ĐỀ TÀI KHOA HỌC: GIÚP HỌC SINH LỚP 12 ÔN TẬP TỐT HƠN PHẦN LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI.
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU:
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh vực xã hội, chính
trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc, nhằm làm sáng tỏ cái đúng, cái sai, tốt, xấu của vấn đề
được nêu ra. Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng
nó vào đời sống và bản thân. Những đề tài và nội dung này thường là những vấn đề có ý
nghĩa thiết thực trong cuộc sống, có tính giáo dục và tính thời sự cao. Đối với chương trình
làm văn trong nhà trường phổ thông, đó thường là các đề bài mang đến cho học sinh những
suy nghĩ, nhận thức đúng đắn về cuộc sống, có ý nghĩa hướng đạo, đặc biệt là những vấn
đề có ý nghĩa tác động trực tiếp đối với thế hệ trẻ.
Tập trung vào kiểu bài nghị luận xã hội là một nỗ lực đổi mới chương trình Ngữ
Văn trong nhà trường trung học phổ thông hiện nay. Bởi lẽ, một thời gian dài trước đây,
làm văn trong nhà trường chỉ tập trung vào nghị luận văn học khiến cho học sinh luôn cảm
thấy văn chương xa rời thực tế cuộc sống. Cho đến hôm nay, văn nghị luận xã hội không
chỉ trở thành tiêu chí đánh giá học sinh trong những bài kiểm tra, mà còn trong cả kỳ thi tốt
nghiệp, đặc biệt là kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, đại học.Thiết nghĩ, sự chuyển biến này đã
mang lại không ít cơ hội cho sự phát triển toàn diện của học sinh. Rèn luyện văn nghị luận
Người thực hiện: Ngô Thị Diễm Châu. Đơn vị: Tổ Văn – THPT Phan Đình Phùng 1
ĐỀ TÀI KHOA HỌC: GIÚP HỌC SINH LỚP 12 ÔN TẬP TỐT HƠN PHẦN LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI.
xã hội không chỉ giúp học sinh hoàn thiện kĩ năng trình bày quan điểm của mình mà còn
cung cấp tri thức vô cùng phong phú về những vấn đề xã hội để có thể sống tốt hơn, và
hoàn thiện nhân cách của mình. Tuy nhiên, bất kì một sự đổi mới nào cũng đặt ra không ít
thách thức. Thách thức đối với học sinh kể từ khi đề văn nghị luận xã hội có mặt trong cấu
trúc đề thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học không hề nhỏ. Thời gian
rèn luyện trên lớp về nghị luận xã hội không nhiều. Kiến thức xã hội còn hạn chế. Tài liệu
tham khảo nghị luận xã hội không nhiều. Cộng với kĩ năng làm bài chưa thuần thục, và
nhiều vướng mắc khác trong việc thực hiện các yêu cầu của bài văn nghị luận xã hội…Tất
cả những điều đó đã tạo áp lực, gây hoang mang cho không ít học sinh. Giúp đỡ cho các
- Phương pháp phân tích và tổng hợp để tìm hiểu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và
phân tích, chứng minh các biện pháp thực hiện.
- Phương pháp khảo sát thực nghiệm để chứng minh cho giả thuyết của đề tài.
6. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI.
Ngoài phần mở đầu và kết thúc, đề tài của chúng tôi gồm những nội dung cơ bản
sau:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. 1. Cơ sở pháp lý:
1. 2. Cơ sở lý luận.
1. 3. Cơ sở thực tiễn.
CHƯƠNG 2: RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH
LỚP 12.
2. 1. Rèn kĩ năng nhận dạng đề và tìm hiểu đề trong bài văn nghị luận
xã hội.
2. 2. Rèn kĩ năng tìm luận điểm và thu thập dẫn chứng trong bài văn
nghị luận xã hội.
2.3. Rèn kĩ năng lập dàn bài trong bài văn nghị luận xã hội.
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
3. 1. Tiến hành thực nghiệm.
3. 2. Kết quả thực nghiệm.
3. 3. Giải pháp
II. NỘI DUNG
Người thực hiện: Ngô Thị Diễm Châu. Đơn vị: Tổ Văn – THPT Phan Đình Phùng 3
ĐỀ TÀI KHOA HỌC: GIÚP HỌC SINH LỚP 12 ÔN TẬP TỐT HƠN PHẦN LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. 1. Cơ sở pháp lí:
Căn cứ pháp lí của đề tài là:
- Bộ giáo dục đào tạo đã quy định trong cấu trúc đề thi năm học 2008 – 2009, và
2009 – 2010 gồm có 3 câu, trong đó:
một tư tưởng đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống như sau:
- “Bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí thường có một số nội dung sau:
+ Giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận;
+ Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan
đến vấn đề bàn luận;
+ Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng đạo lí.
Diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc; có thể sử dụng một số phép tu từ và yếu tố biểu
cảm nhưng phải phù hợp và có chừng mực.” Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 1, NXB
giáo dục, tr 21.
- “Bài nghị luận về một hiện tượng đời sống thường có các nội dung:
+ Nêu rõ hiện tượng
+ Phân tích các mặt đúng, sai, lợi, hại.
+ Chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng
xã hội đó.
Diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc; có thể sử dụng một số phép tu từ và yếu
tố biểu cảm, nhất là phần nêu cảm nghĩ riêng”
Sách giáo khoa ngữ văn 12 tập 1, NXB giáo dục, tr 67.
1. 3. Cơ sở thực tiễn:
1. 3. 1. Xu hướng chung.
Những vấn đề nghị luận xã hội vô cùng phong phú và đa dạng. Hàng trăm hàng
nghìn câu nói, nhận định, và có biết bao nhiêu hiện tượng đáng chú ý trong đời sống hiện
tại. Tất cả đều có thể được lấy làm đề thi nghị luận xã hội cho học sinh. Thế nhưng thời
lượng chương trình dành cho việc giảng dạy và rèn luyện nghị luận xã hội trong phân phối
chương trình theo quy định của bộ giáo dục là quá ít. Ở lớp 12, cả ban cơ bản và ban khoa
học xã hội nhân văn đều chỉ có 2 tiết lí thuyết về cách làm bài nghị luận xã hội. Một cho
dạng bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí, và một cho dạng bài nghị luận về hiện tượng đời
sống. Một năm học các em chỉ có 2 bài viết rèn luyện nghị luận xã hội. Còn lại thì tập
trung vào nghị luận văn học. Trong khi đó, phần nghị luận xã hội lại là một câu bắt buộc
trong đề thi, nằm ở phần chung cho tất cả thí sinh. Thực tế đó khiến cho học sinh không có
Người thực hiện: Ngô Thị Diễm Châu. Đơn vị: Tổ Văn – THPT Phan Đình Phùng 5
Người thực hiện: Ngô Thị Diễm Châu. Đơn vị: Tổ Văn – THPT Phan Đình Phùng 6
ĐỀ TÀI KHOA HỌC: GIÚP HỌC SINH LỚP 12 ÔN TẬP TỐT HƠN PHẦN LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI.
dài 4 tuần. Số lượng đề nghị luận xã hội giải quyết mẫu cho học sinh là 8 đề. Nhờ thế, tỉ lệ
tốt nghiệp môn Văn năm 2009 lên đến 58%.
Năm học 2010 – 2011, trong các buổi học phụ đạo chiều thứ 7 theo chương trình
học 2 buổi trên ngày cho học sinh, các giáo viên Văn đã dành thời lượng 50% cho việc rèn
luyện nghị luận xã hội.
Nhìn chung, tổ Văn của trường đã và đang có những quan tâm đáng kể đến việc rèn
luyện kĩ năng làm văn nghị luận xã hội cho học sinh. Tuy nhiên, khối lượng thời gian cho
việc đầu tư là chưa nhiều.
Về phía học sinh, các em vẫn còn rất yếu kém kĩ năng về lĩnh vực này. Nhiều học
sinh còn chưa nhận ra mức độ khó của đề bài nghị luận xã hội nên vẫn còn tỏ ta xem
thường. Nhiều em khác có ý thức thì tỏ ra hoang mang, lo lắng, không biết làm thế nào để
làm tốt bài văn nghị luận xã hội. Nếu không có một kế hoạch ôn luyện cụ thể thì khó có thể
giúp học sinh ôn tập một cách hiệu quả nhất. Vì thế đòi hỏi về mặt thời gian và nhân lực
cho việc đầu tư là rất lớn.
CHƯƠNG 2
RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH
LỚP 12
Thực tiễn cho thấy, học sinh không phải là đại văn hào, thiên tài chính trị…có đủ
năng lực về sáng tạo và văn chương và có thuật hùng biện. Nhưng dù có là đại văn hào, là
thiên tài đi nữa thì trước khi nói và viết họ vẫn phải chọn đề tài, lập ý một cách công phu.
Huống là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, đang học tập, trau dồi năng lực văn học,
chuẩn bị cho tương lai cuộc sống của mình. Không ai có thể làm tốt một bài văn nghị luận
khi dồn tất cả các khâu, từ phân tích đề, lập dàn ý, chọn dẫn chứng, hành văn, diễn đạt…
vào một thời điểm căng thẳng được. Thế nhưng học sinh của chúng ta thì vẫn cứ thích làm
như thế. Thử hỏi làm sao có kết quả khả quan được. Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi
chỉ đưa ra một số biện pháp giúp học sinh chuẩn bị trước khi viết vào bài làm chính thức.
Các công đoạn này thường được gọi là “làm nháp”.
2.1. Rèn kĩ năng nhận dạng và tìm hiểu đề trong bài văn nghị luận xã hội.
Xét về các đề bài trên chúng ta thấy: Các đề (1), (2) thuộc dạng đề bài nghị luận về
một tư tưởng đạo lí. Các đề (3), (4) thuộc dạng đề bài nghị luận về một hiện tượng đời
sống. Các đề bài trên là những đề bài đơn giản nhất thường thấy. Học sinh có thể dễ dàng
nhận ra dạng đề ở các đề bài này nhờ vào các dấu hiệu ngôn ngữ có trong đề bài.
Đối với đề (1) và (2), học sinh nhận ra nhờ các câu nói nằm trong dấu ngoặc kép.
Đề (1) là câu nói của nhà văn Nga Lep – Tônxtôi, đề (2) là câu nói của Lâm Ngữ Đường ở
Trung Quốc. Yêu cầu của 2 đề bài này là bình luận về câu nói được trích dẫn. Nội dung
Người thực hiện: Ngô Thị Diễm Châu. Đơn vị: Tổ Văn – THPT Phan Đình Phùng 8
ĐỀ TÀI KHOA HỌC: GIÚP HỌC SINH LỚP 12 ÔN TẬP TỐT HƠN PHẦN LÀM VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI.
của 2 phát ngôn trên thuộc về vấn đề nhận thức cuộc sống. Nói tóm lại, học sinh có thể
nhận ra dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí khi nhận thấy đề bài yêu cầu bàn luận về
một nhận định, hay một câu nói của một người nổi tiếng được giới thiệu trong đề bài. Nhận
định, tư tưởng thường được được trích dẫn nguyên văn và được đặt trong dấu ngoặc kép.
Đối với đề (3), (4), học sinh nhận ra dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống
cũng nhờ vào đối tượng được đề cập đến trong đề bài và yêu cầu của đề bài. Đối tượng
được đề cập bây giờ không phải là một câu nói nào đó mà là một vấn đề đang xảy ra trong
cuộc sống hiện tại. Thông thường trên dạng đề này có các từ ngữ như: hiện tượng, vấn đề,
vấn nạn…. Ở đề (3) là vấn đề tai nạn giao thông, còn ở đề (4) là hiện tượng nghiện
“game”. Nhờ các từ ngữ nói trên, học sinh có thể xác định được dạng đề ngay tức thì.
Tuy nhiên ở đề (5), và (6) thì vấn đề lại không hoàn toàn đơn giản như vậy. Ở đề (5)
có câu nói của tỉ phú B. Gates, và cũng có yêu cầu bàn về câu nói này. Nhưng ở vế sau của
yêu cầu đề bài (bàn về trách nhiệm của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc) thì không còn là nghị luận về tư tưởng đạo lí nữa, mà là bàn về vấn đề thế hệ trẻ ý
thức trách nhiệm trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy đề bài trên vừa là
bàn về tư tưởng đạo lí, vừa là bàn về hiện tượng đời sống. Với đề bài này, phần giải quyết
yêu cầu của đề bài bàn về tư tưởng đạo lí phải được chú trọng hơn phần giải quyết yêu cầu
của đề bài bàn về hiện tượng đời sống.
Tương tư như vậy, ở đề (6), có câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên đề bài
lại yêu cầu trình bày quan điểm của mình về việc làm thế nào để phát huy tốt nhất thời
vàng son của tuổi trẻ hiện nay. Để giải quyết đề bài này người viết phải đi từ nhận định của
trẻ của Việt Nam.
Ví dụ 2: Có người cho rằng: “Nếu cuộc đời là một bộ phim, tôi muốn là vai phụ
xuất sắc nhất”. Anh (chị) có đồng tình với ý kiến trên không? Hãy trình bày quan điểm của
mình.
Luận đề của đề bài này là: Bàn về vai trò của một người bình thường trong xã hội,
nhưng là người bình thường xuất sắc.
Ví dụ 3: Bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề mà tác giả Thân Nhân Trung đã nêu
trong bài kí đề danh tiến sĩ năm 1442: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh
thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp”.
Luận đề của đề bài trên là bàn về vai trò của hiền tài đối với đất nước.
Với các ví dụ trên, chúng tôi có thể đưa ra cho học sinh một phương pháp chung
trong việc tìm hiểu đề, đó là: Đọc kĩ đề, sau đó tìm từ hoặc cụm từ then chốt nhất trong đề
bài, từ đó phát biểu thành một câu hoặc cụm từ ngắn gọn. Đối với những đề bài ngắn như ở
ví dụ 1, có thể học sinh cho rằng việc tìm ra từ then chốt là điều quá đơn giản. Nhưng đối
với những đề bài dài, có câu nói phức tạp, chẳng hạn như ở ví dụ 2, 3 ở trên thì việc xác
Người thực hiện: Ngô Thị Diễm Châu. Đơn vị: Tổ Văn – THPT Phan Đình Phùng 10