I. PHẦN MỞ ĐẦU
I. 1. Lý do chọn đề tài
I. 1.1 Cơ sở lí luận
Trong tất cả các môn học ở bậc tiểu học, môn toán có vị trí rất quan trọng.
Toán học với tư cách là một môn khoa học nghiên cứu một số mặt của thế giới thực.
Có một số hệ thống kiến thức có bản rất cần thiết cho đời sống sinh hoạt, lao động.
Đó là công cụ làm nền cho học sinh học các môn học khác, tiếp tục nhận thức thế
giới xung quanh. khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất lớn, vì nó có khả
năng phát triển tư duy lô gic, bồi dưỡng và phát triển trí tuệ, thao tác cần thiết để
nhận thức giáo dục hiện thực như: Trừu tượng hoá, khái quát hoá, phân tích tổng hợp,
so sánh, dự đoán, chứng minh và bác bỏ. Toán học có vai trò trong việc rèn luyện
phương pháp suy nghĩ, suy luận, giải quyết vấn đề có căn cứ khoa học toàn diện,
chính xác. Phát triển trí thông minh, tư duy độc lập, sáng tạo hình thành các kĩ năng
cơ bản của người học về ý trí, đức tính ttốt đẹp như cần cù, nhẫn nại, ý thức vượt
khó. Đồng thời để đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo chương trình
môn toán. Môn toán lớp 3 là chương trình đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp
dạy học nhằm đáp ứng những yêu cầu của của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn
ccông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước những năm đầu thế kỉ XXI
Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam.
Điều 24.2 Luật giáo dục của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam
Nghị quyết đại hội đại biểu lần thứ IX
I.1.2 Cơ sở thực tiễn.
Phép tính cộng trừ là mảng kiến thức rất quan trọng trong môn toán mà bất cứ
lớp học nào trong bậc tiểu học các em đều được tiếp cận. Theo chuẩn kiến thức kĩ
năng các em học sinh học môn toán kết quả chưa cao đặc biệt là kĩ năng công trừ có
nhớ. Môn toán là môn học khô khan nên học sinh tiếp thu bài một cách máy móc,
chưa yêu thích môn học, nên rất rễ quên. Vận dụng kĩ năng về tính toán, giải toán
chưa thành thạo. Vấn đề này có nhiều nguyên nhân: do cách tổ chức của giáo
viên chưa hiệu quả, phương pháp dạy học chưa nhịp nhàng, cho nên học sinh chưa có
hứng thú trong học toán.
Vấn đề đặt ra ở đây làm thế nào để dạy học có kết quả, giúp học sinh nắm được
I.3.3.3 Giới hạn về khách thể khảo sát
Học sinh lớp 3 C2.
I.4 Phương pháp nghiên cứu:
Khi nghiên cứu đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
I.4.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận .
Để xây dựng một đề tài thì việc nghiên cứu lí luận là không thể thiếu. Khi nghiên
cứu đề tài này tôi đã nghiên cứu và tham khảo các tài liệu sau:
-Sách giáo khoa toán 3
-Vở bài tập toán 3
-Sách giáo viên toán 3
-Tập san thế giới trong ta
I.4.2., phương pháp quan sát.
Tôi đã vận dụng phương pháp này tối đa đặc biệt là khâu thông qua các tiết dạy
qua của giáo viên trong tổ, đồng thời quan sát việc học của học sinh lớp 3, kết hợp
ghi chép tỉ mỉ.
I.4.3. Phương pháp điều tra.Tìm hiểu học hỏi đồng nghiệp về thuận lợi, khó
khăn trong việc dạy phép tính cộng, trừ ở lớp 3. đồng thời trao đổi những biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trong các giờ toán với đồng nghiệp.
I.4.4. Phương pháp thực nghiệm.
-Dạy thực nghiệm ở 1 số tiết
-Kiểm tra thực nghiệm.
I.4.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm.
Bằng những sản phẩm thực của học sinh giáo viên đánh giá đúng chất lượng, nhận
thức của học sinh, tìm ra những ưu, nhược điểm của giáo viên để nhận xét, đánh giá
rút kinh nghiệm và có những biện pháp kịp thời bồi dưỡng.
Ngoài những biện pháp nêu trên, tôi còn kết hợp các phương pháp khác, nghiên
cứu thực tế, thống kê, trắc nghiệm, trò chơi
I.5. Đóng góp mới về mặt lý luận, về mặt thực tiễn.
Trong công tác giảng dạy người giáo viên muốn đạt được kết quả cao trước
tiên phải nắm được đặc điểm tâm sinh lí học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp 3
sinh biết vận dụng kiến thức bài cũ để tìm ra cách thực hiện kiến thức ở phần bài mới.
Tổ chức trò chơi toán học sau mỗi bài học để học sinh ghi nhớ kiến thức bài
học một cách tự nhiên
Thực hành luyện tập: học sinh làm các bài tập nhằm khắc sâu kiến thức mới
vừa thực hiện.
- Để nâng cao hiệu quả dạy phép tính cộng trừ lớp 3 giáo viên cần có những
biện pháp phù hợp có nhiều hình thức tổ chức trong tiết học để giúp học sinh tiếp thu
bài một cách thoải mái, nhẹ nhàng, giáo viên chỉ là người tổ chức hướng dẫn học sinh
tự phát hiện kiến thức và trình bày kiến thức.
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
II.2.1.Thực trạng về dạy – học phép tính cộng trừ ở lớp 3.
Qua thực tế giảng dạy và dự giờ tôi thấy biện pháp tổ chức cho học sinh tự
khám phá kiến thức chưa cao. giáo viên chưa có biện pháp hiệu quả rèn kĩ năng thực
hiện phép tính cộng, trừ cho học sinh.
- Một số học sinh trong lớp chưa có kĩ năng đặt tính và thực hiện phép tính cộng,
trừ. khi thực hiện cộng, trừ có nhớ, học sinh thường quên phần nhớ, nhiều học sinh
chưa có kĩ năng cộng nhẩm khi cộng thường, phải kèm theo đồ dùng trực quan như
ngón tay, vạch đếm nét thẳng trên bảng
- Học sinh tiếp thu bài một cách thụ động, chưa biết vận dụng kiến thức bài cũ
đã học để tìm ra kiến thức bài mới .
Nguyên nhân là:
+ Trong tiết dạy- học toán giáo viên ít tổ chức trò chơi trong học tập nên tiết
học gò bó, căng thẳng.
+ Qua thực tế giảng dạy và dự giờ tôi thấy biện pháp tổ chức cho học sinh tự
khám phá kiến thức khi dạy học môn toán chưa cao.
+ Học sinh chưa nắm chắc cách đặt tính và thực hiện phép tính
II.3.2.2 Đánh giá thực trạng
Học sinh:
+ Chưa chú ý được bản thân còn hay mất trật tự, làm việc riêng trong giờ học.
+ Nhiều em tiếp thu bài chậm vì sự phát triển tư duy của học sinh chưa cao, chủ
- Chưa phát huy được tính độc lập sáng tạo của học sinh
- Học sinh nắm bài máy móc.
- Học sinh yếu kém còn lúng túng khi thực hiện.
Với chất lượng khảo sát đầu năm tôi rất băn khoăn, trăn trở, tự đặt ra câu hỏi:
Tại sao chất lượng học sinh môn toán lại yếu như vậy? Tôi đã mạnh dạn trao đổi với
ban giám hiệu, chị em đồng nghiệp trong trường và trường bạn. Tôi đi dự giờ những
GV có kinh nghiệm trong chuyên môn để đưa ra những biện pháp để rèn kĩ năng thực
hiện phép tính cộng trừ cho học sinh lớp 3.
CHƯƠNG 3
Biện pháp rèn kĩ năng thực hiện phép tính cộng trừ cho học sinh lớp 3
II.3.1.Các biện pháp rèn kĩ năng thực hiện phép tính cộng trừ cho học sinh lớp 3
II.3.1.1. Học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức
+ Rèn kĩ năng cho học sinh tự đặt tính.
- Muốn thực hiện được phép tính đúng thì trước hết học sinh phải biết đặt tính
đúng là phải đặt tính sao cho các chữ số cùng hàng phải thẳng cột với nhau. Nhưng
thực tế còn nhiều học sinh đặt tính chưa thẳng hàng, thẳng cột với nhau:
Ví dụ: Chữ số hàng trăm thẳng hàng với chữ số hàng nghìn dẫn đến khi thực
hiện kết quả sai.
Vì vậy trước khi học sinh đặt tính tôi đã yêu cầu học sinh đọc phép tính – học
sinh nêu thành phần , cấu tạo của phép tính, vị trí của các số trong phép tính để học
sinh xác định rõ và nêu được phép tính đó là phép cộng hay trừ số có mấy chữ số cho
số có mấy chữ số, và chỉ rõ chữ số ở hàng nào.
VD1: Khi thực hiện phép tính cộng: 2346 + 327.
Giáo viên ghi phép tính lên bảng – học sinh đọc phép tính.
Hỏi: đây là phép cộng số có mấy chữ số cộng với số có mấy chữ số ( học sinh trả
lời: Đây là phép cộng số có 4 chữ số cộng với số có 3 chữ số.
Hỏi: Phân tích cấu tạo số 2346 hoặc 327. ( Học sinh phân tích chỉ ra các chữ số ở
các hàng )
Hỏi: Muốn thực hiện được phép tính này phải làm gì ? Đặt tính như thế nào ?
Hỏi: Hàng đơn vị của số bị trừ có trừ được cho số hàng đơn vị của số trừ không?
Ta làm như thế nào? như vậy học sinh sẽ nêu:
( Mượn 1 ở hàng chục thành 12 để trừ và thực hiện trừ bình thường ) ở hàng trăm
thực hiện tương tự.
- Đối với các phép tính cộng, trừ có nhớ – học sinh thực hiện thường quên không
nhớ. Tôi đã hướng dẫn các em nhớ vào hàng nào các em đánh 1 dấu chấm nhỏ
trên chữ số đó- Khi thực hiện các em sẽ không bị quên.
GV: Muốn trừ các số trong phạm vi 10.000 ta làm gì? thực hiện như thế nào?
(học sinh trả lời)
GV: chốt lại kiến thức của bài mới: phép trừ các số trong phạm vi 10.000 có nhớ
2 lần không liên tiếp.
Sau khi học sinh đã chiếm lĩnh kiến thức mới
- Ta có thể nói học sinh đã tự tìm ra kiến thức mới thông qua sự gợi mở của giáo
viên. Kết quả phép tính trừ là tìm ra được giáo viên công nhận học sinh có hứng
thú hơn, phát huy hết năng lực học tập.
Khi thấy lớp biết cách thực hiện phép tính rồi giáo viên mới chốt lại cách thực
hiện phép tính, như vậy mỗi lần học sinh được nhắc lại cách thực hiện phép tính
học sinh nhớ lâu hơn, khắc sâu hơn cách cộng. Học sinh được củng cố ghi nhớ các
kiến thức đó ngay tại lớp bằng cách vận dụng làm các bài tập thực hành. lúc này
học sinh được làm việc độc lập trên vở bài tập.
II.3.1.2.Trò chơi học tập
- Để giờ học thêm sinh động và đạt hiệu quả trò chơi cũng được sử dụng trong tiết
học toán dưới hình thức “ Học mà chơi, chơi mà học”.
Thông qua trò chơi học sinh được củng cố lại những kiến thức vừa học một cách
tự nhiên, rất hào hứng sôi nổi không khí lớp học tránh được sự gò bó, căng thẳng.
VD đối với bài tập 4: đúng ghi Đ, sai ghi S ( bài trừ các số có 3 chữ số có nhớ một
lần) Nhóm1 Nhóm 2
237
-
160
GV tuyên bố đội thắng cuộc. Đội thắng cuộc được các bạn cổ vũ, động viên nên
các em rất hăng hái, tiết học vui, sôi nổi, đồng thời tạo mối quan hệ gắn bó gần gũi
giữa thầy và trò.
Thông qua trò chơi rèn cho học sinh tính nhanh nhẹn và ki năng thực hiện trừ số
có 3 chữ số ( có nhớ 1 lần )
II.3.1.3. Phân công bạn học khá, giỏi giúp đỡ bạn học sinh yếu
Ở 1 số bài ở phần luyện tập khi học sinh làm bài song tôi yêu cầu học sinh cung
bàn đổi chéo vở để kiểm tra bài của bạn.(trong lớp tôi xếp chỗ ngồi cho học sinh
thường xen kẽ học sinh khá, giỏi ngồi kèm học sinh yếu, kém). Qua đó giúp các em
có thói quen kiểm tra,và tự kiểm tra kết quả bài làm của mình, của bạn, kết phối hợp
giảng giải, sửa sai ngay cho những bạn học yếu.
Bên cạnh đó ngoài việc kiểm tra giúp đỡ bạn trong tiết học tôi còn phân công
học sinh khá, giỏi giúp đỡ bạn học sinh yếu trong các giờ học tại buổi 7 và 8/ tuần
- Giáo viên lên lịch kiểm tra sự tiến bộ của từng nhóm đồng thời động viên, tuyên
dương kịp thời.
II.3.1.4 Kết phối hợp với nhà trường và phụ huynh để có những biện pháp
rèn học sinh đạt kết quả.
-Tôi tham mưu với tổ chuyên môn nhà trường soạn và in bài kiểm tra trắc
nghiệm cho học sinh làm trong những buổi ôn tập. Các bài tập trắc nghiệm học
sinh được tự đánh giá tay đôi cùng với những học sinh kĩ năng cộng trừ còn yếu.
Ngoài những hôm tổ chức ôn buổi 7, buổi 8 thường học sinh về nhà không làm
bài tập, tổ chức họp phụ huynh hướng dẫn lại cách thực hiện phép tính cộng trừ để
cha mẹ học sinh biết kèm và kiểm tra việc học ở nhà của học sinh.
Mỗi tuần gửi sổ liên lạc kèm kết quả bài kiểm tra và bài tập thực hành với nhận
xét sự tiến bộ của học sinh, hoặc sự chuyên cần luyện tập thực hành ở nhà thể
hiện trên vở bài tập.
II.3.2. Kết quả dạy thực nghiệm
Để so sánh chất lượng học tập của học sinh trong giờ toán tôi đã áp dụng các biện
pháp trên vào dạy ở 2 lớp 3C2 và 3B1.
Kết quả cho thấy tiết dạy có phương pháp kết hợp các biện pháp dạy học nên
như đồng nghiệp tôi nhận thấy : việc tổ chức dạy học phép tính cộng trừ cho học sinh
lớp 3 ở phân môn toán là vô cùng cần thiết. Bởi lẽ chương trình toán 3 mảng toán
cộng trừ rất quan trọng. Nó vừa mang tính chất thừa kế các kết quả đổi mới ở dạng
cộng, trừ của toán 1 và 2, thuộc lớp cuối của giai đoạn đầu nên hoàn thiện các kiến
thức, kĩ năng về cộng trừ, đồng thời chuẩn bị cho học sinh năng lực và tâm thế để
chuyển sang giai đoạn lớp 4,5 học về cộng trừ phân số, số thập phân, cộng trừ số có
nhiều chữ số đặc biệt là phát triển năng lực tư duy và thực hành cho học sinh.
Với việc thực hiện đề tài, áp dụng các biện pháp, các hình thức tổ chức dạy học
như đã đề suất vào các giờ toán trong năm học 2007-2008 của lớp tôi đã mang lại kết
quả cao.
Với những chuyển biến và kết quả đã đạt được tôi nhận thấy bản thân vẫn còn
hạn chế nhưng tôi kính mong lãnh đạo cấp trên đóng góp ý kiến để đề tài của tôi được
áp dụng trong toàn trường có hiệu quả cao hơn nữa.
III.2. Kiến nghị
*Với giáo viên : Cần kết hợp tối đa các phương pháp, tiếp tục nghiên cứu các biện
pháp mới nhất, có hiệu quả nhất để chất lượng môn toán được hiệu quả hơn.
Đông Hải, ngày 10
tháng 5 năm 2008
Người viết
Lương Thị Lan
IV.PHẦN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO- PHỤ LỤC
IV.1. Danh mục tài liệu tham khảo:
- Các Nghị quyết Hội nghị . . .
- Chuyên đề giáo dục Tiểu học
- Hỏi đáp về dạy học Toán 3 , chủ biên Đỗ Đình Hoan
- Sách giáo khoa toán lớp 3 (Của bộ GD - ĐT)
- Sách giáo giáo viên lớp 3 (Của bộ GD - ĐT)
- Tập san thế giới trong ta
II.3.1.4 Kết phối hợp với nhà trường và phụ huynh để có
những biện pháp rèn học sinh đạt kết quả.
II.3.2.Kết quả nghiên cứu.
PHẦN III
KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ
III.1. Kết luận
III.2. Kiến nghị
Phần IV: Danh mục tài liệu tham khảo- Mục lục
IV.1 . Danh mục tài liệu tham khảo
IV.2. Mục lục
IV.3. Giáo án minh họa
Giáo án số 1:
Giáo án số 2:
1
4
5
6
8
14
DẠY THỰC NGHIỆM
Giáo án số 1
Tiết : Phép cộng các số trong phạm vi 100.000.
I Mục tiêu :
- Giúp học sinh biết thực hiện phép cộng các số trong phạm vi 100.000 ( bao
gồm cả đặt tính và tính đúng ). Củng cố về giải toán bằng hai phép tính, tính diện tích
hình chữ nhật .
- Rèn kĩ năng đặt tính rồi tính.
- Giúp học sinh học tập tích cực .
II- Chuẩn bị .
GV : Bảng phụ , sánh giáo khoa , vở bài tập
2 HS lên bảng, dưới lớp làm
nháp
HS nhận xét- sửa sai
HS đọc
HS trả lời
(đặt tính và thực hiện từ phải
sang trái)
HS thực hành cách đặt tính
4 đến 5 HS nêu lại cách tính.
HS trả lời
2HS đọc yêu cầu
36742 78219 85063
+ 55418 + 16758 + 7892
H: Em thực hiện bằng cách nào ?
GV nhận xét-chốt kết quả đúng
Bài 2 (Giải toán)
Gọi HS đọc yêu cầu bài toán
H: Bài toán cho biết gì ?
H: Bài toán hỏi gì ?
H: Bài toán thuộc dạng toán nào ?
H: Muốn biết cả 2 phân xưởng đó may được tất cả
bao nhiêu cái áo làm như thế nào ?
H: Em thực hiện bằng cách nào ?
GV nhận xét-chốt kết quả đúng
Bài giải
Phân xưởng hai may được số cái áo là:
4620 + 280 = 4900 (cái)
Cả hai phân xưởng may được số cái áo là:
4620 + 4900 = 9500 (cái)
Đáp số: 9500 cái
Đại diện nhóm nêu cách
làm, HS nhận xét, sửa sai.
HS trả lời
- HS trả lời
Giáo án số 2
Tiết : Phép trừ các số trong phạm vi 100.000.
I Mục tiêu :
- Giúp học sinh biết thực hiện phép trừ các số trong phạm vi 100.000 ( bao
gồm cả đặt tính và tính đúng ). Củng cố về giải toán bằng hai phép tính, quan hệ giữa
km và m .
- Rèn kĩ năng đặt tính , tính và kĩ năng giải toán.
- Giúp học sinh yêu thích học môn toán.
II- Chuẩn bị .
GV : Bảng phụ , sánh giáo khoa , vở bài tập
HS : SGK, VBT, bảng con
III Các hoạt động dạy học
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò
I/ Kiểm tra bài cũ
GV ghi bảng, nêu yêu cầu: đặt tính rồi tính
4380 – 729 ; 8493 – 3667
GV ghi điểm
II/ Bài mới
1 Giới thiệu ghi bảng tên bài (trực tiếp)
2. Hướng dẫn HS thực hiện phép tính trừ:
GV ghi bảng:
85674 - 85329 = ?
H: Em có nhận xét gì về phép tính trên bảng ?
H: Muốn thực hiện được phép tính trừ em làm như thế
nào?
GV nói: Vận dụng cách trừ các số có bốn chữ số, tương
GV nhận xét-chốt kết quả đúng
Bài 2 (VBT)
Gọi HS đọc yêu cầu
Đặt tính rồi tính
63780 – 18546 91462 – 53406
GV nhận xét-chốt kết quả đúng
63780 91462
- 18546 - 53406
45234 38056
Bài 3 (giải toán)
Gọi HS đọc yêu cầu bài toán
H: Bài toán cho biết gì ?
H: Bài toán hỏi gì ?
H: Bài toán thuộc dạng toán nào ?
GV nhận xét, chốt kết quả đúng
4/ Củng cố dặn dò:
Trò chơi: Đúng ghi Đ sai ghi S
32484 91462
- 9177 - 53406
33317 58056
H: Tại sao em cho kết quả là đúng ?
H: Muốn trừ các số trong phạm vi 100.000 ta làm như
thế nào?
GV Dặn dò HS làm bài tập 1,2 (SGK) ở nhà.
GV nhận xét tiết học
3 HS thực hành cách đặt
tính và cách tính bảng
lớp, dưới lớp làm vào vở.
HS đọc kết quả làm dưới
lớp – chữa bài trên bảng
NHẬN XÉT CỦA HĐ KH CẤP TRƯỜNG
NHẬN XÉT CỦA HĐ KH PHÒNG GD&ĐT
class="bi x2 y104 w3 hd"