẩn đi, tuy
nhiên vẫn phải đảm bảo vừa đi thẳng vào vấn đề lại vừa có tính nghệ thuật, hợp
tình hợp lí. Có thể tham khảo một số cách triển khai luận điểm sau:
- Từ dẫn dắt mà nêu ra luận điểm (cách nêu luận điểm này vừa tự nhiên,
hợp lí, vừa gợi ra được nhiều suy nghĩ);
- Kể một câu chuyện rồi từ đó nêu luận điểm (làm cho luận điểm được
nêu ra có lí do, ngọn nguồn, có phương hướng để chứng minh, trong đó, phần
trước là sự thực, phần sau là kết luận, theo lí mà thành chương bài, không hề
khiên cưỡng);
- Từ việc quy nạp hiện tượng mà nêu ra luận điểm (cách nêu luận điểm
như vậy tỏ ra chắc chắn, mạnh mẽ, tự nhiên);
Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 24

THPT chuyên Lê Quý Đôn


Rèn kĩ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn



nào?
Ví dụ: Tấm gương về con người giàu ý chí, nghị lực: Nick Vujicic
1. Ai?
- Nick Vujicic sinh ra tại Melbourne, Australia.
2. Như thế nào?
- Anh mắc phải hội chứng rối loại gen cực hiếm tetra-amelia bẩm sinh
nên ngay từ khi sinh ra, Nick không có tay, hai chân rất nhỏ, trong đó, bàn chân
trái chỉ có 2 ngón dính nhau. Anh gặp phải rất nhiều khó khăn trong học tập và
cuộc sống, tương lai mù mịt.
3. Làm gì? Bằng cách nào?
- Tình yêu thương của gia đình và đặc biệt là nghị lực, khát vọng mãnh
liệt của bản thân đã giúp anh vượt qua tất cả.
Phạm Thị Thương Huyền – Mai Hạnh Ngân 25

THPT chuyên Lê Quý Đôn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status