Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
A.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhà trường phổ thông của chúng ta từ nhiều năm nay đã chú ý dạy
cho học sinh cách sử dụng đúng các từ và viết đúng các câu. Việc làm này
đã thu được kết quả nhất định. Học sinh của chúng ta viết được nhiều
câu đúng và không ít câu hay.
Tuy viết được nhiều câu đúng về cấu trúc ngữ pháp và cả những câu
văn hay nhưng học sinh vẫn không viết được những đoạn văn hay hoặc bài
văn tốt. Thông qua kinh nghiệm giảng dạy hàng năm, tôi thấy rằng: Có
nhiều học sinh khi đặt câu theo mô hình ngữ pháp, viết những câu rời, các
em đều đặt được và viết đúng, nhưng chính những em đó khi làm một bài
văn, mặc dù những câu trong bài viết không sai nhưng nhìn chung cả bài
hoặc từng đoạn văn thiếu sự gắn bó hữu cơ, bài văn chỉ là tập hợp của những
câu đúng.
Tập làm văn là một môn học mang tính chất thực hành tổng hợp giữa
các phân môn tiếng việt với phân môn văn học của chương trình ngữ
văn.
Khi làm một bài tập làm văn, học sinh phải huy động tổng hợp kiến
thức tiếng việt để viết đúng chính tả, dùng từ chính xác, đặt câu đúng ngữ
pháp phù hợp với phong cách văn bản và diễn đạt mạch lạc nhằm đạt được
yêu cầu của đề bài. Ngoài những kiến thức và kĩ năng ngữ văn, khi làm bài
tập làm văn, học sinh còn phải huy động năng lực quan sát, trí nhớ, vốn sống
và khả năng tư duy của mình để nội dung bài làm có được những nét tinh tế,
những vẻ sinh động và một phong cách riêng.
Tập làm văn là một phân môn có vị trí rất quan trọng trong việc đánh
giá kết quả học tập môn ngữ văn thông qua hệ thống các bài tập tạo lập văn
bản cũng như thực hành sử dụng tiếng Việt. Chương trình ngữ văn THCS đã
Trang 1
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
có nhiều đổi mới so với chương trình chỉnh lí 1995. Với quan điểm chú
trọng tới việc rèn luyện, nâng cao kĩ năng thực hành tạo lập văn bản nói và
Qua nhiều năm thử nghiệm tôi nhận thấy rằng: Để làm tốt một bài văn
việc đầu tiên các em cần hiểu rõ đặc trưng của từng phương thức biểu đạt,
trên cơ sở đó các em phải thiết lập được dàn ý của bài viết. Nếu chúng ta
định hướng cho học sinh làm những yêu cầu trên thì có lẽ các em sẽ tự tin
trong khi viết bài. Tôi đã thực hiện và thu được một số kết quả đáng kể, sau
đây là một vài kinh nghiệm nhỏ, tôi muốn cùng trao đổi với tất cả các anh
chị đồng nghiệp, với những người đã từng trăn trở trước những bài viết của
học sinh. Rất mong sự đồng cảm, sẻ chia và trao đổi .
B. PHẠM VI ĐỀ TÀI
- Trong chương trình ngữ văn THCS các em được làm quen với 6
phương thức biểu đạt ( Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận
, hành chính – công vụ). Đối với kiểu bài: tự sự, miêu tả, biểu cảm phần nào
các em vẫn thể hiện được cảm xúc của mình qua bài viết, nhưng để đánh
giá, nhận định một vấn đề trong xã hội, trong cuộc sống thì khá nhiều em
còn lúng túng. Bởi nghị luận xã hội là một lĩnh vực rất rộng: Từ bàn bạc
những sự việc, hiện tượng trong đời sống đến luận bàn những vấn đề chính
trị, chính sách, từ những vấn đề đạo đức, lối sống đến những vấn đề có tầm
chiến lược, những vấn đề tư tưởng triết lí…Trong phạm vi tập làm văn ở
nhà trường bậc THCS, học sinh được làm quen kiểu bài văn nghị luận xã hội
ở mức độ thấp:
Nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống và nghị luận về một vấn đề tư
tưởng đạo lí.
Trong cấu trúc chương trình sách giáo khoa Ngữ văn có các tiết:
+ Tiết 99: Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
+ Tiết 100: Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống.
Trang 3
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
+ Tiết 108: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
+ Tiết 112: Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí.
- Trong khuôn khổ bài viết có hạn tôi chỉ dừng lại giới thiệu và minh họa
Ví dụ: Hãy thử so sánh hai đoạn văn sau đây:
Đoạn 1: “Biết bao hứng thú khác nhau ta tập hợp được nhờ cách ngao
du thú vị ấy, không kể sức khoẻ được tăng cường, tính khí trở nên vui vẻ.
Tôi thường thấy những kẻ ngồi trong các cỗ xe tốt chạy rất êm nhưng mơ
màng, buồn bã, cáu kỉnh hoặc đau khổ; còn những người đi bộ lại luôn luôn
vui vẻ, khoan khoái và hài lòng với tất cả ” ( trích Đi bộ ngao du - Ru-xô)
Đoạn 2: “ Nắng bây giờ bắt đầu len tới đốt cháy rừng cây. Những cây
thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc dưới cái
nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà
lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn
trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe ”
(trích Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long).
Ở đoạn văn 1 là đoạn văn nghị luận, tác giả dùng lí lẽ và dẫn chứng để
nêu bật vai trò và tác dụng của việc đi bộ ngao du. Ở đoạn văn 2 là đoạn văn
miêu tả, tác giả đã dùng những từ ngữ gợi cảm, phép nghệ thuật tu từ để
miêu tả vẻ đẹp hết sức lãng mạn ở Sa Pa - xứ sở của những rặng đào.
2. Đặc trưng của văn nghị luận:
2.1/ Văn nghị luận được xây dựng trên cơ sở của tư duy lôgíc. Nhiệm
vụ của bài văn nghị luận là phát biểu dưới hình thức các luận điểm. Luận
điểm là linh hồn của bài viết. Luận điểm đúng đắn, chân thực, đáp ứng nhu
cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục.
2.2/ Trong văn nghị luận, mỗi đoạn văn có một kết cấu riêng, chúng
thường mang bóng dáng một trong những mô hình cấu trúc: tổng - phân –
hợp, diễn dịch, quy nạp Ở cấp độ liên câu các câu cũng được sáp xếp theo
một trật tự tuyến tính. Nếu trật tự các câu không phù hợp với trình tự lập
Trang 5
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
luận thì tính logíc bị phá vỡ.
2.3/ Sức thuyết phục của một bài văn nghị luận trước hết toát ra từ
một nội dung tư tưởng sâu sắc, từ hệ thống lí lẽ và luận chứng phong phú,
- Suy nghĩ của em từ câu ca dao: Công cha như núi Thái Sơn - Nghĩa
mẹ nư nước trong nguồn chảy ra.
3.2/ Nghị luận văn học: Trình bày những nhận xét, đánh giá thông
qua việc cảm nhận, phân tích nhân vật văn học. Những ý kiến nhận xét xuất
phát từ cách xây dựng hình tượng nhân vật của tác giả ( ngoại hình, tính
cách, hành động ) hoặc những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác
phẩm.
* Ví dụ:
- Vẻ đẹp và bi kịch của người phụ nữ trong văn học trung đại.
- Vẻ đẹp của người lính bộ đội cụ Hồ qua ba thời kì (chống Pháp,
chống Mĩ, thời hoà binh) qua ba bài thơ: Đồng chí - Chính Hữu, Bài thơ về
tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật, Ánh trăng - Nguyễn Duy.
- Chiếc lược ngà - Bi kịch về chiến tranh hay bài ca về tình phụ tử.
- Phân tích bài thơ Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải.
II/ Cách làm một bài văn nghị luận xã hội:
- Dường như khi giáo viên hỏi học sinh về lí thuyết các bước khi làm
một bài văn nói chung và một bài nghị luận xã hội nói riêng các em đều
định hình được: 4 bước (1/Tìm hiểu đề và tìm ý ; 2/ Lập dàn ý; 3/ Viết bài ;
4/ Đọc lại bài viết và sửa chữa) nhưng thực chất khi tiếp cận một đề tập làm
văn đa phần là các em không tuân thủ các bước nói trên mà cố lắm thì tìm
một vài ý cơ bản sau đó nháp phần mở bài rồi cắm cúi viết đến khi trống
đánh hết giờ nộp bài. Chính vì vậy cho nên có những bài viết sa đà, lạc đề,
diễn đạt lủng củng theo kiểu nghĩ gì viết nấy, không trau chuốt không gọt
dũa…Trước thực trạng đó, tôi thường dành nhiều thời gian kiểm tra và rèn
cho các em với những nội dung sau:
-Cho đề bài, yêu cầu học sinh phân tích đề bài và tìm ý cho đề bài đó
hoặc lập dàn ý cho đề bài trên. Sau phần kiểm tra đó tôi thường cho các em
Trang 7
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
nhận xét, trình bày trước lớp. Phần đa các em trình bày không đầy đủ hoặc
phương hướng giải quyết vấn đề do đề bài nêu lên.
b/ Bước 2: Phân tích, xác định yêu cầu về nội dung và hình thức
nghị luận.
- Nhận diện xem đề thuộc loại hình nào? ( Đề ttrực tiếp hay đề tự
do). Phân tích đâu là dự kiện cho trước (những tiền đề của tình huống có vấn
đề - bộ phận A). Sau đó tìm hiểu những yêu cầu về nội dung và hình thức,
phương hướng, cách thức, giới hạn giải quyết vấn đề (bộ phận B)
- Phải tìm hiểu cặn kẽ ý nghĩa của những từ ngữ quan trọng, vai trò
của các vế, các câu, phân tích quan hệ ngữ pháp và quan hệ lôgíc – ngữ
nghĩa của chúng. Bắt đầu từ sự phân tích ý nghĩa trực tiếp của câu, chú trọng
lời văn trích (nếu có), tập trung chú ý vào những từ ngữ đầu mối then chốt
và ngăn tách các vế trong câu văn để dễ phân biệt. Phải nghiền ngẫm, cố
phát hiện cho hết ý nghĩa của các từ, (nghĩa đen và nghĩa bóng)
Ví dụ minh hoạ:
Đề 1/ Tục ngữ có câu: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Nhưng có
bạn nói: Nếu không có ý thức học tập thì chắc gì đã có sàng khôn nào. Hãy
chứng minh rằng câu tục ngữ và ý kiến của bạn em đều có khía cạnh đúng.
- Nhận diện đề: Đề trực tiếp.
- Kiểu bài: Nghị luận xã hội
- Gạch chân các dữ kiện. Đi một ngày đàng, học một sàng khôn
không có ý thức học tập thì chắc gì đã có sàng khôn nào. Đề đặt ra những
vấn đề gì cần giải quyết? (đi – học) nghĩa đen, nghĩa bóng
- Thao tác nghị luận : Chứng minh (Câu tục ngữ và ý kiến của bạn em
đều có khía cạnh đúng), và sử dụng lập luận giải thích để làm sáng tỏ vấn
đề.
- Nguồn tư liệu để dẫn chứng: Thực tế cuộc sống, tấm gươngsáng
qua sách vở.
Đề 2: Nhà triết học người Anh Phơrăngxit Bêcơn có nói: Tri thức là
sức mạnh. Em hiểu câu nói đó như thế nào?
Trang 9
Câu nói có 2 vế: Tri thức và sức mạnh.
Trang 10
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
- Luận điểm 1: Tìm hiểu tri thức là gì, tại sao tại sao tri thức là sức
mạnh.
- Luận điểm 2: Con người ta khi chưa có tri thức và không có tri
thức thì tình trạng như thế nào? Khi có tri thức rồi thì trở thành con người
như thế nào?
- Luận điểm 3: Câu nói đặt ra nhiệm vụ gì?
+ Đối với bài văn nghị luận, khi tìm ý chúng ta phải biết cách đặt câu
hỏi và biết cách trả lời câu hỏi. Mỗi kiểu bài đòi hỏi cách đặt câu hỏi thích
hợp để tìm ý đúng với yêu cầu của thể loại. Việc vận dụng câu hỏi phải hết
sức linh hoạt và đúng với từng kiểu bài.
2/ Lập dàn ý
2.1/ Mục đích của việc lập dàn ý
Gơt-tơ, nhà văn nổi tiếng của Đức quả quyết: Tất cả đều lệ thuộc vào bố
cục. Còn Đôt-tôi-ep-xki, nhà văn Nga của thế kỉ XX ước ao: Nếu tìm được
một bản bố cục đạt thì công việc sẽ nhanh như trượt trên băng. Ix-pen, một
nhà văn của Thuỵ Điển đã để hẳn một năm lao động xây dựng bố cục cho
bản trường ca và ông đã hoàn thành bản trường ca đó trong ba tháng. Thật
vậy, để làm một dàn ý tốt không phải dễ. Muốn có một dàn ý tốt thì ngoài
việc nghiên cứu kĩ đề để lĩnh hội yêu cầu của đề còn phải có thói quen bố trí
cho khoa học. Có nhiều học sinh cho rằng: Thời gian làm bài rất hạn chế, chỉ
90 phút nếu còn phải lập dàn ý thì lãng phí mất khoảng thời gian quý báu!
Sự thật không phải như vậy. Dàn ý là nội dung sơ lược của bài văn. Nói cách
khác, đó là những hệ thống suy nghĩ, tìm tòi, nhận xét, đánh giá của học sinh
dựa trên yêu cầu cụ thể của đề bài. Lập dàn ý trước khi viết bài có những cái
lợi sau:
- Nhìn được một cách bao quát toàn cục nội dung chủ yếu mà bài làm cần
đạt được, đồng thời thấy được mức độ giải quyết vấn đề sẽ nghị luận và đáp
(2) Luận cứ 2: Lập luận, dẫn dắt đưa ra các dẫn chứng
+Dẫn chứng 1, dẫn chứng 2
+ Phân tích dẫn chứng, tóm tắt và chuyển ý
(II) Luận điểm 2.
Trang 12
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
(1) Luận cứ 1: Lập luận, dẫn dắt đưa ra các dẫn chứng
+Dẫn chứng 1, dẫn chứng 2
+ Phân tích dẫn chứng, tóm tắt và chuyển ý.
(2) Luận cứ 2: Lập luận, dẫn dắt đưa ra các dẫn chứng
+Dẫn chứng 1, dẫn chứng 2…
(…) + Phân tích dẫn chứng, tóm tắt và chuyển ý
(III) Mở rộng vấn đề: Tổng hợp vấn đề đã chứng minh (giải thích,
bình luận), nhấn mạnh tính chặt chẽ không thể bác bỏ được.
c/ Kết bài: Nêu lên suy nghĩ, quan điểm khái quát của mình về vấn đề
cần nghị luận, rút ra bài học cho bản thân.
Ví dụ minh họa:
* Đề 3: Lập dàn ý cho đề bài sau: “Sách mở ra trước mắt tôi những
chân trời mới” (M. Gorki)
a/ Mở bài:
- Giới thiệu khái quát vai trò và tác dụng của sách trong đời sống.
- Trích dẫn câu nói của M. Gorki
b/ Thân bài:
+ Luận điểm 1
- Giải thích ý nghĩa của câu nói;
Về kinh nghiệm sản xuất
* Sách là gì? - Là kho tàng trí thức Về đời sống con người
Về thế giới tự nhiên
Sản phẩm của văn minh nhân loại
- Là sản phẩm tinh thần Kết quả của lao động trí tuệ
điệu của cả tác phẩm, và người ta thường tìm nó rất lâu. Phần mở bài có vị
trí quan trọng vì:
- Nó là phần đầu tiên, phần trước nhất đến với người đọc, gây cho
người đọc cảm giác, ấn tượng ban đầu về bài viết, tạo ra âm hưởng chung
cho toàn văn bản.
- Mở bài rõ ràng, hấp dẫn tạo được sự hứng thú người đọc và
Trang 14
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
thường báo hiệu một nội dung tốt.
+ Chức năng của phần mở bài: Nó phản ánh được yêu cầu cơ bản của
đề bài. Nó giới thiệu nêu vấn đề trung tâm mà bài nghị luận đề cập và giải
quyết, nó xác định phương hướng, phạm vi, mức độ giải quyết vấn đề.
+ Yêu cầu về nội dung của phần mở bài:
- Đưa ra được tiền đề, dữ kiện đòi hỏi phải có lời giải đáp (trong
phần thân bài). Đối với đề bài có yêu cầu phê phán, không nên để lộ thiên
hướng của người viết (tức là không để lộ điều khẳng định) bài viết sẽ kém
sức thuyết phục.
- Cấu tạo của phần mở bài ở dạng đầy đủ
Dẫn vào đề: Nêu xuất xứ của đề, của một ý kiến, một nhận
định… có thể bắt đầu bằng một sự kiện đặc sắc, một hình tượng hấp dẫn,
một thôn báo thú vị để kích thích trí tưởng tượng của người đọc. Có thể vào
thẳng vấn đề mà không cần lời dẫn.
Đề xuất vấn đề: Đây là bộ phận có nhiệm vụ tạo nên tình
huống có vấn đề mà mình sẽ giaỉ quyết trong phần sau (có thể nêu một câu
hỏi bất ngờ, một mẫu chuyện để gây cấn hấp dẫn…)
Giới hạn vấn đề: Xác định phương hướng, phương pháp, phạm
vi mức độ, giới hạn của vấn đề
- Về hình thức: Phần mở bài phải cân xứng với khuôn khổ bài viết,
những câu dẫn đề nên viết ngắn gọn, khéo léo, tránh viết dài dòng, cầu kì,
tránh viết lan man không ăn khớp với những phần sau.
sẵn thì ta phải định ra một trình tự để giải quyết sao cho hợp lôgíc. Khi viết
phần thân bài cần chú ý các điểm sau:
Viết đoạn văn nghị luận: Đoạn văn thường được xây dựng theo
câu chủ đề, nó có tác dụng định hướng, triển khai tránh được tình trạng lạc
ý. Câu chủ đề tức là câu luận điểm đặt ở đầu đoạn ứng với mô hình diễn
dịch, đặt ở cuối đoạn ứng với mô hình quy nạp. Có khi đoạn văn không có
câu chủ đề. Trong trường hợp này, chủ đề của đoạn văn được ngầm hiểu
Trang 16
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
qua việc khái quát ý của tất cả các câu. Sau mỗi đoạn văn phải giải quyết
trọn vẹn một đề mục. Những chỗ xuống dòng thích hợp rrất cần cho một bài
làm. Giúp cho bài văn sáng sủa, mạch lạc.
Trong quá trình làm bài cần lưu ý vận dụng phép liên kết câu, liên
kết đoạn.
Các ý chính (ý trọng tâm) được viết thành các đoạn chiếm tỉ lệ
thích đáng so với toàn bài. Các ý phụ chỉ nên viết thành những đoạn văn
ngắn.
c/ Viết phần kết bài:
- Phần kết bài không chỉ là tổng kết, tóm lược những luận điểm cơ
bản
đã trình bày trong phần thân bài mà còn nhấn mạnh, khẳng định ở tầm nhìn
cao hơn. Thông thường thì người ta nêu mối tương quan biện chứng giữa các
luận điểm hoặc cũng có thể nêu ý nghĩa, tác dụng chủ yếu về mặt giáo dục
và nhận thức vấn đề đối với bản thân người viết. Trong phần kết bài nếu có
những ý sắc sảo độc đáo sẽ gây được ấn tượng mạnh mẽ về sự hoàn tất trọn
vẹn, gợi cho những ý nghĩ, cảm xúc sâu sắc, tạo được dư âm cuối cùng ở
người đọc.
- Phần kết bài có quan hệ hữu cơ với phần mở bài và phần thân bài.
Đặc biệt là phần mở bài và phần kết bài thể hiện được mối quan hệ chặt chẽ
và thống nhất về mặt nội dung cũng như phong cách diễn đạt.
chưa hoàn chỉnh của kinh nghiệm ấy, góp phần làm giàu vốn tri thức của dân
tộc.
Dạng vận dụng: Là cách kết bài nêu ra phương hướng áp dụng cái
tốt, cái hay hoặc khắc phục cái xấu, cái dở của hiện tượng hay ý kiến đề cập
trong bài văn vào cuộc sống.
Kết bài: Tiếp thu kinh nghiệm quý báu của người xưa trong câu tục
ngữ: Trăm hay không bằng tay quen, chúng ta phải coi trọng kinh nghiệm
thực tế và những người có kinh nghiệm thực tế, phải luôn luôn có ý thức vận
dụng các hiểu biết lí thuyết vào cuộc sống, không ngừng rrèn luyện kĩ năng
lao động. Mặt khác, cũng cần khắc phục lề lối làm việc, ra sức học hỏi lí
Trang 18
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
luận khoa học và làm việc theo phương pháp khoa học để nâng cao năng
xuất lao động, phát triển kĩ năng thực hành có ý thức, có kế hoạch.
Kết bài: Tóm lại câu tục ngữ Trăm hay không bằng tay quen có mặt
đúng nhưng cũng có mặt hạn chế trong quan niệm, trong nhận định, đánh giá
lại một vấn đề. Câu tục ngữ này đã gợi cho người đọc, người nghe những
suy nghĩ về mối quan hệ gắn bó giữa lí thuyết và thực hành. Qua câu tục ngữ
chúng ta càng thấm thia lời dạy của Bác Học phải đi đôi với hành, lí thuyết
phải gắn liền thực tiễn. Từ đó chúng ta có quyết tâm học tập tốt, thực hành
tốt những kiến thức khoa học kĩ thuật để góp phần vào công cuộc xây dựng
đất nước.
Dạng liên tưởng: Là cách kết bài mượn ý kiến tương tự của dân
gian, của danh nhân… để thay lời tóm tắt của người viết.
Kết bài: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn chúng ta : Học phải đi
đôi với hành, lí thuyết phải gắn liền thực tiễn. Đó cũng chính là bài học
chúng ta cần rút ra từ câu tục ngữ: Trăm hay không bằng tay quen.
E/ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
Thực tế cho thấy: Thời gian đầu các em không biết lập dàn ý,
dường như không biết xác lập luận điểm. Khi viết bài, có khi cả phần thân
8a1 (40 HS)
(2008 -2009)
7 10 12 20 25 27
9a1 (39 HS)
(2009 -2010)
20 23 25 27
Thống kê điểm Khá – Giỏi
Lớp Bài số
1
Bài số
2
Bài số
3
Bài số
4
Bài số
5
Bài số
6
8a1 (40 HS)
(2008 -2009)
1 1 3 5 9 15
9a1 (39 HS)
(2009 -2010)
12 12 15 17
G/ LỜI KẾT
Dạy học luôn là một quá trình sáng tạo, mục tiêu và nội dung chương
trình được xây dựng trên cơ sở tích hợp, điều này tạo điều kiện cho học sinh
dễ dàng mở rộng và nâng cao kĩ năng cũng như kiến thức của mình trong
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Sách ngữ văn lớp 7, 8, 9 - Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên).
2/ Sách Giáo viên ngữ văn 7, 8, 9 – Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên)
3/ Tài liệu bồi dưỡng dạy sách giáo khoa lớp 7, 8, 9 (BGD – ĐT)
4/ Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV THCS (2004 - 2007)
5/ Một số bài viết vể sự vận dụng Tiếng việt(Lê Anh Hiền tuyển chọn)
6/ Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS –
Bộ GD – ĐT năm 2004.
7/ Làm văn – Đình Cao, Lê A Nhà xuất bản GD (1989).
8/ Để làm tốt các kiểu bài văn nghị luận -Lê Đình Mai- NXB GD 1996.
Trang 22
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
9/ Tập làm văn THCS, Tạ Đức Hiền, NXB GD 1998.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Sách ngữ văn lớp 7, 8, 9 - Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên).
2/ Sách Giáo viên ngữ văn 7, 8, 9 – Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên)
3/ Tài liệu bồi dưỡng dạy sách giáo khoa lớp 7, 8, 9 (BGD – ĐT)
4/ Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV THCS (2004 - 2007)
5/ Một số bài viết vể sự vận dụng Tiếng việt(Lê Anh Hiền tuyển chọn)
1/ Sách ngữ văn lớp 7, 8, 9 - Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên).
2/ Sách Giáo viên ngữ văn 7, 8, 9 – Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên)
3/ Tài liệu bồi dưỡng dạy sách giáo khoa lớp 7, 8, 9 (BGD – ĐT)
4/ Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV THCS (2004 - 2007)
5/ Một số bài viết vể sự vận dụng Tiếng việt(Lê Anh Hiền tuyển chọn)
6/ Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS –
Bộ GD – ĐT năm 2004.
7/ Làm văn – Đình Cao, Lê A Nhà xuất bản GD (1989).
8/ Để làm tốt các kiểu bài văn nghị luận -Lê Đình Mai- NXB GD 1996.
9/ Tập làm văn THCS, Tạ Đức Hiền, NXB GD 1998.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1/ Sách ngữ văn lớp 7, 8, 9 - Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên).
2/ Sách Giáo viên ngữ văn 7, 8, 9 – Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên)
Trang 24
Rèn kĩ năng làm bài văn nghị luận xã hội
3/ Tài liệu bồi dưỡng dạy sách giáo khoa lớp 7, 8, 9 (BGD – ĐT)
4/ Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV THCS (2004 - 2007)
5/ Một số bài viết vể sự vận dụng Tiếng việt(Lê Anh Hiền tuyển chọn)
6/ Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS –
Bộ GD – ĐT năm 2004.
7/ Làm văn – Đình Cao, Lê A Nhà xuất bản GD (1989).
8/ Để làm tốt các kiểu bài văn nghị luận -Lê Đình Mai- NXB GD 1996.
9/ Tập làm văn THCS, Tạ Đức Hiền, NXB GD 1998.
Trang 25