SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
CHO HỌC SINH QUA VIỆC DẠY
KIỂU BÀI ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN NGHỊ LUẬN,
CHÍNH LUẬN
Người thực hiện: NGUYỄN VĂN CÔNG
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật
khác
Năm học: 2011 - 2012
BM 01-Bia SKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Công
2. Ngày tháng năm sinh: 17 – 04 – 1969
3. Nam, nữ: Nam
4. Địa chỉ: Trường THPT Ngô Sĩ Liên
5. Điện thoại: 0613866499 (CQ)/ 0613922048 (NR); ĐTDĐ: 0908875675
6. Fax: E-mail: [email protected]
7. Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn, Chủ tịch Công đoàn
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Ngô Sĩ Liên
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Thạc sĩ Văn học
- Năm nhận bằng: 2011
- Chuyên ngành đào tạo: Văn học Việt Nam
giúp các em có cơ hội bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề thiết thực trong
đời sống thực tế đang diễn ra xung quanh mình, rèn luyện nâng cao phẩm chất tư
tưởng, đạo đức của mình.
Vì nhiều lí do, hiện nay, việc giảng dạy cho học sinh làm kiểu bài nghị luận
xã hội ở trường THPT Ngô Sĩ Liên còn gặp nhiều khó khăn.
Trước hết là khó khăn chung do thời lượng chương trình, số tiết thực hành
cho kiểu bài này còn ít. Một khó khăn nữa là do năng lực của học sinh còn hạn
chế. Thực tế cho thấy, trình độ, khả năng viết văn nghị luận, trong đó có nghị luận
xã hội của học sinh còn nhiều bất cập. Việc lập ý, dựng đoạn, tạo bố cục cho bài
văn và cách tư duy để triển khai một cách mạch lạc những ý tưởng và hiểu biết của
mình đang là khó khăn của hầu hết học sinh. Phần nhiều HS (nhất là với đối tượng
HS yếu) còn chưa có ý thức vận dụng những kiến thức đã học ở phân môn Tiếng
Việt và Đọc văn vào bài làm văn. Mặt khác, khi làm văn nghị luận, HS thường
lúng túng trong việc lựa chọn và sử dụng kết hợp các thao tác lập luận một cách
chặt chẽ, tự nhiên và nhuần nhuyễn. Ngoài ra, còn phải kể đến những khó khăn về
phía giáo viên, có không ít giáo viên còn tỏ ra lúng túng khi hướng dẫn học sinh
làm kiểu bài này. Đặc biệt, giáo viên chưa vận dụng tốt quan điểm tích hợp trong
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
3
việc liên kết các phân môn Đọc văn, Tiếng Việt và Làm văn trong quá trình giảng
dạy. Việc tìm tòi các hướng đi giúp giáo viên giải quyết vấn đề này là một trăn trở
của chúng tôi trong nhiều năm nay.
Một điều dễ nhận thấy là sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông hiện nay rất
chú trọng vào chức năng ứng dụng của văn bản. Nếu như trước đây, người ta chú ý
nhiều đến các văn bản tác phẩm thuộc các thể loại như thơ trữ tình, tự sự, kịch, thì
hiện nay chương trình còn đặc biệt quan tâm đến các văn bản nghị luận, chính
luận. Chỉ tính riêng trong chương trình Ngữ văn của lớp 11, 12, đã có đến 13 văn
bản thuộc kiểu bài nghị luận, chính luận. Đây là các văn bản có đặc trưng thể loại
riêng, việc giảng dạy chúng hoàn toàn không giống với các văn bản văn xuôi nghệ
4
là các lớp mà học sinh chủ yếu học làm văn nghị luận. Các vấn đề cụ thể phát sinh
trong khi thực hiện đề tài sẽ được chúng đề cập đến trong một dịp khác. Đề tài
cũng chỉ đề cập đến những vấn đề nảy sinh trong thực tế giảng dạy môn Văn ở
trường THPT Ngô Sĩ Liên.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
1.1. Quan điểm tích hợp đối với việc giảng dạy phân môn Làm văn
Trước đây tồn tại ba bộ sách gắn với ba phân môn là Tiếng Việt, Làm văn
và Văn học (bao gồm hai cuốn: Văn học Việt Nam và Văn học nước ngoài). Hiện
nay, chỉ tồn tại duy nhất một bộ sách mang tên Ngữ văn. Nghĩa là đã tích hợp tri
thức cả ba phân môn nói trên vào trong một bộ sách. Điều đó rất thuận lợi cho GV
khi sử dụng phương pháp tích hợp trong dạy học.
Dạy học tích hợp và khai thác văn bản dựa vào đặc trưng thể loại là phương
pháp, đồng thời là nguyên tắc của bộ môn Ngữ văn ở chương trình phổ thông.
Trong quá trình thực hiện, chúng tôi thấy tính ưu việt của phương pháp này hơn
hẳn những phương pháp trước đây được vận dụng. Tính ưu việt của phương pháp
thể hiện rõ qua thái độ, niềm say mê, kết quả tiếp nhận của học sinh trong từng bài
học. Người học không chỉ được chiếm lĩnh kiến thức, có kĩ năng đọc – hiểu các
kiểu văn bản thuộc các thể loại văn học các em thường đọc từ sách báo hàng ngày
mà còn có khả năng tạo lập văn bản.
Đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn coi trọng sự tích cực của học sinh
trong việc chiếm lĩnh tri thức khoa học và rèn luyện được kỹ năng, thao tác tư duy.
Tích hợp các tri thức trong một bài dạy là xu hướng tất yếu để học sinh có khả
năng giải quyết những nhiệm vụ nhận thức được đặt ra. Tích hợp có nghĩa là vận
dụng những tri thức liên quan gần gũi, có tính chất công cụ để chiếm lĩnh những tri
thức mới. Dạy học theo hướng tích hợp diễn ra trên nhiều cấp độ, từ cấp độ khoa
học liên ngành đến khoa học phân môn, đến tri thực cụ thể, riêng lẻ.
Tùy vào từng kiểu bài, người giáo viên có thể chọn lựa mảng tri thức hoặc
phân môn để tích hợp. Mục đích cuối cùng của bài học chính là giúp học sinh biết
giảng dạy kiểu bài đọc hiểu các văn bản nghị luận, chính luận:
Như đã nêu, một thuận lợi cho việc tích hợp dạy kĩ năng làm văn nghị luận
chính là ở kết cấu của chương trình với việc bổ sung một số lượng khá lớn các bài
đọc – hiểu văn bản nghị luận, chính luận.
Trong phạm vi đề tài này, người viết quan niệm văn bản nghị luận còn bao
hàm cả các văn bản nhật dụng có tính chất nghị luận khá rõ nét. Theo đó, văn bản
nhật dụng là văn bản mà nội dung thể hiện những vấn đề có ý nghĩa thời sự, bức
thiết đối với thời đại, như vấn đề môi trường, bệnh dịch thế kỉ, vấn đề văn hóa dân
tộc, đổi mới tư duy… Do sự gần gũi về đặc điểm trong hành văn, diễn đạt, việc
học các văn bản này hết sức thuận lợi cho việc rèn kĩ năng, đặc biệt là kĩ năng lập
luận cho học sinh khi làm kiểu bài văn nghị luận, nhất là nghị luận xã hội cho học
sinh.
- Theo thiết kế, trọng tâm của chương trình Làm văn nghị luận ở lớp 11 là
giới thiệu và luyện tập bốn thao tác lập luận: phân tích, so sánh, bác bỏ và bình
luận. Mục đích của những bài học này là giúp học sinh nắm vững vai trò của từng
thao tác và biết vận dụng vào bài viết để tăng sự chặt chẽ, logic, mạch lạc và thuyết
phục cho bài văn nghị luận.
Theo cấu trúc tích hợp ngang, trong chương trình Ngữ văn lớp 11, tương
đương với các bài học về các thao tác lập luận nêu trên, có các bài đọc hiểu văn
bản nghị luận sau:
+ Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm)
+ Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ)
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
6
+ Về luân lý xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)
+ Tiếng mẹ đẻ, nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)
+ Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (F.Ăng – ghen)
+ Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)
Có thể thấy các văn bản trên đều sử dụng nhiều các thao tác lập luận. Phổ
đọc - hiểu văn bản nghị luận, chính luận và rèn kĩ năng làm văn NLXH cho
học sinh
-Là phân môn thực hành ngôn ngữ và văn chương, Tập làm văn mang tính
tổng hợp và sáng tạo rất cao. Khi tập làm văn, học sinh một mặt phải nắm vững
yêu cầu của đề bài, chuẩn bị các tư liệu về đời sống, về văn học…, mặt khác phải
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
7
biết vận dụng một loạt các kĩ năng cần thiết như xây dựng bố cục, tổ chức lập luận,
trình bày, diễn đạt câu văn, lựa chọn từ ngữ… để hoàn thành bài văn.
Để làm tốt các khâu trên trong quá trình làm bài NLXH, học sinh có thể tích
lũy tri thức và rèn luyện kĩ năng ngay trong quá trình đọc – hiểu các văn bản nghị
luận, chính luận của SGK.
- Như đã nói ở trên, trọng tâm của chương trình Làm văn nghị luận ở lớp 11
là các thao tác lập luận: phân tích, so sánh, bác bỏ và bình luận. Theo thiết kế,
chương trình đã tách riêng từng thao tác lập luận (Học kì 1 : Thao tác lập luận
phân tích và so sánh; Học kì 2 : Thao tác lập luận bác bỏ và bình luận) với luyện
tập vận dụng kết hợp các thao tác trong bài văn nghị luận (Học kì 1 : Luyện tập
vận dụng kết hợp 2 thao tác lập luận phân tích và so sánh; Học kì 2 : Luyện tập vận
dụng kết hợp 4 thao tác đã học).
Tất cả các nội dung trên đều có thể tích hợp trong quá trình dạy các văn bản
nghị luận, chính luận của sách Ngữ văn 11, sau này sẽ tiếp tục được hoàn thiện và
củng cố trong quá trình dạy các văn bản nghị luận, chính luận ở lớp 12.
-Do đặc thù của kiểu văn bản nghị luận, khi khai thác bài dạy Đọc hiểu, tất
yếu giáo viên phải cho học sinh tìm hiểu bố cục nghị luận, nghệ thuật lập luận…
Tuy nhiên, nếu ý thức rõ nét về quan điểm tích hợp, ngay từ lớp 10, 11, giáo viên
đã có thể hướng dẫn học sinh lưu ý về các kĩ năng xây dựng bố cục, trình bày hệ
thống luận điểm, cách đưa dẫn chứng… Đến năm 12, việc tích hợp này càng thuận
lợi hơn, vì song song với việc thực hành làm hai dạng bài NLXH: Nghị luận về
một tư tưởng, đạo lí, Nghị luận về một hiện tượng đời sống, học sinh được học các
tác đó đối với việc xác lập và làm sáng tỏ luận điểm; phân tích cách tiến hành thao
tác lập luận của tác giả. Chẳng hạn: bài “Thao tác lập luận so sánh” có thể vận
dụng tri thức của bài Đọc văn “Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm); hay bài “Thao
tác lập luận bình luận” có thể vận dụng đoạn trích “Xin lập khoa luật” (Nguyễn
Trường Tộ), ….
+ Từ ngữ liệu đã phân tích, GV yêu cầu HS rút ra kết luận về mục đích, yêu
cầu, cách tiến hành thao tác lập luận.
- Đối với các bài luyện tập vận dụng kết hợp các thao tác lập luận:
Trong các bài nghị luận rất hiếm những trường hợp người nghị luận chỉ sử
dụng một thao tác lập luận duy nhất; vì thế, GV cần giúp HS nhận thức rằng việc
vân dụng kết hợp các thao tác lập luận một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn, hiệu quả
là điều rất cần thiết trong bài văn nghị luận.
Khi dạy bài luyện tập này, GV tiến hành theo 2 bước sau :
Bước 1 : Hướng dẫn HS tìm hiểu bài (đoạn) văn mẫu :
+ Lựa chọn : GV có thể lấy một văn bản nghị luận (HS đã học) có sử dụng kết
hợp nhiều thao tác lập luận để HS có thể học hỏi cách vận dụng các thao tác lập
luận của các tác giả như : Chiếu cầu hiền, Về luân lí xã hội ở nước ta, Tiếng mẹ đẻ
- nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức, Một thời đại trong thi ca,…
+ Tìm hiểu: GV yêu cầu HS đọc lại bài (đoạn) văn mẫu, xác định đúng các
thao tác lập luận đã sử dụng (chỉ ra thao tác nào là chủ yếu, thao tác nào là bổ trợ);
phân tích cách tiến hành các thao tác lập luận của tác giả sao cho chặt chẽ, nhuần
nhuyễn, tự nhiên; phân tích ý nghĩa, tác dụng, hiệu quả của việc sử dụng kết hợp
các thao tác lập luận đó.
Bước 2 : Hướng dẫn HS luyện tập
+ GV ra một đề bài để HS thực hành viết đoạn văn nghị luận có sử dụng kết
hợp các thao tác lập luận. Với ý thức tích hợp, GV có thể ra những bài tập như :
Vận dụng thao tác lập luận phân tích và so sánh, hãy viết đoạn văn nói về hậu quả
của việc lười học ở HS hiện nay; Anh(chị) hãy học theo cách vận dụng kết hợp
các thao tác lập luận của Phan Châu Trinh, viết bài văn nghị luận bàn về bệnh vô
cảm trong xã hội ngày nay.
văn bản này về cơ bản đều có 3 phần: nêu vấn đề, giải quyết vần đề, kết thúc vấn
đề. Bởi vậy, giáo viên có thể thông qua việc phân tích kết cấu của các phần này mà
tăng cường kiến thức cho học sinh khi xây dựng bài làm NLXH.
Ví dụ:
+ Qua việc hướng dẫn tìm hiểu phần mở đầu của “Tuyên ngôn độc lập", học
sinh có thể học tập được nhiều điều về cách mở bài cho bài văn của mình.
Trong mở bài của mình, Bác nêu vấn đề bằng cách sử dụng một số tiền đề
có sẵn ( dẫn lời 2 bản tuyên ngôn nổi tiếng của Mĩ và Pháp ). Đây là dạng mở bài
gián tiếp, học sinh có thể vận dụng biện pháp này để nêu vấn đề cho bài văn của
mình bằng cách dẫn 1 số nhận định, câu thơ câu văn có nội dung liên quan trực
tiếp đến luận đề. Ví dụ, viết về hiện tượng các cá nhân, tổ chức nhiệt tình đóng
góp, ủng hộ đồng bào miền Trung bị bão lụt, có thể dẫn các câu tục ngữ: Lá lành
đùm lá rách, Thương người như thể thương thân… để dẫn vào bài.
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
10
+ Cách kết bài của “Tuyên ngôn độc lập” cũng là một mẫu mực có thể học
tập: có 2 phần rõ ràng ( phần chốt ý và phần mở rộng, nâng cao), ngắn gọn, chặt
chẽ, ý nghĩa tư tưởng sâu sắc. Đầu tiên, Bác nêu nhận định tổng quát và khẳng
định ý nghĩa của vấn đề đã trình bày: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc
lập, sau đó liên hệ mở rộng để khẳng định một vấn đề hết sức quan trọng: Toàn thể
dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để
giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.
- Giữa các phần trong bố cục của một văn bản nghị luận luôn có sự liên kết
chặt chẽ. Không chỉ đơn giản là sự tiếp nối của các phần Mở bài, Thân bài và Kết
luận, có một mạch ngầm liên kết được tạo ra bởi sự triển khai hệ thống luận điểm
suốt toàn văn bản. Chỉ cho học sinh thấy được mạch ngầm liên kết các lí lẽ của văn
bản là điều cần thiết.
Ví dụ, về kết cấu, hệ thống lí lẽ trong “Tuyên ngôn độc lập” được xâu chuỗi
qua các luận điểm cơ bản sau:
+Lời kêu gọi cuối bài (tương đương với phần KB )
Rõ ràng, học sinh có thể vận dụng cấu trúc trên vào một bài NLXH, giả định
là bàn về đại dịch HIV/AIDS hay một hiểm họa môi trường chẳng hạn.
2.2.3. Tích hợp để rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu…
a/ Về dùng từ:
Do nhu cầu lập luận, bài văn nghị luận, nhất là NLXH, thường dùng đến
những từ ngữ như: thật vậy, tuy thế, cho nên, vì vậy, không chỉ…mà còn, trước hết,
sau đây, nói chung, tóm lại….
Trong các văn bản nghị luận, chính luận ở SGK cũng xuất hiện rất nhiều
những từ ngữ như vậy. Khi dạy các văn bản nghị luận, giáo viên cần chú ý đến các
từ, các ngữ có tác dụng làm chất kết dính giữa các đoạn và các câu văn: thế mà,
tuy nhiên, mặc dầu, do vậy, cho nên, vì vậy… Đó là những từ vừa có tác dụng liên
kết vừa giống như những đòn bẩy làm nổi rõ những lí lẽ, làm bật sáng những điểm
chủ yếu của vấn đề.
Văn bản “Tuyên ngôn độc lập” là một điển hình.
-Ví dụ 1: từ Thế mà trong câu mở đầu phần hai của tác phẩm: “…Thế mà,
hơn tám mươi năm nay bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái,
đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với
nhân đạo và chính nghĩa”.
Từ Thế mà, về mặt chức năng, được dùng để liên kết mạch lập luận giữa
phần nêu vấn đề với phần nội dung chính. Về ý nghĩa, từ Thế mà mang sức nặng
nghìn cân của cả đoạn văn trước nó, làm bật rõ sự trái ngược, nêu cao tội ác của
bọn thực dân Pháp được kể ở đoạn văn sau nó.
-Ví dụ 2: cụm từ “Bởi thế cho nên” ở phần cuối tác phẩm: “Bởi thế cho nên,
chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt
Nam, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ mọi hiệp ước…”
Thoạt nhìn, hai từ ngữ bởi thế và cho nên được dùng ở đây có vẻ thừa, vì
thông thường khi viết người ta chỉ chọn một trong hai. Tuy nhiên, đọc lại Tuyên
ngôn độc lập, ta thấy đúng là phải dùng như thế. Dùng như thế mới chặt chẽ, mới
hay. Sau một đoạn văn dài với rất nhiều lí lẽ xác đáng và chắc nịch ( từ Trước
dài, ít nhiều có sự phức tạp như mở rộng thành phần trạng ngữ, thành phần chêm
xen…
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đã giúp cho giáo viên giảng dạy có ý thức rõ ràng về việc giảng dạy
bài làm văn NLXH theo quan điểm tích hợp với việc giảng dạy các văn bản nghị
luận, chính luận, từ đó từng bước nâng cao kĩ năng làm bài cho học sinh, hạn chế
những lỗi cơ bản mà học sinh hay mắc phải trong lập luận, trong diễn đạt. Vận
dụng quan điểm tích hợp trên cũng giúp cho việc khai thác bài dạy phù hợp với
đặc trưng của kiểu bài đọc hiểu văn bản nghị luận, chính luận, việc tìm hiểu nội
dung kiên thức sâu sắc và thỏa đáng hơn, giờ dạy cũng hấp dẫn hơn. Từ đó, học
sinh một mặt vừa được rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận xã hội vừa nâng cao
được năng lực đọc hiểu các tác phẩm không phải là văn xuôi nghệ thuật.
Trong quá trình giảng dạy của bản thân, chất lượng làm bài bài của học sinh
được nâng lên thấy rõ. Học sinh đã bước đầu có ý thức sử dụng các thao tác lập
luận, biết xây dựng bố cục bài văn một cách hợp lí. Nếu trước đây học sinh rất
lúng túng khi đứng trước yêu cầu triển khai hệ thống luận điểm cho một bài làm
van NLXH cụ thể thì nay đã có tiến bộ hơn nhiều. Kết quả làm bài nghị luận xã hội
của học sinh cao hơn nhiều so với trước.
Kết quả tốt nghiệp THPT cuối năm của các lớp đang dạy trong năm học
2010 - 2011:
-12A1 : Thi đạt 78 % TB trở lên
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công Trường THPT Ngô Sĩ Liên
13
-12A7, 12A10: Thi đạt 64 % TB trở lên
Tổng chung cả 3 lớp đạt 68,6 % TB trở lên ( so với tỉ lệ chung của Tỉnh là
53,4% )
-Tỉ lệ đạt điểm TB khi làm kiểu bài NLXH của cả Tổ cũng thường đạt trên
65% (so với trước chỉ đạt 55%
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI
Trường THPT Ngô Sĩ Liên
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Trảng Bom, ngày 26 tháng 05 năm 2012
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2010 - 2011
–––––––––––––––––
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Rèn kĩ năng làm văn NLXH qua việc dạy kiểu bài đọc –
hiểu văn bản nghị luận, chính luận
Họ và tên tác giả: Nguyễn Văn Công
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn, Chủ tịch Công đoàn
Đơn vị: Trường THPT Ngô Sĩ Liên
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực khác)
- Quản lý giáo dục - Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Phương pháp giáo dục - Lĩnh vực khác:
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách: