GV: Trương Thị Thanh Trúc
Đề tài:
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12 ÔN RÈN KỸ NĂNG
LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghị luận là kiểu văn bản trọng tâm xuyên suốt chương trình làm văn ở bậc học
THPT. Nhưng trong thực tế giảng dạy và học tập, nghị luận xã hội chưa được chú ý
và coi trọng như nghị luận văn học.Bắt đầu từ năm 2009, đề thi tốt nghiệp THPT (kể
cả thi đại học- cao đẳng) môn Ngữ văn, bên cạnh những phần tái hiện kiến thức văn
học, nghị luận văn học, còn có một phần bắt buộc thí sinh thành lập văn bản nghị luận
khoảng 400 chữ (600 chữ đối với đề thi đại học) bàn về một vấn đề mang tính thời sự
của đời sống xã hội. Thang điểm đánh giá cho phần câu này khá cao, chiếm 3/10 điểm
của toàn bài thi. Nhưng thực tế trong các kỳ thi tốt nghiệp vừa qua, số lượng thí sinh
làm được câu này không nhiều, nếu có làm được thì chất lượng cũng không cao. Vì
sao ? Cần phải làm gì trước thực tế này ? Đó là những câu hỏi đang đặt ra cần phải
giải quyết của giáo viên đang trực tiếp giảng dạy và ôn thi tốt nghiệp Ngữ văn 12
THPT.
Là người tham gia trực tiếp giảng dạy, ôn tập cho học sinh lớp 12 và chấm thi
tốt nghiệp , chúng tôi thực sự trăn trở trước vấn đề này. Qua đề tài nhỏ này, chúng tôi
muốn đề xuất một số phương án ôn rèn kỹ năng làm bài nghị luận xã hội cho học sinh
lớp 12 nhằm tìm ra một hướng đi hiệu quả trong giảng dạy và học tập dạng bài này
Phần thứ hai: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. Các khái niệm:
1. Nghị luận: đgt. Bàn bạc và đánh giá một vấn đề. (theo Từ điển tiếng Việt)
2. Văn nghị luận
GV: Trương Thị Thanh Trúc
1. 3.Bài nghị luận xã hội cần phải đảm bảo kỹ năng nghị luận nói chung: tập trung
hướng tới luận đề của đề bài, có ý thức triển khai thành những luận điểm chặt chẽ,
nhất quán, tìm được những dẫn chứng xác đáng, giàu sức thuyết phục.
1. 4. Bài nghị luận xã hội là một kiểu bài nghị luận có tính chất tổng hợp cao, đòi hỏi
phải sử dụng nhiều thao tác nghị luận. Một mặt, bài nghị luận xã hội coi trọng việc
giải thích làm sáng tỏ nội dung cụ thể của những thuật ngữ, hiện tượng, vấn đề…được
đề cập đến; mặt khác, nó đòi hỏi phải phân tích những phương diện, những khía cạnh
cụ thể của các hiện tượng, vấn đề xã hội đang bàn bạc. Bài nghị luận xã hội cũng yêu
cầu những nhận định, đánh giá phải có căn cứ xác đáng; những ý kiến, nhận xét cần
phải được chứng minh bằng những dẫn chứng cụ thể.
2. Yêu cầu đối với bài văn nghị luận xã hội trong bài thi Tốt nghiệp THPT .
Bài văn NLXH thi Tốt nghiệp THPT yêu cầu dưới dạng một bài viết khoảng
400 chữ bàn về một vấn đề gần gũi, mang tính thời sự cấp thiết của đời sống xã hội.
Ví dụ: Năm 2009, đề yêu cầu :
Anh/chị hãy viết một bài văn ngắn (không quá 400 từ) phát biểu ý kiến về tác
dụng của việc đọc sách
Năm 2010: Hãy viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ )trình bày suy nghĩ của
anh/chị về lòng yêu htương con người của tuổi trẻ trong xã hội hiện nay.
Năm 2011: Trước nhiều ngả đường đi đến tương lai, chỉ có chính bạn mới lựa
chọn được con đường đúng cho mình.
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến
trên.
Năm 2012: Thói dối trá là biểu hiện của sự suy thoái về đạo đức trong đời
sống xã hội.
Viết một bài văn ngắn (khoảng 400 từ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về ý kiến
trên.
GV: Trương Thị Thanh Trúc
Năm 2013: Trình bày những suy nghĩ của anh/chị trước hành động dũng cảm
cứu người của học sinh Nguyễn Văn Nam (có trích kèm mẩu tin về hiện tượng này)
thể loại văn bản được lựa chọn đưa vào tìm hiểu và rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản.
2. 1. Chương trình trung học cơ sở:
Nghị luận xã hội được hướng dẫn khá kỹ ở lớp 9 với phần khái luận lẫn cách
làm bài và đề cập đến cả hai loại bài NLXH, với 4 bài cụ thể:
- Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
- Cách làm bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
- Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý
- Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý
Nhận xét: Nhìn chung chương trình THCS chỉ mang tính giới thiệu và thực hành
NLXH ở mức độ sơ giản, chưa tập trung vào việc khắc sâu tri thức và rèn luyện kỹ
năng làm bài dạng nghị luận này. Nói đúng hơn đó chỉ là bước đệm để hoàn thiện ở
chương trình THPT
2. 2. Chương trình Trung học phổ thông (THPT)
Trong chương trình THPT, dạng nghị luận xã hội được thực hành khá kỹ, bắt
đầu từ lớp 11. Bài viết số 1 ở đầu năm học lớp 11 đã được định hướng làm bài NLXH,
những ngữ liệu SGK hướng dẫn học sinh tiếp cận hàng loạt các thao tác lập luận như
phân tích, bác bỏ, bình luận, so sánh… đều lấy dạng NLXH. Cụ thể:
- Bài thao tác lập luận phân tích có một đoạn ngữ liệu viết về vấn đề dân số;
- Bài luyện tập thao tác lập luận phân tích có một đoạn ngữ liệu viết về vấn đề khoa
học
- Bài thao tác lập luận bác bỏ có một đoạn ngữ liệu viết về vấn đề tiếng mẹ đẻ, một
đoạn viết về hút thuốc lá
- Bài thao tác lập luận bình luận: ngữ liệu luyện tập một đoạn bàn về giao thông, một
đoạn bàn về pháp luật
- Bài luyện tập thao tác lập luận bình luận ngữ liệu một đoạn viết về lời cảm ơn, một
đoạn viết về vấn đề áo phao phòng chết đuối cho HS đi học qua sông suối
GV: Trương Thị Thanh Trúc
- Bài viết số 6 lại tiếp tục được định hướng làm bài nghị luận xã hội.
Đến lớp 12 thì phần nghị luận XH được đề cập ngay từ đầu năm học với hai bài lý
luyện kỹ năng làm văn NLXH
CHƯƠNG III: NHỮNG GIẢI PHÁP ÔN RÈN
I. Hướng dẫn ôn tập lý thuyết
Lý thuyết làm văn NLXH không nhiều chủ yếu tập trung vào mấy đơn vị kiến thức
cơ bản sau:
- Khái lược về NLXH (bao hàm khái niệm, đặc điểm, yêu cầu của nghị luận xã
hội…)
- Cách làm bài NLXH
Trong hai phần này, phần khái luận chủ yếu để học sinh nhận diện được NLXH là
gì, các chủ đề của nó và bản chất của dạng văn bản này. Do vậy chúng tôi chỉ hướng
dẫn học sinh xem lại lý thuyết ở SGK lớp 9 đặc biệt là SGK lớp 12. Sau đó dành thời
gian ôn tập cách làm văn cho 2 loại nghị luận xã hội mà SGK ngữ văn đề xuất.
Sau đây là hệ thống kiến thức phần lý thuyết ôn tập:
HỆ THỐNG LÝ THUYẾT LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
A/NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG , ĐẠO LÝ
1. Khái niệm, đề tài, yêu cầu và các thao tác chính:
a) Khái niệm: Nghị luận về một tư tưởng đạo lí là quá trình kết hợp những thao
tác lập luận để bàn luận và thể hiện tư tưởng, quan điểm và thái độ của mình về
vấn đề tư tưởng đạo lí trong cuộc sống.
Dạng đề này thường được đặt ra trực tiếp hoặc được gợi mở qua một câu tục ngữ,
danh ngôn…
b) Đề tài
Đề tài của nghị luận về tư tưởng, đạo lí là vô cùng phong phú, bao gồm:
- Các vấn đề về nhận thức như lí tưởng, mục đích sống,…
- Các vấn đề về tâm hồn, tính cách như:
GV: Trương Thị Thanh Trúc
+ Lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, khoan dung,…
+ Thói ích kỉ, dối trá,
+ Tính trung thực, dũng cảm, khiêm tốn,…
c) Kết bài
- Tóm tắt các ý, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm chốt lại bài viết hoặc
mở rộng, gợi ý thêm cho người đọc về vấn đề đang bàn luận.
- Rút ra bài học
- Nêu cảm xúc, suy nghĩ hành động của bản thân về vấn đề.
B/NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG
1. Khái niệm
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là kiểu bài lấy một hiện tượng xảy ra trong
đời sống để bàn bạc. Từ hiện tượng này, người nghị luận phải phân tích để tìm ra
ý nghĩa xã hội về tư tưởng, đạo đức mà bàn bạc, đánh giá.
Đề tài bàn bạc của dạng đề này thường gần gũi với đời sống,mang tính thời sự,
sát hợp với trình độ nhận thức của học sinh như tai nạn giao thông, hiện tượng môi
trường bị ô nhiễm, những tiêu cực trong thi cử, nạn bạo hành trong gia đình, trong
học đường, phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi, cuộc vận động giúp đỡ đồng
bào hoạn nạn, những tấm gương người tốt việc tốt,…
2. Các thao tác lập luận cơ bản
Các thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là giải
thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận.
3. Nội dung cơ bản
- Nêu rõ hiện tượng bàn luận và vấn đề đặt ra trong hiện tượng đời sống bàn luận .
- Phân tích mặt đúng mặt sai, mặt tích cực, mặt tiêu cực, mặt lợi mặt hại …của
hiện tượng đời sống .
- Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội
GV: Trương Thị Thanh Trúc
đó.
4. Dàn ý khái quát
a, Mở bài
- Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận
- Xác định vấn đề đặt ra cần nghị luận trong hiện tượng.
những học sinh có khả năng tư duy và viết bài tốt, còn những học sinh yếu thì hơi
khó sử dụng. Người viết bám vào khung dàn ý khái quát và định ra một dàn ý cụ
thể, thậm chí còn có thể biến tấu trên khung này nếu năng lực tư duy tốt.
DÀN Ý KHÁI QUÁT
1. Dàn ý khái quát văn nghị luân về một tư tưởng, đạo lý
a) Mở bài
- Giới thiệu vấn đề được đưa ra bình luận.
- Nêu luận đề: dẫn nguyên văn câu chứa nội dung tư tưởng, đạo lý
- Giới hạn nội dung và thao tác nghị luận sẽ triển khai.
b) Thân bài
- Giải thích tư tưởng, đạo lí cần nghị luận (giải thích từ ngữ, hình ảnh đến giải
thích ý nghĩa cả câu nói, ý kiến)
- Phân tích, chứng minh, bình luận các khía cạnh ; bác bỏ, phê phán những sai
lệch (nếu có).
- Khẳng định chung, nêu ý nghĩa, nêu ý phản đề, liên hệ thực tế, rút ra bài học
nhận thức và hành động.
c) Kết bài
- Tóm tắt các ý, nhấn mạnh luận đề đã nêu ở đầu bài nhằm chốt lại bài viết
hoặc mở rộng, gợi ý thêm cho người đọc về vấn đề đang bàn luận.
- Rút ra bài học
GV: Trương Thị Thanh Trúc
- Nêu cảm xúc, suy nghĩ hành động của bản thân về vấn đề.
2. Dàn ý khái quát văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
a, Mở bài
- Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận
- Xác định vấn đề đặt ra cần nghị luận trong hiện tượng.
b, Thân bài
- Giải thích hiện tượng (nếu cần)
- Nêu thực trạng của hiện tượng
- Từ vấn đề bàn luận có thể rút ra bài học gì về nhận thức và hành động?
c. Kết bài :
- Cần tóm tắt, chốt lại vấn đề như thế nào?
- Bài học chung rút ra từ vấn đề là gì?
- Bản thân có suy nghĩ cảm xúc riêng và hành động như thế nào trước tư tưởng, đạo lý?
2/ Đối với nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống :
a. Mở bài:
- Hiện tượng bàn luận là gì?
- Hiện tượng đặt ra vấn đề gì cần giải quyết?
b. Thân bài :
- Thực trạng của hiện tượng đang diễn ra như thế nào?
- Nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng và thực trạng đó ?
- Những hậu quả (tốt, xấu) từ hiện tượng là gì?
- Cần có thái độ, hành động như thế nào đối với hiện tượng?
c. Kết bài :
- Cần tóm tắt, chốt lại vấn đề như thế nào?
- Bài học chung rút ra từ hiện tượng là gì?
- Bản thân có cảm xúc suy nghĩ gì và cần phải làm thế nào trước hiện tượng?
GV: Trương Thị Thanh Trúc
III. Hướng dẫn thực hành viết bài
Đây là bước quan trọng nhất của làm văn. Chính vì vậy giáo viên và học sinh
phải tập trung đầu tư thời gian cho việc hướng dẫn và thực hành viết bài .
Sau khi đã lập dàn ý, học sinh phải dựa vào đó để viết, điều quan trọng nhất là
học sinh phải tìm được cách diễn đạt trong sáng, cách trình bày lý lẽ dẫn chứng
một cách cô đúc mà chặt chẽ, giàu sức thuyết phục. Khả năng này đòi hỏi thời gian
rèn luyện nhiều. Qua mỗi bài viết, học sinh sẽ rút ra được rất nhiều kinh nghiệm
trong quá trình thực hành và ngày càng nắm vững phương pháp cũng như kỹ năng
làm bài nghị luận xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, tập 2 – NXB Giáo dục – năm 2009
2. Sách giáo viên Ngữ văn 12, tập 1, tập 2 – NXB Giáo dục – năm 2009
3. Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 1, tập 2 – NXB Giáo dục – năm 2009
4. Sách giáo khoa Làm văn 12, tập 2 – NXB Giáo dục – năm 1996
5. Sách giáo viên Làm văn 12, tập 2 – NXB Giáo dục – năm 1996
6. Sách giáo khoa Làm văn 12, tập 2 dành cho ban xã hội – NXB Giáo dục – 1996
7. Để làm tốt bài văn nghị luận xã hội – Nguyễn Xuân Lạc – NXB Giáo dục - 2010
8. Dạy và học nghị luận xã hội – Đỗ Ngọc Thống – NXB Giáo dục- 2010
GV: Trương Thị Thanh Trúc