Sáng kiến kinh nghiệm:
RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VĂN
HỌC DẠNG ĐỀ ĐẶT RA YÊU CẦU ĐỐI SÁNH
A. Lí do chọn đề tài:
Đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, ngành giáo dục
đã từng bước tiến hành cải cách giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp giảng
dạy ở các cấp học phù hợp với mục tiêu giáo dục, đào tạo. Trong xu hướng chung
ấy, tại hội nghị chuyên đề môn Ngữ văn được tổ chức hàng năm, chúng ta đã trao
đổi, bàn luận, rút kinh nghiệm dạy học, nhằm nâng cao hứng thú học tập cho học
sinh. Hiện nay một trong những vấn đề gây khó khăn không nhỏ cho thầy và trò
của chương trình Ngữ văn ở trường phổ thông là rèn luyện kĩ năng làm văn cho
học sinh.
Làm văn là một phân môn thực hành tổng hợp, học sinh vận dụng nhiều kiến
thức và kĩ năng từ các phân môn Tiếng Việt và Văn học, kết hợp với những hiểu
biết về đời sống và các môn khoa học khác. Bài viết của học sinh là sản phẩm thể
hiện kết quả của việc học văn, của quá trình rèn luyện kĩ năng làm văn. Tuy nhiên
nhiều học sinh cảm thấy làm văn là công việc khó khăn, các em không có hứng
thú, thậm chí sợ hãi, âu lo, ngay cả học sinh các lớp chuyên Văn cũng không tránh
khỏi tâm lí ngán ngại này. Ngoài nguyên nhân là do các em chưa nắm vững kĩ
năng phương pháp làm văn, còn có tâm lí hoảng loạn, lúng túng, bối rối khi gặp
các dạng đề mới, lạ.
Theo dõi, tìm hiểu các đề làm văn nghị luận văn học những năm gần đây,
chúng tôi nhận thấy xu hướng ra đề kiểm tra, đề thi các kì thi học sinh giỏi khu
vực, học sinh giỏi môn Văn cấp quốc gia, các kì thi đại học môn Ngữ văn có nhiều
đổi mới. Trong phần đề bài nghị luận văn học, đề ra không chỉ giới hạn trong kiến
thức của một tác phẩm hay một tác giả như trước đây mà đào sâu, mở rộng phạm
vi, đòi hỏi thí sinh dự thi phải có cái nhìn đối sánh giữa những ý kiến khác nhau về
tác phẩm, hoặc nhân vật chi tiết trong tác phẩm; đối sánh giữa hai hay nhiều tác
phẩm, hai tác giả hoặc hai chi tiết, hai nhân vật… trong những tác phẩm khác nhau
của cùng tác giả hoặc của các tác giả khác nhau, thậm chí là đối sánh đặc điểm thi
Phèo ( Chí Phèo – Nam
Cao ) và chi tiết “ấm nước
đầy và nước hãy còn ấm”
mà nhân vật Từ dành sẵn
cho Hộ (Đời thừa – Nam
Cao )
2011 -
2012
Cảm nhận về hai đoạn thơ:
đoạn thứ nhất của bài thơ
Đây thôn Vĩ Dạ ( Hàn Mặc
Tử ) và đoạn gồm bốn câu
thơ cuối của bài thơ Tương tư
( Nguyễn Bính )
Cảm nhận về ý nghĩa của
những hình ảnh kết thúc
trong hai tác phẩm Chí
Phèo ( Nam Cao ) và Vợ
nhặt ( Kim Lân )
2012 -
2013
Bình luận những ý kiến khác
nhau về hình tượng người
lính trong Bài thơ Tây Tiến
( Quang Dũng )
Bình luận các nhận xét về
nhân vật Từ (Đời thừa – Nam
Cao ) và nhân vật người đàn
bà hàng chài ( Chiếc thuyền
ngoài xa - Nguyễn Minh
trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu
khoa học và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học
sinh. Bảo đảm sự thống nhất, kế thừa và phát triển của chương trình giáo
dục”.
Yêu cầu đổi mới, linh hoạt trong ra đề kiểm tra, các hình thức kiểm tra
cũng là một hướng đi nhằm mục đích thúc đẩy việc học tập, rèn luyện,
nâng cao tri thức của học sinh.
Đặc trưng của phân môn làm văn trong nhà trường, ngoài phần lý thuyết
cùng với phần luyện tập gắn với từng nội dung còn có các tiết làm bài,
thực hành tìm hiểu đề, lập dàn ý. Chương trình Ngữ văn PTTH đã thiết kế
các tiết làm văn tương ứng với từng phần nghị luận văn học và nghị luận
xã hội, phân bổ theo chiều dài của chương trình với thời lượng hợp lí. Đây
cũng là cơ sở để giáo viên dựa vào đó đặt ra yêu cầu nâng cao, đưa thêm
các bài tập rèn luyện theo xu hướng ra đề mới.
Cuộc sống luôn vận động phát triển, đổi mới là tất yếu. Thực tế ra đề kiểm
tra thi cử cho thấy cần có sự điều chỉnh, bổ sung nhằm khắc phục khoảng
cách giữa học và hành, tạo hứng thú học tập môn Ngữ văn cho học sinh.
3
Kĩ năng làm văn cũng như các kĩ năng khác trong học tập và đời sống cần
phải rèn luyện, tu dưỡng, trải nghiệm mới hình thành phát triển vững vàng.
Kết quả của việc rèn luyện đó sẽ giúp các em nhận thấy học văn là cần
thiết, việc làm văn không phải là điều khó khăn và trên hết chính là cảm
nhận được giá trị của môn học này.
II. Nội dung, biện pháp thực hiện
1) Thực trạng trước khi thực hiện đề tài:
Thực tế rèn luyện kĩ năng làm bài nghị luận văn học đặt ra yêu cầu đối sánh có
một số thuận lợi và khó khăn như sau:
a) Thuận lợi
Kiến thức cơ bản về các kiểu bài làm văn trong chương trình Ngữ văn đã
được đưa vào giảng dạy từng bước, khá đầy đủ, có hệ thống từ chương trình Ngữ
cầu của đề.
Dạng đề nghị luận văn học đặt ra yêu cầu đối sánh khá mới lạ với học sinh
nên hiệu quả làm bài nghị luận không cao. Nhiều trường hợp đối sánh khập khiễng,
sơ sài hoặc sai sót kiến thức cơ bản, hiểu đối sánh là phải nêu được hơn - kém, hay
- dở. Có em làm bài đối sánh mà thực ra chỉ là tuần tự trình bày hết vấn đề A sang
vấn đề B, liệt kê toàn bộ nội dung tư liệu theo yêu cầu của đề mà chẳng đưa ra phát
hiện nào…
Thực tế trên đã thúc đẩy chúng tôi cố gắng, nỗ lực xây dựng phương pháp
giúp các em rèn luyện kĩ năng làm văn nghị luận văn học với dạng đề này.
2) Quá trình thực hiện đề tài:
2.1/ Chuẩn bị:
a) Giáo viên:
Xây dựng dự án nội dung bài học cho phần này, bao gồm các bước như
sau:
• Đưa ra một số đề bài làm văn nghị luận văn học có đặt ra yêu cầu đối
sánh cho các em làm quen với dạng đề này.
• Gắn với tiết rèn luyện kĩ năng làm văn trên lớp và trong giờ tự chọn
nâng cao, bồi dưỡng học sinh giỏi, luyện thi đại học.
• Tổ chức thực hành theo từng bước từ tìm hiểu đề, lập dàn ý đến vận
dụng các thao tác lập luận viết bài văn nghị luận.
• Hướng dẫn làm bài.
• Chấm, trả bài, chữa lỗi cho các em.
b) Học sinh:
• Chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên.
• Vận dụng những kiến thức đã biết về kĩ năng làm văn nghị luận để
giải quyết các yêu cầu của dạng đề này.
• Thực hiện viết bài văn nghị luận.
• Rút kinh nghiệm, sửa chữa bài làm, khắc phục những lỗi đã mắc phải
về nội dung và diễn đạt.
• Đúc kết, hình thành kĩ năng làm văn đối với dạng đề nghị luận văn
(Đề thi tuyển sinh Đại học năm 2013 - Khối D)
Loại đề này buộc học sinh phải đưa ra ý kiến của chính mình, mặc dù
dựa trên các ý kiến đã cho sẵn trong đề bài nhưng không thể lựa chọn theo
kiểu hoặc A thì B hay cả A, B đều đúng mà cần có những hiểu biết cảm thụ
sâu sắc văn bản để có được nhận xét, đánh giá đúng đắn, chính xác, hợp lí.
Phạm vi rộng: đề bài đưa ra yêu cầu đối sánh giữa hai hay nhiều tác phẩm,
phong cách hoặc đặc điểm nào đó giữa các tác giả, các giai đoạn văn học
Ví dụ:
Chủ nghĩa nhân đạo là một trong những truyền thống lớn nhất của
văn học Việt Nam. Qua việc phân tích, so sánh các tác phẩm Tự tình ( II)
6
( Hồ Xuân Hương ), Hai đứa trẻ ( Thạch Lam ) và Đời thừa ( Nam Cao ),
anh ( chị ) hãy làm rõ những đóng góp riêng, độc đáo của từng tác phẩm
cho truyền thống này.
(Đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm học 2005 – 2006 )
Nhóm 2:
Trong đề bài không nêu tiêu chí đối sánh cụ thể buộc học sinh phải tự xây
dựng tiêu chí đối sánh, lựa chọn cơ sở đối sánh sao cho hợp lí
Ví dụ:
Câu III.a. Theo chương trình Chuẩn (5,0 điểm)
Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
(Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử, Ngữ văn 11,
Tập hai, NXB Giáo dục, 2008, tr. 39)
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
yêu cầu của luận đề.
So giữa hai nhóm đề thì nhóm 1 có phần dễ nắm bắt yêu cầu nội dung luận
đề, có định hướng rõ ràng cho học sinh hơn các đề bài ở nhóm 2. Do đó, bước đầu
tiên là cho các em tiếp cận với các đề bài thuộc nhóm 1, phạm vi hẹp, tập trung xử
lí vấn đề về các ý kiến khác nhau đối với một nhân vật hoặc đối với một tác phẩm
văn học.
Tổ chức thực hiện:
Giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 4 đến 6 học sinh,
giao đề bài cho các em tìm hiểu, phân tích đề, lập dàn ý.
Dạng đề này buộc các em phải tranh luận trong nhóm đưa ra ý kiến cá nhân
và đi đến thống nhất quan điểm cùng nhau.
Quá trình chuẩn bị bài, soạn bài cũng là dịp để các em ôn tập kiến thức, đào
sâu tìm hiểu thêm về tác phẩm, tác giả, dư luận văn học xung quanh tác phẩm, tác
giả ấy.
Bước đầu để tập cho các em quen dần với dạng đề này, giáo viên nên đưa ra
những bài tập nhỏ, gắn với tác phẩm hoặc tác giả mà các em vừa tìm hiểu trong giờ
đọc văn.
Ví dụ:
1: Sau khi tìm hiểu văn bản Hầu Trời của nhà thơ Tản Đà, giáo viên cho các
em thảo luận nhóm về vấn đề:
Điểm gặp gỡ và khác biệt giữa cái ngông của Tản Đà trong Hầu trời và cái
ngông của Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng.
2: Học Tương tư của Nguyễn Bính, giáo viên đặt vấn đề đối sánh tâm trạng
và cách giãi bày tình yêu giữa nhân vật trữ tình trong bài thơ với chàng trai trong
8
ca dao về tình yêu đôi lứa. Hoặc đưa ra yêu cầu đối sánh giữa ngôn ngữ thơ lục
bát trong Truyện Kiều của Nguyễn Du với ngôn ngữ thơ lục bát của Nguyễn Bính
trong Tương tư.
3: Khi đọc - hiểu Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, giáo viên có thể đặt vấn
đề đối sánh hai ý kiến khác nhau về bài thơ như: có người hiểu bài thơ là bức
9
3/. Điểm gặp gỡ về quan niệm tình yêu của hai nhà thơ Puskin và Tagore
qua hai thi phẩm Tôi yêu em và Bài thơ số 28.
Mục đích của bước này là tập dần cho các em cách diễn đạt phù hợp với
kiểu đề này.
Thực tế cho thấy nhiều học sinh nhận thức vấn đề khá tốt, phát hiện được
điểm chung và riêng giữa các đối tượng nhưng lúc trình bày lại vô cùng lúng túng,
rối rắm, không làm bật lên vấn đề. Có em phân tích lần lượt từ nhân vật này đến
nhân vật kia, từ chi tiết này đến chi tiết nọ, tác phẩm này sang tác phẩm khác như
liệt kê từng trường hợp. Có em lại cứ đan xen giữa điểm gặp gỡ và khác biệt, trình
bày dài dòng, không hệ thống, thiếu mạch lạc.
Do đó để khắc phục vấn đề này, giáo viên hướng dẫn học sinh lập bảng so
sánh, dựa trên tiêu chí sẵn có trong đề bài tiến hành tìm ý, liệt kê song song các
đối tượng cần đối sánh. Khoanh vùng những điểm chung và riêng, chia tách thành
hai phần giống và khác. Sau đó thực hiện bài viết. Với dạng đề này, khi trình bày
học sinh có thể tùy ý lựa chọn trình bày phần chung trước, riêng sau và ngược lại.
Tuy nhiên đo đặc thù của sáng tạo nghệ thuật nên sự khác biệt bao giờ cũng nhiểu
hơn, nổi trội hơn.
c) Bước 3: Hướng dẫn giải quyết các dạng đề nghị luận văn học có yêu cầu
đối sánh
Hướng dẫn học sinh thực hành và luyện tập các đề làm văn nghị luận văn
học dạng đề có yêu cầu đối sánh. Phần này tiến hành theo ba mức độ từ dễ đến
khó, từ đơn giản đến phức tạp.
Mức độ 1:
Giải quyết đề bài đặt ra yêu cầu đối sánh hai quan điểm khác nhau của cùng
một đối tượng.
Ví dụ:
Nhận định về niềm khát khao tận hưởng sự sống trong bài thơ Vội
vàng của Xuân Diệu, từng có ý kiến cho rằng: đó là tiếng nói của cái tôi vị
kỉ tiêu cực. Lại có ý kiến khẳng định: đó là tiếng nói của cái tôi cá nhân
Tìm ý cho đề bài trên
Các ý Nội dung cần có
11
Phần 1
Ý 1: Vài nét về Xuân Diệu và bài thơ Vội vàng:
Ý 2: Giải thích
• Cái tôi là biểu hiện cao độ của ý thức cá nhân, xuất hiện
khi con người có nhu cầu là chính mình.
• Cắt nghĩa 2 ý kiến:
− Cái tôi vị kỉ tiêu cực là cái tôi chỉ vì mình, đề cao mình
một cách cực đoan, bất chấp tất cả
− Cái tôi cá nhân tích cực là cái tôi với những khát vọng
nhân bản chính đáng, hướng tới những giá trị sống tốt
đẹp, lành mạnh.
→ hai cách hiểu đối lập về cái tôi cá nhân cá thể trong tác phẩm
do những cách hiểu khác nhau
Hiểu theo ý kiến 1: phê phán, bài trừ cái tôi. Đây là quan điểm
cũ mang tính phiến diện, chỉ coi trọng cái ta, xem nhẹ cái tôi.
Hiểu theo ý kiến 2: coi trọng quyền sống chính đáng của
Phần 2
Bày tỏ ý kiến cá nhân:
Ý 1: Cái tôi say đắm, thiết tha tận hưởng vẻ đẹp cuộc sống trần
thế; bộc lộ quan điểm mới mẻ về cái đẹp, mùa xuân, tuổi trẻ và
tình yêu. Cái tôi ấy nhìn đời bằng cặp mắt xanh non, biếc rờn
thấy thế giới tràn đầy xuân sắc và tình tứ…
Ý 2: Cái tôi nhận thức sâu sắc về sự chảy trôi của thời gian và
sự ngắn ngủi của kiếp người. Thay vì buông xuôi chán nản, cái
tôi ấy đã chọn lối sống vội vàng , trân trọng từng phút giây sự
sống, không muốn sống hoài, sống phí. Như vậy cái tôi ấy có
phải là một cái tôi tiêu cực?
Về bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử , có người hiểu bài thơ là
bức tranh thi vị về xứ Huế, có người hiểu bài thơ trước hết thể hiện mối tình
riêng tư của tác giả. Em có đồng tình với các ý kiến trên, theo em nên hiểu
bài thơ như thế nào?
Mức độ 2:
Dạng đề đưa ra quy định nội dung cần đối sánh nhưng không có ý
kiến rõ ràng, không định hướng tiêu chí đối sánh buộc người viết phải tự lựa
chọn các nội dung đối sánh.
Ví dụ:
Chủ nghĩa nhân đạo là một trong những truyền thống lớn nhất của
văn học Việt Nam. Qua việc phân tích, so sánh các tác phẩm Tự tình ( II)
( Hồ Xuân Hương ), Hai đứa trẻ ( Thạch Lam ) và Đời thừa ( Nam Cao ),
13
anh ( chị ) hãy làm rõ những đóng góp riêng, độc đáo của từng tác phẩm
cho truyền thống này.
• Thao tác 1: tìm hiểu đề, tìm ý
− Yêu cầu các em nhận định đề: xác định luận đề, yêu cầu nội
dung cần đối sánh là gì?
− Cắt nghĩa nội dung luận đề. Tìm hiểu những biểu hiện của nội
dung đó trong từng đối tượng cần đối sánh theo yêu cầu của đề
bài.
− Chọn các tiêu chí đối sánh và hệ thống lại nội dung đối sánh.
− Chọn những điểm chung và riêng của các đối tượng theo từng
tiêu chí
− Đưa ra đánh giá sau cùng chốt lại giá trị của vấn đề.
• Thao tác 2: lập dàn ý
Dàn ý gồm các nội dung cơ bản sau
Phần 1. Mở bài
Giới thiệu đối tượng cần đối sánh trong bài làm.
Giới thiệu luận đề: nội dung cần đối sánh.
nên đưa ra vấn đề so sánh sự khác biệt trong tả cảnh mùa thu giữa Chùm thơ thu
của Nguyễn Khuyến và bài Vịnh mùa thu của Nguyễn Cộng Trứ, từ đó yêu cầu các
em tổng hợp đưa ra nhận định về việc tuân thủ và phá vỡ tính quy phạm trong văn
học trung đại.
Giảng dạy giá trị nhân đạo của Truyện Kiều ( Nguyễn Du ), giáo viên đặt
vấn đề đối sánh tư tưởng nhân đạo của nhà thơ với các tác giả cùng thời qua các
tác phẩm như Chinh phụ ngâm ( Đặng Trần Côn ), Cung oán ngâm ( Nguyễn Gia
Thiều ), thơ Hồ Xuân Hương.
Tìm hiểu sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nam Cao, hướng học sinh đối sánh
về hình tượng người trí thức trong sáng tác của Nam Cao với hình tượng trí thức
trong các sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn.
…
Bước chuẩn bị này hình thành khả năng liên tưởng, đối sánh nhạy bén không
chỉ phục vụ cho việc làm bài văn dạng đề này mà còn giúp cho các em có những
kiến giải sâu sắc, tăng năng lực cảm thụ văn học. Mặt khác còn giúp cho giáo viên
phát hiện năng lực học văn của học sinh, khuyến khích các em tìm hiểu các sáng
tác văn học ngoài chương trình, nâng cao khả năng phân tích, tổng hợp.
Ngoài ra, tùy từng văn bản đọc - hiểu, giáo viên tập cho các em thói quen lập
bảng so sánh các tiêu chí của cùng một đối tượng. Có thể so sánh sau khi học văn
bản hoặc trong lúc soạn bài theo yêu cầu của giáo viên đặt ra.
Ví dụ:
Sau khi học văn bản Đây mùa thu tới và Thơ duyên của Xuân Diệu, yêu cầu
lập bảng so sánh về tứ thơ giữa hai thi phẩm này và bài thơ Thu điếu của Nguyễn
Khuyến.
Từ đó tự rút ra kết luận về điểm gặp gỡ và khác biệt giữa các tác phẩm và
nhận xét về sự sáng tạo, cống hiến của các tác giả.
15
Mức độ 3 :
Dạng đề chỉ đưa ra đối tượng so sánh nhưng không định hướng sẵn, không
đưa ra nội dung cần đối sánh, chưa có các tiêu chí. Đối với kiểu đề này, học sinh
nên xanh thẳm, và từ đó nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành
quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo
mà từ đó, người ta luôn luôn nhìn thấy dòng sông m ềm như tấm lụa, với
16
những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé vừa bằng con thoi. Những ngọn đồi
này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam
thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả
(…)
(Ai đã đặt tên cho dòng sông? – Hoàng Phủ Ngọc Tường,
Ngữ văn 12 Nâng cao, Tập một, NXB Giáo dục, 2009, tr. 179)
• Thao tác 1: tìm hiểu đề, tìm ý
− Yêu cầu các em nhận định đề: xác định luận đề, đối tượng cần
đối sánh, nội dung cần đối sánh là gì?
− Cắt nghĩa nội dung luận đề. Tìm các tiêu chí đối sánh phù hợp
với đối tượng.
Đối sánh giữa hai đoạn thơ, cần đưa ra những tiêu chí nào phù
hợp với đặc trưng của thơ?
Đối sánh giữa hai đoạn văn xuôi, cần đưa ra những tiêu chí nào
cho phù hợp với đặc trưng của văn xuôi?
− Hệ thống lại nội dung đối sánh. Chọn những điểm chung và
riêng của các đối tượng theo từng tiêu chí
− Đưa ra đánh giá sau cùng chốt lại giá trị của vấn đề: đối sánh
nhằm mục đích phát hiện về sự sáng tạo của mỗi tác giả, đưa
đến nhận xét về phong cách tác giả biểu hiện trong các tác
phẩm cụ thể.
• Thao tác 2: lập dàn ý
Dàn ý gồm các nội dung cơ bản sau
Phần 1. Mở bài
Giới thiệu đối tượng cần nghị luận trong bài làm.
Phần 2. Thân bài
sinh phải nắm vững kiến thức lí luận văn học đã được cung cấp trong
chương trình học, biết vận dụng vào đọc - hiểu tác phẩm cụ thể. Từ đó,
luyện tập lập bảng so sánh và tổng hợp thành những điểm giống và khác
giữa các đối tượng
Ví dụ:
Đối sánh hai đoạn thơ, chọn các bình diện sau:
− Về nội dung: đề tài, cảm hứng, tư tưởng tình cảm
− Về nghệ thuật: thể thơ, phương thức trữ tình, tứ thơ ( nguồn thi liệu
và cách cấu tứ ), ngôn ngữ thơ
Kinh nghiệm cho thấy khi học sinh xây dựng được hệ thống các bình diện đối
sánh cơ bản phù hợp với đối tượng cần đối sánh trong đề bài thì lúc bước vào xử lí
giải quyết đề bài cụ thể, các em không còn lúng túng, bối rối mà áp dụng được
ngay.
d) Bước 4:
Tiến hành bước chấm, sửa bài cho học sinh nhằm phát hiện những ưu
điểm và hạn chế trong bài làm của học sinh:
− Yêu cầu học sinh sửa bài, lập dàn ý, chữa lỗi diễn đạt kết hợp
rèn luyện kỹ năng làm văn cho học sinh.
18
− Nhận xét bài làm của học sinh, tuyên dương các bài làm tốt.
− Gợi ý thêm các đề bài tương tự, mở rộng, nâng cao vấn đề.
− Lập bảng thống kê tần suất các lỗi mắc phải của học sinh, đưa
ra giải pháp khắc phục những hạn chế đó.
Ví dụ:
Thực tế cho thấy các em hay mắc phải những lỗi sau:
− Xác định các tiêu chí đối sánh chưa hiệu quả, còn sơ sài hoặc rườm rà,
vụn vặt.
− Khi hành văn sa vào phân tích vẻ đẹp của từng đối tượng cần đối sánh
mà chưa đưa ra các bình diện đối sánh.
− Nhận xét đánh giá của các em còn non, phiến diện hoặc thiên về cảm
dài từ cả hai phía giáo viên và học sinh. Phối hợp đồng bộ giữa các phân
môn trong chương trình Ngữ văn đồng thời cập nhật những vấn đề mới,
quan điểm mới trong đọc - hiểu văn bản và lí luận văn học.
• Mạnh dạn điều chỉnh thời lượng chương trình, nhất là ở phân môn Làm văn
để có thời gian tiến hành từng bước trong quá trình thực hiện rèn luyện kĩ
năng làm bài văn nghị luận văn học dạng đề có yêu cầu đối sánh cho học
sinh.
• Đưa nội dung rèn luyện này chương trình tự chọn cho học sinh học Ngữ văn
nâng cao để giúp các em đáp ứng các yêu cầu kiểm tra, thi cử; tự tin, chủ
động trong việc học văn và cả việc đánh giá các vấn đề trong đời sống sau
này.
• Thành lập ngân hàng đề về dạng đề này nhằm phục vụ cho việc giảng dạy
thêm hiệu quả. Mỗi giáo viên đóng góp cho ngân hàng năm đề bài có hướng
dẫn thực hành.
E. Kết luận
Trên đây chỉ là những thực nghiệm bước đầu, chúng tôi tiến hành trong
thời gian ngắn đã thu được những kết quả khích lệ trong ôn luyện môn Ngữ văn
cho học sinh. Tuy có một số ưu điểm nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót rất mong
nhận được những ý kiến đóng góp, xây dựng của các thầy cô.
Biên Hòa, ngày 25 tháng 4 năm 2014
Người thực hiện,
Nguyễn Thị Thanh Phương
20