Sáng kiến kinh nghiệm: Các biện pháp rèn kỹ năng viết đoạn văn _ môn Văn cho học sinh lớp 3 - Pdf 23

PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO QUẬN HOÀNG MAI
TRƯỜNG TIỂU HỌC TÂN ĐỊNH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN
MIÊU TẢ NGẮN THEO CHỦ ĐIỂM
CHO HỌC SINH LỚP 3
Lĩnh vực : Đổi mới dạy học môn Tiếng Việt
Tên tác giả : Hoàng Thị Vân
Chức vụ : Giáo viên
Năm học 2013 - 2014
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Bậc tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Học sinh
tiểu học phải được phát triển một cách toàn diện, được hình thành các kĩ năng cơ
bản về nghe, nói đọc, viết trong môn Tiếng Việt. Việc rèn các kĩ năng ngôn bản nói
và viết cho học sinh là nhiệm vụ chủ yếu của phân môn Tập làm văn. Từ việc nhận
thức như vậy tôi thấy cần phải giúp học sinh học tốt môn Tiếng Việt trong trường
tiểu học.
Như chúng ta đã biết, trong nhà trường tiểu học, Tiếng Việt được coi như là
một môn học nền tảng. Nó giúp học sinh biết đọc tốt, biết diễn đạt đúng bằng lời
nói và chữ viết, biết ghi lại những điều nghe được, đọc được. Đó cũng là cơ sở để
học sinh tiếp thu các môn học khác một cách dễ dàng.
Môn Tiếng Việt trong trường tiểu học bao gồm nhiều phân môn khác nhau:
tập đọc, kể chuyện, chính tả, tập viết, luyện từ và câu, tập làm văn. Trong đó Tập
làm văn là một môn học thực hành có tính chất toàn diện, tổng hợp và sáng tạo. Nó
hình thành cho học sinh hệ thống kĩ năng viết văn bản đúng với yêu cầu của đề bài.
Môn học này đòi hỏi học sinh huy động vốn tri thức, vốn sống của mình, những
hiểu biết liên quan đến nhiều môn học, nhiều mặt của đời sống, đòi hỏi học sinh
phải vận dụng nhiều năng lực, nhiều kĩ năng. Tập làm văn là phân môn quan trọng,
cần thiết cho việc học Tiếng Việt, cho việc rèn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Đi sâu

học sinh lớp 3.
- Phạm vi nghiên cứu:
Các biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả ngắn theo chủ điểm cho học sinh lớp
3 trong phân môn Tập làm văn
3
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện đề tài này tôi đã chọn các phương pháp nghiên cứu sau:
- PP nghiên cứu lí luận: đọc, nghiên cứu và sử dụng các tài liệu có liên quan đến
đề tài
- Nghiên cứu thông qua việc khảo sát chất lượng bài viết tập làm văn của học
sinh
- Nghiên cứu qua thực tế giảng dạy, tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp phỏng vấn, lấy ý kiến giáo viên dạy lớp 3 và các cán bộ quản lí
chuyên môn
5. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Khách thể nghiên cứu:
+ Những bài báo, nghiên cứu trong các tạp chí Nghiên cứu Giáo dục; chuyên
san Giáo dục tiểu học.
+ Các tài liệu bồi dưỡng chuyên đề dạy học Tập làm văn ở Tiểu học.
+ Các công trình nghiên cứu khoa học: Sáng kiến kinh nghiệm, Luận văn,
Luận án
+ Ý kiến đánh giá của giáo viên dạy lớp 3 và những người làm công tác chỉ
đạo chuyên môn ở Tiểu học.
- Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả ngắn theo chủ điểm cho học sinh
lớp 3 trong phân môn Tập làm văn.
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu có những biện pháp cụ thể rèn kĩ năng viết văn miêu tả ngắn theo chủ điểm
cho học sinh lớp 3 thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm
văn lớp 3 nói riêng, phân môn Tập làm văn ở tiểu học nói chung.

- Tiếp tục rèn luyện kĩ năng kể chuyện và miêu tả: kể một sự việc đơn giản, tả sơ
lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi.
- Rèn luyện kĩ năng nghe thông qua các bài tập nghe- kể và các hoạt động học tập
trên lớp.
Các hình thức luyện tập
- Bài tập nghe: nghe và kể lại một mẩu chuyện ngắn
- Bài tập nói:
+ Tổ chức điều khiển cuộc họp, phát biểu trong cuộc họp
+ Kể hoặc tả miệng về người thân, gia đình, trường, lớp, quê hương, lễ hội, hoạt
động thể thao- văn nghệ,…
6
- Bài tập viết:
+ Điền vào giấy tờ in sẵn
+ Viết một số giấy tờ theo mẫu
+ Viết thư
+ Ghi chép sổ tay
+ Kể hoặc tả ngắn về người thân, gia đình, trường lớp, quê hương, lễ hội, hoạt động
thể thao- văn nghệ,
II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN LỚP 3
Tập làm văn là phân môn cuối cùng của quá trình luyện tập cho học sinh có
năng lực sử dụng tiếng Việt, làm công cụ giao tiếp và tư duy. Để làm được bài văn,
học sinh phải huy động vốn kiến thức nhiều mặt như: các hiểu biết về cuộc sống, tri
thức về văn học, khoa học, xã hội… học sinh lại còn phải sử dụng nhiều loại kỹ
năng như: dùng từ đặt câu, dựng đoạn, tạo văn bản, kỹ năng phân tích đề, tìm ý, lập
dàn ý… Do đó tập làm văn mang tính thực hành toàn diện, tổng hợp. Mỗi một bài
văn thể hiện một sự suy nghĩ, hiểu biết mang đậm màu sắc cá nhân, là những sản
phẩm không lặp lại của mỗi học sinh. Tuy nhiên, trong những giờ dạy môn này
thường gặp không ít những khó khăn nhất là trong tiết học về nói, viết bài văn miêu
tả ngắn theo chủ điểm vì hầu hết học sinh rất thụ động, ít phát biểu, có chăng là học
sinh khá giỏi, thường thì các em cũng chỉ trả lời. Nguyên nhân chủ yếu là do học

các em có hiểu được hết nghĩa của chúng hay không và vận dụng chúng như thế
nào.
Ngoài việc trang bị thêm những đơn vị từ vựng mới cho học sinh, giáo viên còn
có trách nhiệm hoàn thiện vốn từ đã có của các em (học sinh tiếp nhận nó bằng con
đường vô thức) cùng với những hạn chế khác như trình độ tư duy chưa phát triển,
kinh nghiệm sống còn ít ỏi cho nên từ ngữ các em nắm chưa chắc.
Trong lúc cung cấp từ ngữ, cần phải dựa vào vốn từ sẵn có của học sinh từ đó mà
phát triển bổ sung thêm trên cơ sở kết hợp cũ - mới mà hệ thống hóa đồng thời từng
8
bước chính xác hóa, chi tiết hóa những nhận thức về nghĩa và giá trị của từ.
Để làm giàu vốn từ cho trẻ, giáo viên cần lưu ý mở rộng vốn từ tích cực (là những
từ sử dụng giao tiếp bình thường) và cần thu hẹp vốn từ tiêu cực (không sử dụng
trong giao tiếp thông thường) trong quá trình rèn luyện sử dụng từ.
Khi cung cấp vốn từ giáo viên nên khéo léo đi từ nghĩa của từ, gợi dần từ đó bật ra
từ cần thiết.
VD: tìm từ trái nghĩa với từ “tươi tốt”. Đầu tiên học sinh cần phải hiểu được
nghĩa của từ “tươi tốt”. Từ đó giáo viên gợi ý cho học sinh tìm từ trái nghĩa với từ
“tươi tốt” - “không tươi tốt” - “héo úa”.
Như chúng ta đã biết, để viết được một bài văn hay, giàu hình ảnh điều thiết yếu
nhất là phải có vốn từ phong phú, từ đó mới có thể lựa chọn từ đúng tạo nên câu
văn hay, sinh động, có “màu sắc, âm thanh”. Chính vì vậy, việc bổ sung vốn từ cho
học sinh là việc làm hết sức quan trọng. Trong quá trình giảng dạy Tiếng Việt, tôi
đã luôn cố gắng làm tốt việc này thông qua các biện pháp dưới đây:
a) Bổ sung vốn từ thông qua việc hệ thống lại các từ ngữ theo chủ điểm từ
các bài tập đọc, chính tả
Chẳng hạn khi học sinh được học về chủ đề Nghệ thuật, tôi yêu cầu các em tìm
các từ ngữ để miêu tả cái hay của tiết mục xiếc, các em dễ dàng tìm được các từ:
vui nhộn, dí dỏm, biến hoá bất ngờ, dẻo dai, khéo léo, thú vị…thông qua các bài
Tập đọc: Chương trình xiếc đặc sắc, Nhà ảo thuật.
Hoặc khi học về chủ đề Lễ hội, tôi cho học sinh làm một số bài tập sau:

Gươm, Sa Pa, Đà Lạt,…
Từ những tranh ảnh đó, tôi giúp các em khai thác vốn từ ngữ thông qua các
câu hỏi, bài tập nhỏ. Chẳng hạn với bức tranh Hồ Gươm, tôi yêu cầu học sinh
tìm những từ ngữ để miêu tả mặt hồ, cầu Thê Húc, hàng liễu ven hồ…
Từ việc quan sát tranh, các em đã tìm được khá nhiều từ ngữ hay:
+ Tả mặt hồ: trong xanh, lăn tăn gợn sóng, phẳng lặng, in bóng mây trời
10
+ Tả tháp rùa: uy nghiêm, cổ kính, rêu phong
+ Tả rặng liễu ven hồ: loà xoà, nghiêng mình soi bóng, như mái tóc thướt tha
Với tranh chụp cảnh đồng lúa mùa lúa chín, tôi yêu cầu học sinh tìm từ ngữ
miêu tả cánh đồng lúa
- Học sinh: rộng mênh mông, rộng bao la, xa tít chân trời, vàng rực, bông lúa
nặng trĩu….
Tôi nhận thấy rằng với việc sử dụng tranh ảnh minh hoạ như vậy không
những giúp các em khai thác được vốn từ ngữ vô cùng phong phú trong cuộc
sống mà còn giúp các em trong lớp bổ sung vốn từ cho bản thân, đồng thời tạo
điều kiện thuận lợi để lựa chọn từ ngữ hợp lí trong việc diễn đạt câu văn.
c) Hướng dẫn học sinh sử dụng từ ngữ đúng văn cảnh
Như trên đã nói, học sinh lớp 3 vốn từ còn nghèo nàn, việc hiểu từ còn chậm
do đó việc sử dụng từ ngữ thiếu chính xác thường hay xảy ra.
Ví dụ:
- Rạp xiếc hôm nay được trang hoàng thật đẹp bởi những ánh đèn màu sáng
long lanh.
- Hai bên thành phố, nhà cửa mọc lên san sát.
Do đó ngoài việc bổ sung vốn từ ngữ cho học sinh, tôi nghĩ rằng việc hướng
dẫn học sinh hiểu sâu hơn từ ngữ sẽ giúp học sinh sử dụng tốt hơn, phù hợp hơn
trong từng văn cảnh là việc làm rất cần thiết. Vì vậy, ở lớp, tôi thường tổ chức
cho học sinh luyện tập cách sử dụng từ thông qua dạng bài tập phát hiện từ dùng
sai và thay thế từ đúng trong một câu văn hoặc một đoạn văn.
Ví dụ 1. Lễ rước tượng diễn ra thật oai phong.

Sau đây là một bài viết có nhược điểm như vậy:
Đề bài: Em hãy viết một đoạn văn ngắn kể về một buổi biểu diễn nghệ thuật
“Chủ nhật vừa qua em được bố mẹ cho đi xem xiếc tại hội trường xã. Mở
đầu buổi biểu diễn là tiết mục đi trên dây của nghệ sĩ Thanh Lam. Tiếp theo là các
12
tiết mục hề, uốn dẻo. Nhưng tiết mục mà em thích thú nhất là tiết mục ảo thuật. Tất
cả mọi người đều nhìn nghệ sĩ bằng ánh mắt thán phục và tặng cho nghệ sĩ những
tràng pháo tay nồng nhiệt.” (Nguyễn Thị Lan)
Hoặc khi kể về lễ hội, phần kể về các trò chơi dân gian các em thường chỉ
liệt kê các trò chơi mà chưa chú trọng việc dùng các từ ngữ gợi tả giàu hình ảnh để
tả lại các trò chơi một cách sinh động, phần tả không khí lễ hội còn mờ nhạt, sơ sài.
Đi sâu nghiên cứu tìm hiểu những lí do dẫn đến nhược điểm nêu trên của học
sinh tôi thấy một vấn đề rất đáng quan tâm là vốn sống của các em. Như chúng ta
đã biết học sinh lớp 3 tuổi còn nhỏ, vốn sống ít, khả năng tập trung quan sát chưa
cao. Đặc biệt học sinh lớp 3 trường tôi thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế văn hoá
còn hạn chế, các em ít có điều kiện thưởng thức các chương trình biểu diễn nghệ
thuật, địa phương lại không có hoạt động lễ hội điều này có ảnh hưởng lớn đến chất
lượng bài viết của học sinh về các chủ đề nêu trên.
Nhận thức rõ điều này, để giúp học sinh học tốt hơn các bài văn ở dạng miêu
tả ngắn theo chủ điểm, tôi nghĩ rằng cần cung cấp thêm vốn sống cho học sinh.
Chẳng hạn khi học về chủ đề Nghệ thuật, để giúp các em có thể làm tốt bài văn Kể
về buổi biểu diễn nghệ thuật, tôi tổ chức cho học sinh xem băng hình về một buổi
biểu diễn xiếc. Trước khi cho học sinh xem, tôi đưa ra một số yêu cầu để học sinh
tập trung quan sát, nhận xét, ghi chép bằng một số câu hỏi trong phiếu.
Ví dụ:
- Rạp xiếc được trang trí như thế nào?
- Buổi biểu diễn có những tiết mục nào?
- Tiết mục nào em thích nhất?
- Không khí buổi biểu diễn ra sao?
- Khi xem các tiết mục, thái độ của khán giả như thế nào?

……………………………
Không khí buổi biểu diễn ra sao?
…………………………………………………
………………………………………………
……………………………
…………………………
……………………………
Thái độ của người xem như thế nào?
…………………………………………………
………………………………………………
……………………………
…………………………
……………………………
Kể kĩ về tiết mục em thích nhất
…………………………………………………
………………………………………………
Thông qua những kết quả ghi chép trong phiếu, các em đã tự tin hơn, hào
hứng hơn khi học bài văn miệng và bài viết của các em đã có những tiến bộ rõ rệt.
Các em đã chú ý hơn đến việc dùng từ ngữ gợi tả khi kể về không khí buổi biểu
14
diễn, thái độ của khán giả, những động tác khéo léo của người nghệ sĩ do đó bài
văn cũng trở nên sinh động hơn.
Như vậy, việc cung cấp vốn sống cho học sinh thông qua băng hình dạy học
là một việc làm có ý nghĩa thiết thực. Thông qua việc tác động đến học trò nhiều
mặt: được quan sát hình ảnh thực, âm thanh sống động; học sinh như được hoà
mình vào các hoạt động nghệ thuật, lễ hội…và các em còn được nâng cao hiểu biết,
tạo cho các em thói quen quan sát, nhận xét, gây hứng thú cho học sinh trong quá
trình học phân môn Tập làm văn. Đây chính là những cơ sở thuận lợi giúp cho học
sinh viết văn tốt hơn.
3. Biện pháp thứ ba. Hướng dẫn học sinh diễn đạt câu văn ngắn gọn, sinh

văn học, ca dao, dân ca, thành ngữ thậm chí trong sinh hoạt cuộc sống thường nhật
của người Việt Nam.
Ví dụ như:
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Hay như: Dữ như cọp. Nhanh như cắt…
So sánh thể hiện sự quan sát và đối chiếu giữa hai hay nhiều sự vật để tìm ra
những nét tương đồng. Nó đặc biệt hữu ích trong viết văn nhất là văn miêu tả.
Nhận thấy nếu học sinh biết sử dụng những câu văn có sử dụng biện pháp so
sánh một cách hợp lí sẽ giúp cho bài văn của các em trở nên giàu hình ảnh và sinh
động hơn. Vì vậy trong quá trình giảng dạy, tôi thường sử dụng những dạng bài tập
giúp các em luyện tập sử dụng biện pháp so sánh theo các mức độ khác nhau. Ví dụ
như
- Gạch dưới câu văn có sử dụng so sánh trong đoạn văn, đoạn thơ sau:
Trăng ơi…từ đâu đến?
Hay biển xanh diệu kì
Trăng tròn như mắt cá
16
Chẳng bao giờ chớp mi.
- Viết tiếp vào chỗ chấm để tạo thành câu có sử dụng biện pháp so sánh:
Buổi sáng, những hạt sương còn đọng lại trên lá trông như…….
- Viết lại câu văn dưới đây cho sinh động
Trong ngày khai trường, các bạn học sinh mặc những bộ trang phục đủ màu sắc.
Thông qua việc sử dụng các dạng bài tập trên xen kẽ trong các giờ tập đọc,
tiết bổ sung,…tôi nhận thấy các em có sự tiến bộ rõ rệt trong cách viết văn. Các em
đã dần viết được những câu văn ngắn gọn, diễn đạt mạch lạc hơn và lời văn thêm
sinh động có hình ảnh.
d) Hướng dẫn học sinh tập sử dụng biện pháp nhân hoá
Khi làm bài học sinh thường ít chú ý đến việc sử dụng biện pháp nhân hoá trong
bài văn của mình, chính vì vậy mà tôi thường xuyên hướng dẫn học sinh sử dụng

là những bài viết tôi đã chọn lọc kĩ (đó có thể là những bài viết tốt, cũng có thể là
bài viết có nhiều nhược điểm và mắc nhiều lỗi phổ biến). Sau khi học sinh đọc bài,
tôi thường cho học sinh trong lớp nêu nhận xét về các bài viết đó sau đó tôi đưa ra
nhận xét của bản thân mình và gợi ý giúp học sinh chữa lại lỗi trong bài của mình.
Thiết nghĩ thời gian chữa bài trong khi kiểm tra bài cũ là không nhiều, việc
chữa bài không quá kĩ nhưng đó là việc làm không thể thiếu giúp học sinh có thể
khắc phục những sai sót trong quá trình viết những bài văn tiếp theo.
b) Chữa bài trong quá trình dạy học bài mới
Thời gian dạy học bài mới là thời gian chính tôi dùng để chữa bài cho học
sinh. Việc chữa bài thể hiện ở chính một phần của nội dung dạy bài mới, đó là phần
hướng dẫn học sinh nói, kế. Khi tiến hành hướng dẫn học sinh nói tôi thường đặt ra
một số yêu cầu cho học sinh (thường được viết lên bảng) để học sinh lấy đó làm
tiêu chuẩn của bài nói đồng thời để học sinh trong lớp dễ nhận xét bài viết của bạn.
Chẳng hạn như:
1. Nội dung: đủ ý
18
2. Từ ngữ chính xác, hợp lí
3. Câu văn gọn, sáng sủa, giàu hình ảnh
Trong quá trình học sinh trình bày, tôi luôn chú ý lắng nghe và phát hiện ưu
khuyết điểm bài nói của học sinh đồng thời tôi cũng yêu cầu học sinh lấy giấy nháp
ghi lại những điều đặc biệt trong bài nói của bạn (từ, hình ảnh, câu văn, chi tiết).
Trên cơ sở đó tôi yêu cầu và luôn động viên để học sinh tham gia vào quá trình
chữa bài cho bạn. Khi các em trực tiếp tham gia vào quá trình đó tôi nghĩ rằng
không những bài của học sinh nói trước lớp được chữa nhiều mà nhiều học sinh
khác cũng rút được kinh nghiệm, đặc biệt tôi luôn chú ý để nhiều học sinh được nói
trước lớp.
5. Biện pháp thứ năm: Hình thành thói quen quan sát và ghi chép thông qua
hình thức viết nhật kí
Một bài văn tốt là một bài văn biết sử dụng ngôn ngữ để ghi lại một cách
sinh động (gợi tả- giàu hình ảnh nhạc điệu, gợi cảm- giàu cảm xúc) những quan sát

nhà trường, quê hương, lễ hội.
Như vậy, bước đầu sáng kiến được áp dụng và đã đạt được một số kết quả
tốt. Việc dạy học viết văn miêu tả ngắn theo chủ điểm cho học sinh lớp 3 đã góp
phần trong việc nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Tập làm văn tại lớp tôi
giảng dạy.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Những bài học kinh nghiệm:
20
Dạy học phân môn Tập làm văn như thế nào cho hiệu quả là một vấn đề khó
và phức tạp, cần phải từng bước trả lời và tháo gỡ. Dạy học nội dung viết văn miêu
tả ngắn theo chủ điểm cho học sinh lớp 3 không nằm ngoài quy luật đó. Việc học
sinh viết được một đoạn văn theo chủ điểm đòi hỏi sự vận dụng tổng hợp của các kĩ
năng như: quan sát- tái hiện, kĩ năng diễn đạt câu văn, kĩ năng tìm ý,… đấy là chưa
kể đến việc sáng tạo trong bài viết của các em. Vì vậy khi dạy nội dung này đòi hỏi
giáo viên không những phải có kiến thức, hiểu biết vững vàng về các chủ đề được
nói đến trong các yêu cầu của đề Tập làm văn mà còn phải có những biện pháp sư
phạm cụ thể, sử dụng lồng ghép trong các nội dung dạy học cụ thể để đạt hiệu quả
tốt nhất.
Khi tiến hành các biện pháp trên trong dạy học tôi thấy việc rèn các kĩ năng
giúp học sinh viết bài theo chủ điểm ngắn cần phải được lồng ghép vào các nội
dung dạy học khác. Ví dụ như việc làm giàu vốn từ cho học sinh cần phải được
thực hiện trong các tiết mở rộng vốn từ cho học sinh, thậm chí cung cấp cho các em
ngay cả trong khi dạy tập đọc. Qua tìm hiểu bài tập đọc các em phát hiện những từ
dùng hay và “đắt”, thấy hết được giá trị ý nghĩa của từ đó. Việc làm giàu đó không
phải chỉ là sự cung cấp từ một cách đơn thuần mà còn cần phải được đặt trong thực
hành vận dụng, trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.
Vốn sống của con người nói chung được tích luỹ theo thời gian, theo quá
trình tự học tập, tìm hiểu những vấn đề trong cuộc sống. Vốn sống của các em lớp
3 còn nhiều hạn chế đặc biệt là các em ở khu vực nông thôn và những nơi có điều
kiện kinh tế khó khăn vì vậy cung cấp vốn sống cũng là yêu cầu cần thiết. Việc sử

3. Những đề xuất, kiến nghị:
Đối với giáo viên:
- Muốn dạy tốt dạng bài văn miêu tả ngắn theo chủ điểm nói chung và phân môn
Tập làm văn lớp 3 nói riêng, giáo viên cần phải dạy tốt tất cả các phân môn: Tập
đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu,…kết hợp nhiều phương pháp dạy học
22
để giờ học hấp dẫn, không ngừng bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ sư
phạm, nâng cao hiểu biết. Đặc biệt cần luôn khuyến khích động viên học sinh phát
huy tính chủ động, sáng tạo trong học tập cho các em.
- Trong quá trình giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 3, khi rèn kĩ năng viết văn
miêu tả ngắn cho học sinh, giáo viên cần vận dụng một cách khéo léo linh hoạt và
tổng hợp các biện pháp đã nêu nhằm đạt được mục đích dạy học.
Đối với các cấp quản lí:
- Ban giám hiệu và các cấp quản lí cần quan tâm hơn nữa về cơ sở vật chất, đặc biệt
là các trang thiết bị dạy học phân môn Tập làm văn như: tranh ảnh, băng hình dạy
học… Điều đó có một vai trò hết sức to lớn giúp giáo viên hoàn thành tốt hơn công
tác giảng dạy.
- Tổ chức tốt và thường xuyên các hoạt động ngoại khoá, thăm quan dã ngoại, các
cuộc thi tìm hiểu kiến thức…nhằm làm giàu, làm phong phú hơn vốn sống, vốn
hiểu biết cho các em.
- Thường xuyên tổ chức tốt các buổi hội thảo, hội giảng chuyên đề về dạy học Tập
làm văn nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dạy và học phân môn này ở Tiểu học.
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã thực hiện trong quá trình giảng dạy
phân môn Tập làm văn lớp 3 dạng bài văn miêu tả ngắn theo chủ điểm nhằm giúp
học sinh học tốt hơn môn học này. Tôi mạnh dạn trình bày những nội dung trên với
mong muốn được trao đổi kinh nghiệm và mong nhận được những ý kiến đóng góp
quý báu từ phía các bạn đồng nghiệp, các đồng chí lãnh đạo để giúp tôi giảng dạy
tốt hơn nữa phân môn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status