Một số biện pháp rèn kĩ năng nói trong giờ dạy tiếng Việt cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học Trần Phú - huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÊ THỊ PHƯƠNG THẢO
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG NÓI
TRONG GIỜ DẠY TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH
LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC TRẦN PHÚ
– HUYỆN LỤC YÊN – TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

sắc nhất đến ThS. Khổng Cát Sơn - giảng viên khoa Ngữ văn đã tận tình chỉ dẫn
và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Tiểu học -
Mầm non, Thư viện, Phòng quản lí đào tạo Đại học trường Đại học Tây Bắc.
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô và các em học sinh
trường Tiểu học Trần Phú - thị trấn Yên Thế - huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái đã
tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận.
Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô và các bạn để
khóa luận thêm hoàn thiện.

Xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2013
Người thực hiện:
Lê Thị Phương Thảo
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

GV : Giáo viên

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.1. Mục đích nghiên cứu 3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4. Khách thể nghiên cứu 3
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5.1. Đối tượng nghiên cứu 4
5.2. Phạm vi nghiên cứu 4
6. Giả thiết khoa học 4
7. Phương pháp nghiên cứu 4
8. Cấu trúc khóa luận 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1.1. Cơ sở lí luận 6
1.1.1. Cơ sở của việc dạy kĩ năng nói 6
1.1.1.1. Cơ sở tâm lí 6
1.1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy kĩ năng nói 7
1.1.2. Lý thuyết văn bản, phong cách văn bản và việc rèn kĩ năng nói trong
giờ dạy tiếng Việt cho HS lớp 2 9
1.1.3. Vai trò của rèn kĩ năng nói đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách trẻ em 9
1.1.3.1. Kĩ năng nói là một phương tiện giáo dục lao động 9
1.1.3.2. Kĩ năng nói là một phương tiện giáo dục đạo đức, thẩm mĩ 10
1.1.3.3. Kĩ năng nói là một phương tiện nâng cao trình độ ngôn ngữ nói 10
1.1.3.4. Kĩ năng nói là một phương tiện rèn thính giác ngôn ngữ 10
1.2. Cơ sở thực tiễn 11
1.2.1. Khảo sát thực trạng rèn kĩ năng nói trong giờ dạy tiếng Việt cho HS lớp 2
11
1.2.1.1. Mục đích khảo sát 11
1.2.1.2. Nội dung khảo sát 11
1.2.1.3. Phương pháp khảo sát 11
1.2.1.4. Đối tượng khảo sát 11

1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước đòi hỏi phải đổi mới
chương trình giáo dục phổ thông. Nhân tố quyết định thắng lợi là nguồn lực con
người Việt Nam trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Cho nên, trước hết phải
chăm lo phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớp người lao động có những
phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn
mới. Điều này cần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông.
Quyết định số 2957/GDDT ngày 14 - 10 - 1994 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo đã khẳng định: “Tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho việc hình
thành, phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắc cho
giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân”. Giáo dục tiểu
học “hình thành cho HS những cơ sở ban đầu về sự phát triển đúng đắn và lâu
dài về tình cảm, trí tuệ, thể chất và các kĩ năng cơ bản để học tiếp trung học
hoặc đi vào cuộc sống lao động”.
Ngày xưa, ông bà ta rất coi trọng việc giao tiếp và ngôn ngữ lời nói là
phương tiện giao tiếp ở dạng hiện thực hóa tức là ở dạng hoạt động, gắn liền với
các tình huống cụ thể, nội dung cụ thể đóng vai trò trao đổi thông tin, biểu hiện
tình cảm, qua lời nói thể hiện văn hoá, tính nết của con người. Lời nói vừa là đối
tượng học tập của HS, vừa tạo cho các em công cụ để học các môn khác, là công
cụ để tư duy, giao tiếp. Do vậy, cần phải giáo dục, rèn luyện lời nói của các em
ngay từ nhỏ, từ các lớp đầu cấp tiểu học để sau này các em có thói quen cư xử
đúng mực, lịch sự trong khi giao tiếp.
Để nhìn nhận đánh giá một con người, chúng ta cũng cần phải giao tiếp
hàng ngày với họ. Người xưa có câu:
“Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

cầu kiến thức và kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở bậc tiểu học để HS vừa có thể tự
học mà vẫn được chơi các trò chơi cùng bạn bè theo tinh thần “học vui - vui
học” một cách hứng thú và bổ ích.
2. Lê Phương Nga, Đặng Kim Nga (2007), Phương pháp dạy học Tiếng
Việt ở Tiểu học, NXB Sư phạm, NXB Giáo dục. Cuốn sách đã cập nhật những
thông tin đổi mới về nội dung chương trình SGK mới, về phương pháp dạy học
theo chương trình mới. Đặc biệt, cuốn sách đã trình bày một cách chi tiết, cụ thể
về cấu trúc, nội dung và phương pháp dạy học cho từng môn. Ngoài ra, cuốn
sách còn giới thiệu được một số phương pháp dạy học tích cực theo hướng đổi
mới như: sử dụng bộ đồ dùng học tập trong dạy học, sử dụng máy chiếu, băng
hình… nhằm phục vụ cho chương trình dạy - học đạt kết quả cao nhất.

3
3. Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học
theo chương trình mới (Nhà xuất bản Giáo dục - 2003) đã đề cập đến những vấn
đề cơ bản của phương pháp dạy học mới ở nhà trường tiểu học nói chung và
tiếng Việt 2 nói riêng. Đặc biệt, tác giả quan tâm đến dạy cho HS bốn kĩ năng:
nghe - nói - đọc - viết. Đây chính là cơ sở để giúp GV biết cách vận dụng linh
hoạt các phương pháp vào dạy học phân môn Tiếng Việt.
4. Vũ Khắc Tuấn (2008), Luyện nói cho học sinh lớp 2, NXB Giáo dục.
Trong cuốn sách, tác giả đã đề cập đến những nội dung luyện nói cho HS lớp 2
trong giờ tiếng Việt gồm hai phần chính: Phần 1 đề cập đến những vấn đề chung
về luyện nói ở lớp 2; Phần 2 bao gồm những vấn đề cụ thể về luyện nói ở lớp 2.
Ở phần này, tác giả đặc biệt chú trọng đến Luyện nói giao tiếp, Luyện nói lời kể,
Luyện nói lời nhận xét.
Những công trình nghiên cứu nói trên là định hướng quý báu để chúng tôi thực
hiện khóa luận “Một số biện pháp rèn kĩ năng nói trong giờ dạy tiếng Việt cho học
sinh lớp 2 trường Tiểu học Trần Phú - huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

án đề xuất, sẽ góp thêm tiếng nói vào việc tìm ra biện pháp nâng cao chất lượng
dạy và học theo quan điểm giao tiếp qua lĩnh vực rèn kĩ năng nói cho HS lớp 2.
7. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc, nghiên cứu và xử lí các tài liệu có
liên quan.
- Phương pháp điều tra được tiến hành dưới các hình thức:
+ Dùng phiếu điều tra.
+ Trao đổi trực tiếp với GV và HS.
+ Dự giờ các tiết học để tìm hiểu phương pháp dạy học của GV.
- Phương pháp phân tích - thống kê: tổng hợp các số liệu điều tra từ thực tế
để phân tích làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất biện pháp rèn kĩ năng nói cho
HS lớp 2.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: từ các phương pháp đã đề xuất, tiến
hành thực nghiệm tại trường tiểu học.
5
8. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị, phụ lục, tài liệu tham
khảo, nội dung chính của khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Những biện pháp rèn kĩ năng nói trong giờ dạy tiếng Việt cho học
sinh lớp 2
Chương 3: Thực nghiệm 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN


7
- Phân môn Luyện từ và câu cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về
tiếng Việt và rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu, kĩ năng đọc cho HS.
- Phân môn Kể chuyện rèn kĩ năng nói, nghe và đọc. Trong tiết Kể chuyện,
HS kể lại những câu chuyện phù hợp với chủ điểm mà các em đã học, nghe thầy
cô hoặc bạn kể rồi kể lại câu chuyện bằng lời của mình, trả lời câu hỏi hoặc ghi
lại những chi tiết chính của câu chuyện đó.
- Phân môn Tập làm văn rèn cho HS cả 4 kĩ năng nghe, nói, viết và đọc.
Trong giờ Tập làm văn, HS được cung cấp kiến thức về cách viết bài và làm các
bài tập. HS được rèn luyện và thực hành nói rất nhiều về những lời nói biểu
cảm, lịch sự và nói lễ phép.
Trong những năm học vừa qua, chúng tôi đã tiếp cận với chương trình SGK
mới và đã thấy được tầm quan trọng của SGK Tiếng Việt lớp 2 là rèn cho HS kĩ
năng nói là rất cần thiết. Chúng tôi đã và đang nghiên cứu để tìm ra những biện
pháp mới, hay để áp dụng vào việc giảng dạy trong tương lai nhằm nâng cao
nghiệp vụ chuyên môn và góp phần giúp cho chất lượng giáo dục ngày càng
được nâng cao.
Hiện nay, chúng ta đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy và học lấy HS
làm trung tâm, phát huy tính sáng tạo, tích cực học tập của HS. Theo chúng tôi,
môn Tiếng Việt là môn học rất cần phải tạo điều kiện cho HS tự giác trong luyện
tập để rút kinh nghiệm, tự chiếm lĩnh kiến thức qua thực hành dưới sự chỉ dẫn, điều
hành của GV. Qua thực tế nghiên cứu, chúng tôi cho rằng rèn kĩ năng nói trong giờ
dạy tiếng Việt cho HS lớp 2 là điều hết sức cần thiết và quan trọng.
1.1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ học của việc dạy kĩ năng nói
a, Vấn đề chính âm tiếng Việt và việc dạy rèn kĩ năng nói
Kĩ năng nói chính là: nói đúng về mặt ngữ âm, sử dụng từ đúng nghĩa, đặt
câu đúng, sử dụng câu phù hợp với bối cảnh giao tiếp. GV cần phải xác định
được mối quan hệ giữa chính âm tiếng Việt và việc dạy rèn kĩ năng nói. Chính
âm là chuẩn mực phát âm của một ngôn ngữ có giá trị và hiệu lực về mặt xã hội.
Chính âm sẽ quy định nội dung luyện phát âm ở tiểu học. Chính âm liên quan tới

+
+
-
Sáu thanh
+
-
-

Chính âm trong nhà trường phải đảm bảo những yêu cầu cụ thể sau:
- Phát âm đúng (cả âm lẫn thanh).
- Chú ý phân biệt các dấu hỏi, ngã, nặng.
- Chú ý phân biệt các cặp phụ âm đầu tr / ch, x / s, l / n, r / d / gi.
- Chú ý phân biệt các vần âu / iu, ây / ay, iêu / ươu, iu / ưu.
b, Vấn đề ngữ điệu và việc dạy rèn kĩ năng nói
Theo nghĩa hẹp, ngữ điệu là sự thay đổi giọng nói, giọng đọc, là sự lên
cao hay hạ thấp giọng nói, giọng đọc. Theo nghĩa rộng, ngữ điệu là sự thống
nhất của một tổ hợp các phương tiện siêu đoạn (siêu âm, đoạn tính) có quan hệ
tương tác lẫn nhau được sử dụng ở bình diện câu như cao độ (độ cao thấp của âm
thanh), cường độ (độ lớn, nhỏ, mạnh yếu của âm thanh), tốc độ (độ nhanh chậm,
ngắt nghỉ), trường độ (độ dài ngắn của âm thanh) và âm sắc. Ngữ điệu là yếu tố gắn
chặt với lời nói, là yếu tố tham gia tạo thành lời nói. Ngữ điệu được sử dụng để
biểu thị ý nghĩa và phạm trù ngữ pháp cũng như các sắc thái cảm xúc, biểu cảm.
Ngữ điệu có hai đặc điểm:

9
+ Ngữ điệu mang tính xã hội: đây là đặc trưng vốn có của các thành phần
tham gia cấu thành ngữ điệu, phần này mang tính bắt buộc, tính phổ quát.
+ Ngữ điệu mang tính cá nhân: có khả năng sáng tạo của người nói hoặc
đọc khi sử dụng ngữ điệu. Phần này mang tính nghệ thuật, tính cá nhân, gắn liền
với tình huống giao tiếp, có tác dụng bộc lộ cảm xúc, thái độ, nhận thức của

đối với lao động như vậy chỉ có thể có được khi con người hình thành được một
cách vững chắc thói quen nỗ lực lao động, khi con người yêu thích bất cứ một hình
thức lao động nào, nếu như hình thức đó có một ý nghĩa nhất định”.
Quan điểm trên đây của A.X.Makarencô hoàn toàn có thể áp dụng vào
việc rèn kĩ năng nói. Bởi vì, kĩ năng nói là một hoạt động lao động sáng tạo. Nó
đòi hỏi người ta phải vận động những cơ quan hô hấp, bộ máy phát âm, thị giác,
thính giác,… và huy động các chức năng tâm lí như: tư duy, trí tưởng tượng, để
có thể hình dung, nghe thấy, nhìn thấy, sáng tạo, phát triển những hình tượng
nghệ thuật chứa đựng trong tác phẩm và thể hiện nó trước người nghe, giúp
người nghe nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy, hiểu và thưởng thức những giá trị
phong phú chứa đựng trong tác phẩm.
1.1.3.2. Kĩ năng nói là một phương tiện giáo dục đạo đức, thẩm mĩ
Kĩ năng nói là một phần đầu của chương trình giáo dục thẩm mĩ, nhưng
giáo dục thẩm mĩ và giáo dục đạo đức bao giờ cũng gắn liền với nhau. Người
đọc cần phải chân thành rung cảm với nhà thơ những cảm xúc cao độ tràn ngập
tâm hồn nhà thơ.
Rèn kĩ năng nói giúp cho các em thêm yêu thích văn học và từ đó nảy
sinh ra ý muốn đọc thật diễn cảm tác phẩm nghệ thuật mình đã rung động. Hình
thành, phát triển khả năng hoạt động nghệ thuật là hình thành, phát triển những
kĩ năng cơ bản của trẻ em.
1.1.3.3. Kĩ năng nói là một phương tiện nâng cao trình độ ngôn ngữ nói
Trong chương trình giáo dục phổ thông, việc rèn kĩ năng nói gắn liền với
phần phát triển ngôn ngữ. Kĩ năng nói trở thành động lực phát triển tình cảm
ngôn ngữ và thính giác ngôn ngữ cho trẻ. Kĩ năng nói chính là hình thức,
phương tiện trực quan sinh động đối với sự phát triển của trẻ, đặc biệt là phát
triển ngôn ngữ cho trẻ.
Kĩ năng nói bao giờ cũng gắn với việc đọc thuộc lòng và sau đó là kể
chuyện có nghệ thuật, có tác dụng làm phong phú và trau dồi ngôn ngữ nói cho
các em.
1.1.3.4. Kĩ năng nói là một phương tiện rèn thính giác ngôn ngữ

- Khảo sát GV dạy tiếng Việt lớp 2 và 116 HS khối lớp 2 (gồm 4 lớp).
1.2.1.5. Thời gian, địa điểm khảo sát
Chúng tôi thực hiện khảo sát tại trường Tiểu học Trần Phú - thị trấn Yên Thế
- huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái trong thời gian từ 18/2/2013 đến 05/4/2013.

12
1.2.2. Kết quả khảo sát
1.2.2.1. Chương trình SGK Tiếng Việt lớp 2
Chương trình và SGK Tiếng Việt cải cách ở lớp 2 được dạy học trong 33
tuần, SGK đều được in thành 2 tập (Tập 1 và Tập 2) và phân phối chương trình
như sau: Mỗi tuần học 4 tiết, mỗi tiết học 35 phút.
Chương trình Tiếng Việt mới, phân môn Tập đọc ở lớp 2 được học trong 31
tuần (không kể 4 tuần ôn tập), tất cả các bài tập đọc đều được phân bố xen kẽ
với các môn học khác. Ở lớp 2 có 15 chủ điểm, mỗi chủ điểm học trong 2 tuần
(riêng chủ điểm Nhân dân học trong 3 tuần).
Sách được xây dựng theo 2 trục là chủ điểm và kĩ năng, trong đó chủ điểm
được lấy làm khung cho cả cuốn sách. Còn kĩ năng được lấy làm khung cho
từng tuần, từng đơn vị học.
Môn Tiếng Việt lớp 2 bao gồm các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính
tả, Tập viết, Luyện từ và câu, Tập làm văn. Mỗi phân môn có nội dung chương
trình riêng và bố trí xen kẽ nhau trong từng bài học.
Sách bao gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với 1 chủ điểm, học trong 2
tuần (riêng chủ điểm Nhân dân học trong 3 tuần).
Chương trình Tiếng Việt lớp 2 gồm 35 tuần lễ. Mỗi tuần học 9 tiết, học kì I
gồm 18 tuần (162 tiết), học kì II gồm 17 tuần (153 tiết). Được chia làm 2 tập:
Sách Tiếng Việt lớp 2 tập I và Sách Tiếng Việt lớp 2 tập II.
Tập I tập trung vào chủ đề “Học sinh + Nhà trường + Gia đình” gồm 8 đơn
vị học, các chủ điểm có tên gọi như sau:
- Em là học sinh (tuần 1, 2)
- Bạn bè (tuần 3, 4)

chương trình SGV gồm 2 phần là phần hướng dẫn chung và phần hướng dẫn cụ thể.
Phần hướng dẫn chung là phần trình bày các mục tiêu, quan điểm dạy học,
biên soạn, nội dung, phương pháp dạy học tiếng Việt và hướng dẫn dạy học từng
phân môn cụ thể.
Phần hướng dẫn cụ thể là phần chủ yếu trình bày các bài hướng dẫn. GV có
định hướng soạn bài tương ứng với các bài học trong SGK, SGV.
Ngoài ra, GV còn có một số tài liệu dạy học khác như: Vở bài tập tiếng
Việt, trò chơi thực hành tiếng Việt. Những tài liệu này giúp HS luyện tập, thực
hành các kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết phục vụ cho quá trình học tập.
SGV Tiếng Việt 2 bám sát chương trình SGK của HS, là tài liệu đóng vai

14
trò quan trọng giúp GV định hướng quá trình dạy - học của GV và HS nhằm
thực hiện việc nâng cao chất lượng và hiệu quả của các tiết học.
1.2.2.3. Vận dụng các thiết bị dạy học vào việc rèn kĩ năng nói
a, Vai trò của thiết bị dạy học trong việc nâng cao chất lượng dạy và học
rèn kĩ năng nói
TBDH bao gồm các loại hình khác nhau như: tranh, ảnh, dụng cụ thí
nghiệm, băng ghi âm, phim, đèn chiếu… Mỗi loại hình TBDH phát huy tính
năng, tác dụng khác nhau trong quá trình dạy học. TBDH chính là công cụ lao
động của GV và học HS, chúng là những yếu tố không thể thiếu trong quá trình
dạy học. Với tư cách là công cụ lao động của GV và HS, trong từng trường hợp
sẽ được sử dụng đúng quy trình với đặc trưng bộ môn. TBDH đóng vai trò cung
cấp nguồn thông tin học tập, tạo ra nhiều khả năng để GV trình bày bài học một
cách xuất sắc, thuận lợi, hình thành cho HS những phương pháp học tập tích
cực, chủ động. Sử dụng TBDH trong quá trình dạy học là con đường kết hợp
chặt chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng. Bằng hành động kết hợp với ngôn
ngữ bên trong (tư duy) phù hợp với đặc điểm nhận thức của HS tiểu học, đặc
biệt là HS lớp 2.
Thực tế cho thấy, các phương pháp dạy học nếu được sự hỗ trợ của các

nói chung, nó phát triển nhận thức, tư duy, trí tuệ, nhân cách cho HS.
b, Sử dụng hệ thống thiết bị dạy học trong việc rèn kĩ năng nói cho HS lớp
2 trong giờ tiếng Việt
Các TBDH gồm nhiều loại khác nhau: tranh, ảnh, mô hình, mẫu vật, biểu
bảng… Mỗi loại có một tính năng riêng. Có loại TBDH chủ yếu tác động vào thị
giác của con người (tranh, ảnh, bản đồ, biểu bảng, bộ chữ), có loại chỉ tác động
vào thính giác (băng ghi âm, đĩa ghi âm), có loại tác động đồng thời vào cả thị
giác và thính giác (phim, đèn chiếu, băng ghi hình, đĩa ghi hình), có loại tác
động vào nhiều giác quan khác nhau… Do đó, GV cần nắm vững tính năng, tác
dụng của từng thiết bị để sử dụng đúng cách, có hiệu quả.
Các thiết bị phổ biến:
+ Tranh, ảnh: là những tác phẩm nghệ thuật hội họa phản ánh hiện thực
bằng màu sắc, hình mảng, đường nét. Tranh, ảnh mô tả hiện thực bằng thông tin
hình tượng và ở trạng thái tĩnh tác động vào thị giác. Tranh, ảnh sử dụng nhiều ở
phân môn Học vần, Tập đọc, Kể chuyện.
+ Biểu bảng: là những bảng hệ thống hóa, liệt kê số liệu có đối chiếu để
trình bày vấn đề một cách có tính khái quát, tổng hợp. Biểu bảng giúp HS nắm
được những biểu hiện cụ thể của vấn đề một cách có hệ thống, thấy được quy
luật chung. Đồng thời cũng nắm được những biểu hiện cụ thể của đối tượng
nghiên cứu.

16
+ Bộ chữ cái: Gồm các chữ cái được in hai màu xanh, đỏ trên những tấm
nhựa trắng, cắt rời, dùng để hướng dẫn HS ghép vần, ghép tiếng tiếng Việt. Bộ
chữ có hai loại: Bộ chữ học vần biểu diễn dùng cho GV (có kích thước lớn, đảm
bảo cho HS toàn lớp có thể nhìn rõ khi GV hướng dẫn ghép âm, vần, từ khóa
trên bảng lớp) và Bộ chữ học vần thực hành dùng cho HS (có kích thước nhỏ
hơn, dùng cho HS thực hành ghép vần, ghép tiếng hoặc tham gia các trò chơi
học tập ở lớp hoặc ở nhà).
+ Thiết bị hiện đại: máy tính, máy chiếu, đĩa mềm, băng đĩa ghi âm (ghi

37,9 %
Tạm được
12 HS
41,4 %
Chưa được
6 HS
20,7 %

Bảng 2: Thống kê khả năng nói - giao tiếp của 29 HS lớp 2B
năm học 2012-2013.
Khả năng
Số học sinh
Tỷ lệ
Nói tốt
9
31,0%
Tạm được
13
44,8%
Chưa được
7
24,2%

Để tìm hiểu mức độ hứng thú của HS trong các giờ học luyện nói, chúng tôi
đã đưa ra phiếu điều tra đối với 58 HS lớp 2A và 2B kết quả thu được như sau:
Bảng 3: Mức độ hứng thú với các giờ học luyện nói của HS
Mức độ

Bình thường
Không

96,6%
3,4%

Bảng 6: Mức độ luyện nói ở nhà của HS
Mức độ
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
Số lượng
38
17
3
Tỉ lệ
65,5%
29,3%
5,2%

Kết quả khảo sát bằng phiếu điều tra cho thấy:
Đa số các em thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc luyện nói
trong học tập cũng như trong đời sống. Do vậy, các em đã có hứng thú và ý thức
khá cao với việc luyện nói trong giờ học tiếng Việt.
Qua việc khảo sát kết quả điều tra cho thấy:
Địa bàn nghiên cứu là thị trấn - khu vực kinh tế tương đối phát triển nên các
gia đình có điều kiện quan tâm và chăm lo cho quá trình học tập của HS. Chính vì
vậy, các em có những điều kiện tốt nhất để học tập và rèn luyện. Từ đó, các em có
được hứng thú và niềm đam mê với việc học tập và rèn luyện kĩ năng nói.
Hầu hết các em cảm thấy thích và hứng thú với việc luyện nói (51,7%).
Đó chính là lý do để các em có ý thức tự học và tự rèn luyện thường xuyên ở nhà
(65,5%). Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có số ít HS chưa có phương pháp học tập
đúng đắn, cũng như sự quan tâm chưa đúng mức từ phía gia đình nên việc luyện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status