skkn rèn kĩ năng thực hành nghi thứ lời nói cho học sinh trong phân môn tập làm văn lớp 2 - Pdf 24

PHẦN I - MỞ ĐẦU
1- Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta đã hội nhập với thế giới. Nền giáo dục của chúng ta cần đào tạo ra
những con người phát triển toàn diện.
Xét trên lĩnh vực văn hoá thì đó là những con người văn minh, lịch sự có kĩ
năng giao tiếp tốt. Để có kỹ năng giao tiếp tốt thì bước đầu mỗi con người ai cũng
cần biết sử dụng các nghi thức lời nói tối thiểu: Chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin
lỗi, mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị, chia buồn, chia vui….
Việc dạy những nghi thức lời nói tối thiểu trên trong chương trình cũ chưa
được coi trọng cụ thể là các em chỉ được học một cách gián tiếp qua các bài tập
đọc, kể chuyện … Hiện nay chương trình mời đã coi trọng nôi dung này. Việc
"Rèn kĩ năng thực hành các nghi thức lời nói" là nội dung chiếm một thời gian lớn
trong phân môn Tập làm văn lớp 2. Cụ thể là có mặt trong 25/ 35 tuần.
- Bản thân tôi là một giáo viên đứng lớp đã xác định rõ nhiệm vụ của mình
phải làm thế nào để giúp họ thực hành tốt các nghi thức lời nói là yêu cầu tối thiểu
để các em trở thành những học sinh văn minh lịch sự.
Từ những lí do trên tôi đã quyết định chọn đề tài: "Rèn kĩ năng thực hành
nghi thứ lời nói cho học sinh trong phân môn Tập làm văn lớp 2"
2- Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu nội dung, phương pháp và thực trạng dạy phân môn Tập làm văn
lớp 2 chương trình tiểu học 2000.
3- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài này tôi đi sâu vào việc rèn kĩ năng thực hành nghi thức
lời nói cho học sinh trong phân môn tập làm văn.
Học sinh lớp 2 trường Tiểu học Vĩnh Ngọc - Đông Anh - Hà Nội.
4- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài.
- Tìm hiểu thực trạng dạy môn tập làm văn lớp 2.
- Những giải pháp đã thực hiện.
5- Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu đề tài.

- Chức năng tạo lập quan hệ
- Chức năng giải trí
- Chức năng tự biểu hiện.
Để thực hiện tốt các chức năng của mình, nhất thiết mỗi cuộc giao tiếp cần
phải sử dụng các nghi thức lời nói. Chính vì vậy ta có thể nói "Nghi thức lời nói" là
điều kiện, là tiền đề của hoạt động giao tiếp.
2
3/ Cần dạy "Kĩ năng thực hành nghi thức lời nói "theo" quan điểm tích
cực"
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo
khoa lần này là đổi mới phương pháp dạy và học. Sách giáo khoa có nhiệm vụ thể
hiện và tạo điều kiện để thầy, cô và học sinh thực hiện phương pháp tích cực hoá
hoạt động của người học, trong đó thầy cô đóng vai trò là người tổ chức hoạt động
của học sinh; mỗi học sinh đều được hoạt động, mỗi học sinh đều được bộc lộ
chính mình và phát triển. Với một nội dung mới là dạy "nghi thức lời nói" thì
người giáo viên lại càng cần chú ý dạy học theo quan điểm tích cực. Dạy học theo
quan điểm tích cực có nghĩa là cần phối hợp các hình thức tổ chức lớp học và các
phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh.
* Về các hình thức tổ chức lớp học: Cần vận dụng linh hoạt, mềm dẻo các
hình thức sau: tổ chức học theo lớp, tổ chức học theo nhóm, tổ chức học cá nhân.
* Về phương pháp dạy học: Có thể nhắc đến một số phương pháp hiện nay
thường được sử dụng chung cho nhiều môn học nhưng đặc biệt được sử dụng
nhiều trong phần dạy "nghi thức lời nói" trong phân môn Tập làm văn lớp 2 như:
phương pháp sử dụng tình huống có vấn đề, phương pháo thảo luận nhóm, phương
pháp sử dụng các trò chơi để dạy học, phương pháp thực hành … Dù sử dụng
phương pháp nào, nguyên tắc cao nhất là phải phát huy được tính tích cực, chủ
động của học sinh, tạo điều kiện cơ hội cho học sinh luyện tập trong giao tiếp bằng
Tiếng Việt.
II - THỰC TRẠNG
1/ Về học sinh

dấu hiệu chung, bản chất … Các em thường phán đoán một chiều, dựa vào những
dấu hiệu chung nhất.
Từ những đặc điểm nhận thức trên cho ta thấy việc sử dụng đồ dùng dạy học
trong các tiết học là hết sức cần thiết. Tuy nhiên trong môn Tiếng Việt nói chung,
phân môn Tập Làm Văn nói riêng đồ dùng sẵn có rất hạn chế mà chỉ dừng lại ở
tranh ảnh phóng to trong sách giáo khoa.
Mặt khác việc dạy "kĩ năng thực hành nghi thức lời nói" lại rất cần nhiều các
đồ dùng khác không thể có trong bộ thiết bị đồ dùng dạy học được trang bị. Vậy
mỗi giáo viên cần chuẩn bị và sử dụng đồ dùng dạy học như thế nào? Đây là một
vấn đề bức xúc mà mỗi giáo viên lớp 2 chúng tôi đang cần hướng giải quyết.
Với những thực trạng nêu trên, tôi nhận thấy vấn đề tìm ra cácgiải pháp để
"Rèn kĩ năng thực hành các nghi thức lời nói" cho học sinh là một nhu cầu cấp
thiết đối với mỗi giáo viên. Để giúp học sinh mình thực hành tốt các nghi thức lời
nói tôi đã thực hiện một số giải pháp sau:
III - GIẢI PHÁP
1/ Giáo viên cần xác định mục tiêu của từng bài cụ thể để từ đó có sự
chuẩn bị và định hướng phù hợp:
Với bất kỳ môn học nào, muốn tiết dạy thành công thì mỗi giáo viên phải xác
định rõ mục tiêu của tiết học. Đây là vấn đề không một giáo viên nào có thể phủ
nhận.
Trong phần "Rèn kĩ năng thực hành các nghi thức lời nói cho học sinh trong
phần môn Tập Làm Văn lớp 2" thì việc xác định rõ mục tiêu của tiết học được cụ
thể hoá qua việc xác định yêu cầu của bài tập tình huống. Việc làm này sẽ giúp
4
giáo viên chuẩn bị trước đồ dùng dạy học cần thiết phục vụ các bài tập tình huống,
dự kiến trước các nghi thức lời nói phù hợp với từng tình huống giao tiếp. Từ việc
dự kiến trước, giáo viên có thể định hướng cho học sinh thực hành tốt các bài tập;
nhận thấy được những sai sót cần khắc phục, bổ sung các phương án khác nhau
làm cho các cách giải quyết tình huống trở nên phong phú.
Ví dụ: Khi dạy tiết Tập Làm Văn tuần 24: Đáp lời phủ định.

- Dạ, thế ạ, cháu xin lỗi cô.
5
Vì xác định trước yêu cầu cảu bài và có sự chuẩn bị nên tôi đã chủ động bổ
sung một số cách đáp khác:
- Không sao ạ. Cháu xin lỗi cô
- Không sao ạ. Cháu chào cô
- Dạ, cháu sẽ hỏi thăm người khác vậy.
Việc làm trên không những giúp học sinh nắm vững bài học, nói được cách
đáp khác nhau theo yêu cầu của bài mà cao hơn nó còn làm cho học sinh luôn có
thói quen tìm ra những phương án khác nhau trong khi giải quyết bất kì tình huống
nào khác.
2/ Sử dụng đồ dùng dạy học có hiệu quả.
Với học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 2 nói riêng tư duy trực quan vẫn
chiếm ưu thế. Trong mỗi môn học đồ dùng dạy học là phương tiện hỗ trợ đắc lực,
giúp học sinh nắm vững bài học.
Việc "Rèn kĩ năng thực hành nghi thức lời nói cho học sinh trong phân
môn Tập Làm Văn lớp 2" thường gắn liền với các tình huống. Vì vậy đồ dùng trực
quan cho phần này chính là tranh ảnh thể hiện nội dung tình huống và các dụng cụ,
đồ dùng, trang phục để thực hành tình huống.
* Về tranh ảnh:
Tranh ảnh minh hoạ làm cho học sinh nắm vững nội dung tình huống mà
không đòi hỏi phải mất nhiều thời gian. Nhờ quan sát tranh, ảnh học sinh biết: Nội
dung tình huống là gì? Trong tình huống có mấy nhân vật tham gia? Các nhân vật
có biểu hiện, cử chỉ, thái độ như thế nào?
Khi đã có tranh ảnh phục vụ, tôi cũng luôn chú ý sử dụng tranh đúng lúc,
đúng chỗ, khai thác triệt để tác dụng của tranh để tạo hứng thú cho học sinh nâng
cao hiệu quả tiết học.
Ví dụ: Khi dạy tiết Tập Làm Văn tuần 2 có phần rèn kĩ năng thực hành nghi
thức lời nói là "Chào hỏi, tự giới thiệu"
Với bài tập 2: Nhắc lại lời các bạn trong tranh (Mít, Bóng Nhựa, Bút Thép)

c) Em vứt một hòn đá nằm giữa đường sang bên đường để người qua lại khỏi
bị vấp, một cụ già nhìn thấy, khen em.
Khi học sinh lên thực hành đóng vai tình huống a) một chiếc chổi quét nhà sẽ
giúp các em thành công trong tình huống.
Nhưng khi học sinh lên thực hành tình huống b)thì giáo viên lại cần chú ý đến
trang phục ngay trên người học sinh. Giáo viền cần chọn học sinh mặc đẹp thật sự
để thực hành tình huống trước lớp vì nếu chọn em ăn mặc lôi thôi, xấu thì sẽ làm
cho tình huống giả tạo.
Còn với tình huống c) thì ta lại có thể sử dụng một hòn đá rất dễ kiếm, chuẩn
bị đơn giản mà lại làm tăng hiệu quả giờ học.
3/ Chú ý vận dụng những tri thức đã có, vốn sống của học sinh trong quá
trình giảng dạy:
Nghi thức lời nói được gắn liền với cuộc sống hàng ngày. Từ khi chưa đi học,
các em đã được tiếp xúc với các nghi thức lời nói ở gia đình và xã hội. Do đó khi
dạy các nội dung này mà giáo viên chỉ nghĩ đến việc cung cấp kiến thức mà không
chú ý khêu gợi cái "vốn sống" của các em thì sẽ gây ra sự nhàm chán, tâm lý "biết
rồi", trong học sinh.
7
Bản thân tôi khi dạy nội dung này đã xác định rõ mình phải vận dụng triệt để
những cái đã có của các em. Trong nội dung những bài học, những tình huống tôi
đều chú ý để học sinh nêu trước "vốn" của mình. Những gì các em nêu đúng thì
được cả lớp công nhận, tuyên dương, cùng thực hiện. Ngược lại, những gì các em
nêu sai, chưa đúng chuẩn mực thì được các bạn cùng cô giáo góp ý, sửa chữa. Làm
như vậy tôi thấy em nào cũng hào hứng phấn khởi nêu những kiến thức, hiểu biết
của mình. Giờ học phát huy được tính chủ động, tích cực của học sinh.
Ví dụ: Khi dạy nội dung "Đáp lời xin lỗi" trong tuần 22
Với bài tập 2: Em đáp lại lời xin lỗi trong các trường hợp sau:
a) Một bạn vội, nói với em trên cầu thang "Xin lỗi, cho tới đi trước một chút"
b) Một bạn vô ý đụng vào người em, vội nói "Xin lỗi, tớ vô ý quá"
c) Một bạn nghịch làm bắn mực vào áo em, xin lỗi em "Xin lỗi bạn, mình lỡ

không tham gia. Vậy làm thế nào để không còn hiện tượng trên? Làm thế nào để
phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh trong hoạt động nhóm? Đây là
câu hỏi khiến nhiều giáo viên trong đó có tôi phải băn khoăn suy nghĩ tìm hướng
giải quyết.
Với điều trăn trở trên, trong mỗi tiết học tôi đều rút ra những bài học kinh
nghiệm để tiết sau có được kết quả cao hơn tiết trước.
Để học sinh tích cực, chủ động trong nhóm học tập của mình khi thực hành
nghi thức lời nói tôi luôn chú ý làm tốt những việc sau:
- Ngay từ bước chia nhóm tôi chú ý chia nhóm với số lượng phù hợp theo
từng nội dung bài học, để mỗi học sinh đều được hoạt động và phải được hoạt
động, tránh tình trạng có học sinh không tham gia.
Ví dụ: Khi dạy tiết Tập Làm Văn tuần 19: "Đáp lời chào, lời tự giới thiệu".
Khi học sinh thực hành tình huống, tôi đã phân nhóm như sau:
Với bài tập 1: Đáp lời tự giới thiệu của chị phụ trách. Tôi chia học sinh theo
nhóm 5 em (1 em vai chị phụ trách, 4 em trong vai sao nhi đồng).
Nhưng với bài tập 2: Có người khách lạ đến nhà em, gõ cửa và tự giới thiệu:
"Chú là bạn bố cháu. Chú đến thăm bố mẹ cháu "Em sẽ nói thế nào".
a) Nếu bố mẹ em có nhà.
b) Nếu bố mẹ em vắng nhà.
Tôi lại chia học sinh theo nhóm 2 em. Dãy tổ 1, tổ 2 thực hành tình huống a)
dãy tổ 3, tổ 4 thực hành tình huống b).
- Để tạo hứng thú cho học sinh, sau khi chia nhóm tôi còn chú ý đặt cho mỗi
một cái tên dễ thương; nhóm Sao sáng, nhóm Chăm ngoan, nhóm Sơn ca, nhóm
Thỏ trắng …
- Sau khi chia nhóm tôi chú ý giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi nhóm.
- Để hình thức hoạt động nhóm có hiệu quả, phát huy tính tích cực chủ động
trong mỗi học sinh thì sự bao quát lớn của giáo viên là rất cần thiết, với những em
chưa chú ý, còn nghịch ngợm, chưa tích cực, tôi nhắc nhở ngay.
- Bên cạnh đó tôi cũng luôn chú ý cho học sinh nhận xét,bình chọn những
nhóm, cá nhân thực hành tốt để làm gương cho học sinh khác cố gắng hơn.

a) Em lỡ bước, giẫm vào chân bạn
b) Em mải chơi quên làm việc mẹ đã dặn
c) Em đùa nghịch và phải một cụ già.
Trong hai bài tập trên, nếu chọn hình thức giáo viên hỏi, từng học sinh trả lời
thì tiết học sẽ diễn ra đơn điệu, nặng nề, học sinh không hứng thú. Để tạo sự nhẹ
nhàng, tự nhiên, tăng tính thực hành, khi học sinh đã nắm được yêu cầu của bài, tôi
cho học sinh thảo luận nhóm tìm lời đáp, sau đó gọi một số nhóm lên thực hiện
"trò chơi đóng vai"
Làm như vậy tôi thấy không những rèn được lời nói mà còn rèn được cử chỉ,
thái độ cho các em, đảm bảo mục tiêu tiết học.
10
Không những sử dụng "Trò chơi học tập"theo nội dung bài tập mà tôi còn chú
ý sử dụng chúng ở cuối tiết học, phần củng cố kiến thức trong bài hay những hoạt
động ngoại khoácó mục tiêu "Rèn luyện năng lực thực hành nghi thức lời nói" cho
học sinh.
Ví dụ: Sau khi học sinh đã học các nội dung "phủ định" nhờ cậy, yêu cầu, đề
nghị" tôi đã cho học sinh tham gia trò chơi "Nhận lại đồ dùng" để rèn thói quen
dùng lời nói lịch sự khi cần đề nghị trong giao tiếp và sinh hoạt hàng ngày.
Để thực hiện trò chơi này cần tương đối nhiều đồ dùng, tôi đã chuẩn bị bằng
cách chọn lọc đồ dùng có sẵn của học sinh. Đồ dùng nào dự kiến không có thì tôi
chuẩn bị trước:
- 20 đồ dùng: mũ, ô, sách, vở, bút, cặp sách, bộ xếp hình … có gắn tên chủ của nó.
-1 chiếc bàn có các đồ dùng để ở trên.
- 20 lá cờ nhỏ để trao cho người đạt yêu cầu của trò chơi.
Từng nhóm khoảng 10 học sinh tham gia chơi: Xếp hàng theo thứ tự để chờ
lấy đồ dùng cá nhân. Từng học sinh đến lượt mình thì nói lời đề nghị. Ví dụ "Cho
tớ xin cái mũ". Một học sinh làm nhiệm vụ trả đồ dùng, cố ý trao nhầm đồ dùng
cho từng bạn. Học sinh nhận đồ dùng xemlại tên chủ nhân; nói 1,2 câu có nội dung
phủ định. Ví dụ "Cái mũ này không phải của tớ, cho tớ xin cái mũ màu đỏ kia"
hoặc "Xin lỗi, cái mũ này không phải của mình. Bạn lấy giúp mình chiếc mũ màu

học, các em đã có thể thực hành một số nghi thức lời nói rất tốt.
Ví dụ: Khi được bạn cho mượn đồ dùng học tập, các em biết cảm ơn bạn. Hay
khi bạn có thành tích cao, cac em biết nói lời chúc mừng … mặc dù chưa học nội
dung này.
Song bên cạnh đó, một số gia đình có thể do bận bịu hoặc do thói quen để con
nói năng tự do, không chú ý nhắc nhở, uốn nắn nên nhiều nghi thức lời nói đã được
học tập nhưng các em vẫn không có ý thức vận dụng vào thực tế cuộc sống.
Việc thực hành nghi thức lời nói của học sinh sẽ được giáo viên, cha mẹ nhận
xét từng tháng. Tôi làm như vậy với mục đích ngầm nhắc nhở cha mẹ các em hãy
luôn tạo cho con mình môi trường giao tiếp lành mạnh, động viên nhắc nhở, uốn
nắn sai sót của các em thường xuyên, kịp thời trong giao tiếp. Vì ở lớp có tôi và
các bạn, ở nhà có người thân động viên nhắc nhở nên 100% học sinh trong lớp tôi
đều thực hành các nghi thức lời nói đã học:
12
PHẦN III: KẾT LUẬN
1/ Kết luận:
Nhờ thực hiện các giải pháp như trên, đến nay 100% học inh trong lớp nắm
vững các nghi thức lời nói đã được học, trong đó nhiều em vận dụng rất sáng tạo
trong các tình huống giao tiếp.
Thực hiện tốt những việc trên, người giáo viên sẽ giúp học sinh thực hành tốt
một số nghi thức lời nói theo đúng chuẩn mực xã hội mà nội dung chương trình
yêu cầu. Điều đó có nghĩa là bước đầu chún ta đã giáo dục được học sinh trở thành
người con ngoan trong gia đình người học sinh ngoan trong nhà trường. Đây là
những điều kiện đầu tiên để các em trở thành một người văn minh, lịch sự trong xã
hội.
2/ Khuyến nghị.
a) Với cấp chỉ đạo
- Xây dựng đủ cơ sở vật chất trường lớp để đảm bảo mỗi lớp học có sĩ số từ
30-35 học sinh, tạo điều kiện cho giáo viên theo dõi sát sao mỗi học sinh trong quá
trình học tập.

6- Thực hành Tập làm văn 2
Trần Mạnh Hưởng (chủ biên)
Phan Phương Dung
7- Sách giáo khoa, Sách giáo viên môn Tiếng Việt 2.

14
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status