MỘT SỐ GIẢI PHÁP RÈN KỸ NĂNG TÍNH VÀ THỰC HIỆN PHÉP TÍNH CHO HỌC SINH LỚP BA - Pdf 26

MỘT SỐ GIẢI PHÁP
RÈN KỸ NĂNG TÍNH VÀ THỰC HIỆN PHÉP TÍNH
CHO HỌC SINH LỚP BA
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào và phát triển những cơ sở
ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người Việt Nam . Cùng với các môn
học khác, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì:
- Các kiến thức , kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng
trong đời sống, chúng rất cần thiết cho mọi người lao động, rất cần thiết để
học tập các môn học khác ở Tiểu học và học tập tiếp môn Toán ở trung học.
- Môn Toán giúp học sinh nhận biết được các mối quan hệ về số lượng
và hình dạng không gian của thế giới thực.Nhờ đó mà học sinh có phương
pháp nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có
hiệu quả trong đời sống.
- Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp
suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, nó góp phần
phát triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng
góp vào việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao
động: cần cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền
nếp tác phong khoa học.
- Trong chương trình môn học ở bậc tiểu học, môn toán chiếm số giờ
rất lớn. Một trong những mục tiêu của môn Toán của bậc tiểu học là hình
thành các kỹ năng thực hành tính toán.Bốn phép tính cộng, trừ, nhân , chia
được sử dụng hầu hết vào các khâu trong quá trình dạy học toán.Tuy vậy,
phép nhân, phép chia là khái niệm trừu tượng. Mà muốn học tốt nhân, chia thì
1
học sinh phải có kỹ năng cộng trừ có nhớ một cách thành thạo. Vì vậy việc
nâng cao hiệu quả rèn luyện kỹ năng thực hành các phép tính cộng trừ , phép
nhân, phép chia là một vấn đề cấp bách và thường xuyên, nó sẽ giúp cho học
sinh nắm chắc một số tính chất cơ bản của các phép tính viết, thứ tự thực hiện

viên và các hoạt động khác có ảnh hưởng lớn đến việc tiếp thu kiến thức, hình
thành kỹ năng kỹ xảo cho các em. Do đó , trước thực trạng mà một số học sinh
ở lớp 3 còn tính toán chậm trong khi học môn toán , đặc biệt là khi làm tính ,
thực hiện dãy tính ( tính giá trị của biểu thức) … tôi nghĩ mình cần tìm ra
nguyên nhân , biện pháp gì để giúp các em khắc phục những sai lầm thường
gặp, nâng cao hiệu quả trong giảng dạy , tạo cho các em sự tự tin, hứng thú
trong việc chiếm lĩnh tri thức mới . Đó cũng là là vấn đề quan trọng mà chúng
ta cần có hướng khắc phục. Thực tế qua quá trình dạy học sinh lớp ba, tôi xin
nêu một số kinh nghiệm nhỏ của bản thân về : “ Một số giải pháp rèn kỹ
năng tính và thực hiện phép tính cho học sinh lớp 3 “ như sau:
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu SGK để nắm được nội dung chương trình, trên cơ sở lí
luận thực tiễn, phân tích những ưu điểm tồn tại để đưa ra những biện pháp,
giải pháp hữu ích nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy giải toán lớp 3.
III. CƠ SỞ VÀ ĐỐI TƯỢNG:
- Căn cứ vào nội dung , chương trình, phương pháp dạy học toán 3.
- Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 3.
IV.PHẠM VI THỰC HIỆN:
Tìm ra biện pháp để giúp học sinh nắm vững kiến thức và kĩ năng thực
3
hiện tính và thực hiện phép tính ở lớp 3
B. NỘI DUNG
I. QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN:
1.Những việc đã làm:
Chúng ta biết rằng : Số và các phép tính là hạt nhân của chương trình
toán Tiểu học nên việc dạy học giải toán ở bậc tiểu học nói chung và ở lớp ba
nói riêng là sự vận dụng tổng hợp ở các điểm cao tri thức và kỹ năng về toán
Tiểu học với kiến thức cuộc sống.
Các bài toán ở lớp ba mà học sinh được giải có nội dung là những vấn
đề trong cuộc sống hết sức phong phú và có cấu trúc đa dạng, từ những dạng

- Khả năng suy luận của học sinh còn hạn chế dẫn đến máy móc, bắt
chước, chỉ giải được các dạng toán có sẵn, khi gặp bài toán ở dạng biến đổi thì
không làm được.
- Kĩ năng tính toán còn thiếu chính xác dẫn đến khi giải toán hay sai kết
quả.
Từ thực trạng trên , tôi đã cố gắng tìm cách khắc phục nhằm giúp các
em có kỹ năng tính và thực hiện các phép tính hiệu quả hơn
2. Thời gian thực hiện:
Sáng kiến này được thực hiện trong suốt cả năm học. Trong các tiết lên
lớp, tôi đã từng bước khắc phục cho các em những tồn tại, đưa ra các biện
pháp hữu hiệu để giúp học sinh học tập thành công.
3. Biện pháp thực hiện:
Nghề dạy học là một nghề thật đặc biệt, đó là giáo dục con người. Sản
phẩm của giáo dục là đào tạo cho xã hội những con người có trình độ, có
5
phẩm chất đạo đức. Bởi thế đội ngũ thầy cô giáo chúng ta phải có lòng yêu
nghề, mến trẻ, đặc biệt phải là một tấm gương tự học và sáng tạo, có trách
nhiệm cao với sự nghiệp giáo dục. Không nên chạy theo bệnh thành tích mà
luôn đặt chất lượng giáo dục học sinh lên hàng đầu, không được để tình trạng
HS ngồi nhầm lớp.Trong giảng dạy phải luôn chú trọng đến những đối tượng
học sinh học yếu trong học tập để từ đó đưa ra những biện pháp kịp thời,
linh hoạt, phù hợp giúp cho các em tiến bộ theo kịp các bạn trong lớp.
Học sinh yếu môn toán là những học sinh bị hổng kiến thức. Chính vì
thế mà việc tiếp thu bài của các em thật là khó khăn. Lúc đó các em sẽ chán
học, lơ là trong học tập. Vì thế khi giáo viên giảng bài các em không hiểu, các
em sẽ ngồi nói chuyện, làm việc riêng trong lớp. Thậm chí còn quậy phá trêu
chọc các bạn xung quanh.
Để các em yếu toán hoặc học toán chậm không có tư tưởng chán học,
mà có ý thức hơn trong việc học của mình, hứng thú hơn và học tập ngày
một tiến bộ , mỗi giáo viên đứng lớp chúng ta phải tìm ra những phương pháp

đúng kết quả phép tính là được. Ví dụ: 9 + 7= thì 7 trừ 1 bằng 6 nên 9 + 7 =
16; 9 + 8 thì 8 trừ 1 bằng 7 nên 9 + 8 = 17…
Tương tự với bảng cộng 8 với một số thì ta lại bớt số đó đi 2 để nêu
nhanh kết quả. Ví dụ 8 + 7 = 15; 8 + 4 = 12 ( vì 7 trừ 2 = 5, 4 trừ 2 =2).; 7
cộng với một số thì lại bớt số đó đi 3 để nhẩm, 6 cộng với một số thì bớt số đó
đi 4… Bằng cách biết vận dụng như vậy, các em sẽ tính toán nhanh hơn thay
vì đếm tay hoặc phải gạch từng gạch trên giấy nháp để tính khi cộng có nhớ.
Đối với phép trừ thì tôi hướng dẫn các em kỹ năng nhẩm như sau:
Ví dụ: 92 – 27 =…
Ta thấy 2 bé hơn 7 nên không trừ được 7, do vậy ta mượn 1 ở hàng chục
7
là 10 để trừ. Vậy 10 – 7 bằng 3 cộng thêm 2 ở số bị trừ nữa là 5, viết 5 nhớ 1.
9 trừ 2 trừ 1 ( mượn lúc đầu) còn 6 viết 6. Vậy 92 – 27 = 65. ( HS chỉ cần
nhẩm là : 2 không trừ được 7 ta mượn 1chục để trừ, 10 – 7 = 3 cộng thêm 2
bằng 5 viết 5; 9 trừ 2 trừ 1 bằng 6 viết 6 . Vậy 92 – 27 = 65.
Khi HS nắm chắc kỹ năng trừ nhẩm như thế thì các em làm toán sẽ
nhanh hơn và hạn chế được sai sót khi tính. Bằng cách đó tôi từng bước rèn
và ôn cũng như hướng dẫn các em cộng trừ có nhớ ở lớp 3 dễ dàng hơn . Khi
đã biết cộng trừ có nhớ nhanh hơn thì các em mới học làm tính nhân chia theo
chương trình được, khắc phục dần tình trạng kéo dài giờ học toán một cách có
hệ thống như đã nêu thực trạng trên.
2. Rèn kỹ năng thực hiện phép tính nhân:
Khi thực hiện phép nhân số có hai chữ số cho số có một chữ số có nhớ,
một số học sinh thường sai lầm vì không biết khi nhân lên rồi thì phải viết chữ
số nào ở kết quả, chữ số nào phải nhớ để cộng vào lượt nhân thứ hai
Ví dụ: ( HS lấy 6 x 4 = 24 nhưng lại viết 2 nhớ 4)
Một số em lại chỉ nhớ 1 vào lần nhân thứ hai mặc dù khi nhân với chữ
số hàng đơn vị có kết quả bằng 24 hay 36 gì cũng vậy, vì cứ nghĩ nhân cũng
như cộng.
Ví dụ: ( HS lấy 6 x 4 = 24 nhưng lại viết 4 nhớ 1)

sao .
Ví dụ : Một số sai lầm của học sinh khi thực hiện chia .
84 : 4 ( thương không ghi)

Hay có em lại làm :
( không ghi quá trình thực hiện )

Hoặc .
( học sinh còn nhầm lẫn giữa nhân và
chia, chưa thuộc các bước chia.) 84 4
21
9
84 4
8
04
4
0
84 4
8 216
04
4
0
Ngoài ra còn một số trường hợp các em ước lượng thương còn chậm,
thậm chí có em không biết cách tính thương mặc dù các em thuộc được bảng
chia. Để giải quyết được số học sinh còn yếu khi làm tính, ngoài việc nắm
vững kiến thức , người giáo viên cần có năng lực sư phạm , đó là cách truyền
thụ . Để đạt được mục đích , đòi hỏi mỗi giáo viên cần chịu khó học hỏi , tích

thêm được 1 ngón tay … mấy lần thì mấy ngón tay .
6 12 18 …
1 ngón 2 ngón 3 ngón …
Trường hợp số bị chia là 20 thì học sinh có thể đếm 24 ,tức là được bốn
lần ,nhưng bớt đi một lần ,vì số bị chia chỉ là 20.
Hoặc bằng cách hướng dẫn học sinh dựa vào bảng chia để tìm ra kết
quả của phép chia có dư. Tôi kiên trì giải thích và hướng dẫn các em rất kỹ ở
bài đầu tiên : « Phép chia hết và phép chia có dư » cũng như liên tục mấy
ngày sau đó để hình thành kỹ năng nhận biết cho các em.
Tôi chỉ cho học sinh thấy : 2 : 2 = 1 ; 4 : 2 = 2 ; 6 : 2 = 3 thì 3 chia 2
cũng chỉ được 1, dư 1 ; 5 : 2 cũng chỉ được 2, dư 1 ; 3 : 3 = 1 ; 6 : 3 = 2 thì
4 : 3 cũng chỉ được 1, dư 1 ; 5 chia 3 cũng chỉ được 1, dư 2, tương tự như vậy
7 : 3 cũng chỉ được 2, dư 1, 8 : 3 cũng chỉ được 2, dư 2. Bằng cách này, dựa
vào bảng chia đã học các em chậm sẽ tìm ra kết quả của phép chia có dư
nhanh hơn, lâu dần thành kỹ năng. Cứ như thế khi dạy đến bảng chia nào tôi
lại hướng dẫn cho các em các phép chia có dư trong bảng chia đó ( Ví dụ :
6 : 6 = 1 ; 7 : 6 = 1 dư 1; 8 : 6 = 1 dư 2 ; 9 : 6 = 1 dư 3 ; 10 : 6 = 1 dư 4 ; 11 : 6
= 1 dư 5 ; 12 : 6 = 2 ; 13 : 6 = 2 dư 1 ) để các em tính toán nhanh hơn và vận
dụng vào giải toán trong quá trình học cũng như tính giá trị biểu thức.
4. Rèn kỹ năng thực hiện tính giá trị biểu thức :
11
Khi thực hiện tính giá trị của biểu thức các em còn hay sai . Do các em
nắm các quy tắc về thứ tự thực hiện các phép tính trong một biểu thức một
cách máy móc hay học vẹt ( đọc thuộc quy tắc nhưng khi thực hiện lại sai ) .
Ví dụ :
86 – 10 x 4 = 40 - 86
= 46 ( sai ) ( 1 )
24 : 3 x 2 = 24 : 6
= 4 ( sai ) ( 2 )
Học sinh hay nhầm lẫn trong quá trình thực hiện tính . Vì khi vận dụng

Ví dụ : 86 - 10 x 4 = 86 - 40
= 46
Tránh trường hợp các em ghi
86 - 10 x 4 = 40 - 86
= 46
Vì các em nói là nhân trước , trừ sau và ghi như vậy .
Chẳng hạn, khi làm bài tập 71 - 16 : 2 nếu học sinh không nhớ
quy tắc đã học thì nói chung cũng khó có thể làm sai vì ( khi các em lấy 71 trừ
16 thì được 55, mà 55 không chia hết cho 2 nên các em sẽ tính bằng cách lấy
16 chia 2 được 8 rồi mới thực hiện lấy 71 trừ 8 bằng 63. Cách tính này đúng
nhưng thực tế chưa chắc các em đã hiểu) nhưng khi tính giá trị của biểu thức
: 96 - 60: 3 thì buộc học sinh phải nhớ quy tắc mới làm đúng được :
Ví dụ :
96 - 60 : 3 = 96 - 20 96 - 60 : 3 = 36 : 3
= 76 ( đúng ) = 12 ( sai )
Hoặc :
24 : 3 x 2 = 8 x 2 24 : 3 x 2 = 24 : 6
13
= 16 ( đúng ) = 4 ( sai )
Học sinh cũng thường nhầm lẫn là cứ phải nhân trước rồi mới chia sau
khi gặp biểu thức có phép chia đứng trước như vậy . Vì thế giáo viên cần nhấn
mạnh là “ Cũng như hai phép tính cộng, trừ, hai phép tính nhân chia là bình
đẳng “ nghĩa là phép tính nào viết trước thì làm trước, có như vậy thực hiện
mới đúng kết quả .
Để các em tính đúng giá trị của biểu thức, với học sinh yếu hoặc tiếp
thu chậm, cách trình bày với các em cũng rất quan trọng. Tôi thấy ngoài cách
hướng dẫn học sinh nắm vững cách tính, giáo viên còn cần hướng dẫn cho
các em cách trình bày bài tính giá trị biểu thức sao cho thuận tiện hơn khi
tính và điều chủ yếu là học sinh dễ nhận ra mình phải thực hiện phép tính
nào trước, phép tính nào sau khi tính. Thông thường thì có hai cách trình

trước nên sẽ làm dấu gộp dưới phép chia và nhân đó rồi mới bắt đầu tính, Cụ
thể:
25 – 55 : 5 + 48 x 2 =
25 - 11 + 96 =
14 + 96 = 110
hạn chế được nhầm lẫn hơn khi trình bày theo cách 1.
25 – 55 : 5 + 48 x 2 = 25 - 11 + 96
= 14 + 96
= 110
Đối với học sinh mất căn bản không nắm được kiến thức ở lớp dưới
thì tôi luôn quan tâm đặc biệt hơn. trong bài giảng tôi chú ý đến các em nhiều
hơn vừa truyền thụ kiến thức mới tôi vừa ôn kiến thức cũ cho học sinh.trong
tiết dạy tránh tình trạng giáo viên để học sinh yếu mất căn bản ngoài lề tiết
15
học Khi giảng bài tôi giảng chậm và kĩ hơn để cho HS tiếp thu. Khi làm bài
tập , tôi đến tận nơi để giúp đỡ các em, những em yếu chưa tiếp thu kịp bài
giảng tôi phải giảng lại cho các em nắm . Khi làm bài tập tôi cho những em
này làm ít bài hơn những HS khác trong lớp.
5. Phối hợp tốt các hình thức tổ chức dạy học, giáo dục:
- Ngoài các biện pháp trên , tôi nhận thấy cần phối hợp thật tốt các
hình thức tổ chức dạy học, linh hoạt trong giảng dạy như tổ chức cho các em
học tập, thảo luận theo nhóm, tổ chức trò chơi học tập để củng cố kiến thức
cho các em.
- Cho những bạn ngoan thường xuyên chơi với những đối tượng học
sinh chậm, yếu nhằm giảm thiểu tối đa việc ham chơi của HS .
- Giáo viên cần phải trao đổi trực tiếp đến từng đối tượng học sinh bằng
lời nói ,cử chỉ , mệnh lệnh thật thuyết phục đến các em .
Ví dụ: giáo viên dùng lời nói nhỏ nhẹ, giải thích cho các em nắm được tầm
quan trong của việc học.cho các em hiểu được: “ học phải đi đôi với hành.” có
như vậy các em mới nắm được kiến thức lâu và tiếp thu các kiến thức mới tốt

kết quả, sự phấn đấu của con em họ. Hàng tháng báo cáo kết quả học tập của
các em về gia đình qua sổ tay, làm cho phụ huynh thấy rõ vai trò của gia đình
trong việc phối hợp nâng cao chất lượng học toán cho học sinh. Phải thường
xuyên theo sát HS trong quá trình giải toán với tư cách là người gợi ý, hướng
dẫn để sửa chữa, uốn nắn kịp thời những sai sót.
* Một số vấn đề tôi luôn lưu ý trong việc rèn toán cho học sinh:
a). Phải quan tâm đầu tư chu đáo cho việc dạy toán ( soạn bài, chuẩn bị
đồ dùng, nghiên cứu tài liệu, ) tự mình giải tất cả các bài toán trong SGK,
17
sách tham khảo để phát hiện, dự kiến những vấn đề học sinh hay bị nhầm
lẫn).
b). Phát huy tính tích cực của học sinh trong việc học toán:
+ Tổ chức học nhóm: Chúng ta biết rằng dạy học theo nhóm là hình
thức dạy học đặt HS vào môi trường học tập tích cực. Trong đó, HS được tổ
chức thành các nhóm một cách thích hợp. Trong nhóm, HS được khuyến
khích thảo luận và làm việc hợp tác với nhau. Thông qua hoạt động nhóm, các
em được rèn luyện và phát triển kĩ năng làm việc, kĩ năng giao tiếp, HS có
điều kiện học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tích cực trên cơ
sở làm việc và hợp tác.
Hình thức dạy học theo nhóm góp phần hình thành và phát triển các mối
quan hệ qua lại trong học sinh, đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin
tưởng lẫn nhau trong học tập. Tổ chức học tập theo nhóm còn giúp các em
nhút nhát, khả năng giao tiếp, diễn đạt kém có điều kiện được rèn luyện, tập
dượt từ đó khẳng định bản thân trong môi trường hoạt động nhóm.Học sinh
có điều kiện để bàn bạc, thảo luận tìm ra cách giải đúng đối với những bài
toán khó, tương đối phức tạp. Động viên học sinh mạnh dạn trình bày ý kiến
của mình, dần dần giúp học sinh chủ động, tự tin, không dựa vào giáo viên.
+ Hoạt động cá nhân: Để có thể kiểm tra được hoạt động của từng học
sinh trong quá trình giải toán, tôi yêu cầu học sinh lập sơ đồ phân tích trên
giấy nháp.Qua đó phát hiện, giúp đỡ những học sinh yếu kém trong giải toán.

hay các hình thức dưới dạng tổ chức trò chơi được học sinh hưởng ứng và
tham gia rất tích cực.
Thực tế với cách dạy trên học sinh có sự tiến bộ rõ,vì các em đã nắm
được kỹ năng làm tính, thể hiện cụ thể qua các bài kiểm tra , kiểm tra định kỳ
19
…So với kết quả đầu năm thì số học sinh làm tính chậm có phần giảm đi . Tuy
nhiên còn 1 hoặc 2 trường hợp đặc biệt đòi hỏi giáo viên cần kiên nhẫn, thật
kiên nhẫn thì mới khắc phục được .
Kết quả đạt được:
Năm học 2009 -2010; 2010 -2011: ; 2011 – 2012: 100% học sinh lớp tôi
chủ nhiệm đều đạt điểm trung bình và khá giỏi môn toán.
Kết quả kiểm tra môn toán năm học 2012 -2013 như sau:
Giữa kỳ I: Điểm : 9 -10 24 em / 32 em
Điểm : 7 - 8 6 em / 32em
Điểm : 5 - 6 2 em / 32 em
Đa số các em đều thích thú, sôi nổi khi học toán, viết chữ rõ ràng, biết
đặt tính rồi tính, trình bày bài toán sạch, đẹp. Trao đổi kinh nghiệm với chị em
đồng nghiệp và áp dụng vào giảng dạy phụ đạo cho học sinh yếu cũng như
củng cố kỹ năng tính cho học sinh, chúng tôi đều nhận thấy rằng các em tiến
bộ hơn, tính toán cộng trừ nhân chia có nhớ dễ dàng hơn dẫn đến tiếp thu và
thực hiện tính toán nhanh hơn, nâng cao được chất lượng học tập môn toán .
Cuối năm học 2011 – 2012, cả khối 3 chỉ còn 2 học sinh yếu môn Toán, tiến
bộ hơn so với những năm học trước rất nhiều. ( Năm học 2010 – 2011 cả tổ
còn 6 học sinh yếu phải thi lại môn toán). Từ thực tế trên, tôi rút ra bài học
kinh nghiệm như sau:
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
Muốn nâng cao chất lượng trong việc rèn kỹ năng tính và thực hiện
phép tính, cần:
* Đối với học sinh:
- Tích cực học thuộc các bảng cộng, trừ, nhân, chia đã học.

giảng dạy của GV thôi là chưa đủ. Mỗi một môn học, mỗi một bài học, mỗi
một tiết học đều có một sắc thái, một đặc điểm riêng, đòi hỏi một phương
pháp riêng phù hợp với nó. Vì vậy, ngoài những phương pháp chung đã được
sách in thành chương, thành mục, mỗi GV chúng ta cần xây dựng cho mình
một phương pháp dạy học riêng. Theo tôi, phương pháp dạy học hữu hiệu nhất
là một phương pháp có nội dung không chỉ thay đổi theo từng tiết học mà theo
từng nhu cầu tiếp thu của HS. Mỗi HS có một khả năng nhận thức khác nhau,
vì vậy, chúng ta cần phải dựa vào tình hình thực tế để điều chỉnh cách dạy làm
sao cho có hiệu quả nhất. Chỉ có như vậy, công sức lao động của chúng ta bỏ
ra mới không bị uổng phí, kết quả mới thể hiện đúng giá trị của nó.
Rèn kỹ năng tính và thực hiện phép tính cho học sinh lớp 3 là vấn đề
cần thiết mà chúng ta cần quan tâm đầu tiên khi đặt nền móng nâng cao chất
lượng dạy toán cho học sinh lớp 3 bởi có tính toán cộng, trừ, nhân, chia chính
xác thì các em mới có thể thực hiện tính giá trị biểu thức đúng, mới vận dụng
vào để giải các bài toán hợp trong chương trình lớp 3 có hiệu quả. Đặc điểm
tâm lý ở lứa tuổi của các em là dễ nhớ mau quên. Do vậy cần tìm cách rèn cho
các em nắm được thuật tính trong khi tính toán cộng, trừ, nhân, chia có nhớ
trong quá trình học tập như trên thay vì chỉ yêu cầu các em học thuộc các bảng
cộng, bảng trừ, bảng nhân, bảng chia rồi vận dụng vào làm bài thì sẽ giảm
được áp lực cho các em trong quá trình học toán. Rèn được kỹ năng tính và
thực hiện phép tính cho các em chính là ta đã trao cho các em chìa khóa để mở
cửa khám phá kho tàng tri thức toán học. Kết quả đạt được trong quá trình
giảng dạy cho ta thấy tính khả thi của phương pháp khi thực hiện. Giải pháp
này theo tôi có thể áp dụng không những chỉ đối với học sinh lớp 3 mà nếu ta
22
vận dụng để rèn cho các em ngay từ khi mới học toán cộng, trừ có nhớ ở lớp 2
thì sẽ giúp các em học toán đỡ vất vả hơn. .
Tóm lại: Muốn dạy tốt môn Toán, giúp học sinh hiểu, làm tốt các bài
tập, trước hết giáo viên phải hiểu và nắm chắc các kiến thức và kỹ năng dạy
các biện pháp tính đồng thời phải biết hướng khai thác để giúp trẻ phát triển tư

Pleiku, tháng 12 năm 2012
24
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
+ Vũ Quốc Chung
- Đỗ Trung Hiệu
- Đỗ Đình Hoan
- Vũ Dương Thụy- Phương pháp dạy học môn toán ở tiểu học. NXB:
Đại học Sư phạm, 2005
+Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho GV tiểu học chu kì III(2003-
2007) hai tập, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004.
+ Toán 3 NXB Giáo dục, Hà Nội, 2004.
+ Tài liệu tập huấn dạy và học tích cực của Bộ Giáo dục và đào tạo
2001
+ Hội thảo về đổi mới chương trình và Sách giáo khoa tiểu học 2000
của Bộ Giáo dục và Đào tạo .
+ Ôn luyện Kiểm Tra / Tác giả Nguyễn Đức Tấn – Trần Thị Kim Cương
– Đỗ Trung Kiên - Nhà xuất bản tổng hợp Đồng Nai.
+ Sách Bài Tập Trắc Nghiệm / Tác giả Nguyễn Đức Tấn - Nguyễn Đức
Hòa – Tạ Toàn - Nhà xuất bản đại học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh.
+ Sách giúp em giỏi toán / Tác giả TS. Trần Ngọc Lan - Nhà xuất bản
Giáo Dục.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status