1. Tên đề tài: RÈN LUYỆN NHỮNG KỸ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN CHO
HỌC SINH LỚP 9 Ở TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ TẬP
2. Đặt vấn đề:
2. 1 Mục đích nghiên cứu:
Phân môn Làm văn chiếm một vị trí quan trọng trong môn Ngữ văn bậc
Trung học trong đó tiết thực hành được bố trí khá nhiều. Điều đó cho thấy Bộ
Giáo dục và Đào tạo rất chú trọng đến vấn đề rèn luyện các kỹ năng cơ bản cho
học sinh. Chính vì coi trọng vấn đề thực hành nên Chương trình Ngữ văn nhấn
mạnh: “Trọng tâm của viêc rèn luyện kỹ năng Ngữ văn cho học sinh là làm cho
học sinh có kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt khá thành thạo theo các kiểu
văn bản và có kĩ năng sơ giản về phân tích tác phẩm văn học, bước đầu có năng
lực cảm nhận và bình giá văn học”. Chương trình Tập làm văn đặt trọng tâm ở
khâu thực hành: xây dựng bài qua thực hành, thực hành nhận biết và thực hành
làm văn bản. Ngoài việc luyện kĩ năng nghe, đọc, nói, chương trình còn chú
trọng đến kĩ năng viết. Xét về tần suất, dạng bài tập viết đoạn văn xuất hiện khá
nhiều. Tuy nhiên đối với những em học trung bình và yếu với học sinh thường
ngại viết tập làm văn. Kĩ năng viết của nhiều em chưa được thành thạo, nhuần
nhuyễn, khả năng diễn đạt về đoạn văn còn mắc nhiều lỗi về từ ngữ, ngữ pháp,
liên kết câu, liên kết đoạn. Cho nên niềm đam mê viết các bài tập làm văn của
nhiều em chưa thật sự lớn. Chính vì những lẽ trên tôi mạnh dạn nghiên cứu vấn
đề rèn luyện những kỹ năng viết đoạn văn cho học sinh lớp 9 đưa vào bài viết
này, coi đây là một vài kinh nghiệm nhỏ trong quá trình dạy học.
2. 2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu:
2.2.1Thuận lợi:
Được sự quan tâm của lãnh đạo và bộ phận chuyên môn Phòng GD& ĐT
Nam Trà My trong việc tổ chức các lớp tập huấn về dạy học bộ môn Ngữ văn.
Ban giám hiệu cũng như tổ chuyên môn thường xuyên quan tâm tạo điều kiện
1
cho tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài này. Bản thân tôi được phân công giảng
dạy bộ môn Ngữ văn ở lớp 9 trong 2 năm liền. Một số học sinh có ý thức trong
việc học phân môn tập làm văn. Đa số các em học sinh đều được nằm trong danh
em còn kém. Điều này làm học sinh gặp khó khăn và một số em học sinh yếu
cảm thấy chán nản khi học môn học này.
Đối với bộ môn Ngữ văn nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng đòi
hỏi học sinh phải đọc nhiều, viết nhiều trong khi đó vốn ngôn ngữ tiếng Việt của
các em rất hạn chế, một số em không dành thời gian cho việc học nên chất lượng
ở phân môn tập làm văn là chưa cao.
Số liệu thống kê chất lượng bài làm văn của học sinh khi chưa áp dụng sáng
kiến kinh nghiệm.
Tổng số
HS
Giỏi Khá TB Yếu Kém
29 0 1 8 13 7
2.3 Lí do chọn đề tài:
Trong hệ thống ngôn ngữ, đoạn văn là một đơn vị có ý nghĩa rất quan trọng.
Chính vì thế để góp phần nâng cao chất lượng của việc sử dụng ngôn ngữ trong
học tập và giao tiếp hàng ngày của học sinh thì mỗi giáo viên trong quá trình
giảng dạy cần có ý thức rèn luyện kỹ năng xây dựng đoạn, liên kết đoạn.
Dạy học làm văn thực chất chính là cung cấp cho học sinh những kỹ năng để
giao tiếp, lĩnh hội và tạo lập văn bản. Nên trong quá trình giảng dạy giáo viên
ngoài việc rèn luyện cho học sinh các kỹ năng như: Phân tích đề, tìm ý và lập
dàn ý… thì việc rèn kỹ năng xây dựng đoạn văn cũng cần đặc biệt quan tâm.
Mục tiêu dạy học Làm văn nói chung là rèn cho học sinh có được bản lĩnh
sống đúng đắn, dám thể hiện quan điểm chính kiến của mình, rèn cho học sinh
3
phát huy được tiềm năng và cá tính sáng tạo của bản thân trước những hiện
tượng xảy ra trong văn học và trong đời sống. Tuy nhiên để học sinh làm được
điều đó học sinh cần phải có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng viết đoạn văn. Thực tế
dạy học cho thấy việc xây dựng đoạn văn là một việc hết sức quan trọng trong
dạy học Ngữ văn nhưng trong quá trình giảng dạy nhiều giáo viên chưa chú
trọng đến việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng xây dựng đoạn văn. Chính thế đã
thường có câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặc
các từ ngữ được lặp lại nhiều lần nhằm duy trì đối tượng được biểu đạt. Câu chủ
đề mang một nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn thường đủ hai thành phần chính
và đứng ở đầu hoặc cuối đoạn văn. Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển
khai và làm sáng tỏ chủ đề của đoạn bằng các phép diễn dịch, quy nạp, song
hành,…
Chính vì vậy hướng dẫn cho học sinh nói viết đúng đoạn văn là hết sức cần
thiết. Nhiệm vụ lớn lao đó phụ thuộc rất nhiều vào giáo viên dạy môn Ngữ văn
nói chung và phân môn tập làm văn nói riêng. Do vậy người giáo viên phải có
cách thức tổ chức tiến hành tiết dạy tập làm văn như thế nào để đem lại hiệu quả
thiết thực nhất giúp học sinh thực hành tốt bài tập làm văn của mình.
4. Cơ sở thực tiễn:
Trong chương trình Ngữ văn ở các cấp học phổ thông nói chung và THCS nói
riêng không chỉ giúp học sinh rèn luyện kĩ năng nghe, đọc, nói mà còn chú trọng
đến kĩ năng viết nói chung. Kĩ năng viết đoạn văn là kĩ năng hết sức quan trọng
trong kĩ năng viết . Chương trình Ngữ văn THCS đã thể hiện rõ mục đích trong
nội dung bộ sách giáo khoa THCS như sau:
Chương trình lớp 6: học sinh được học tiết 20 (Lời văn đoạn văn tự sự), tiết 139
(Ngữ văn địa phương : Đoạn văn miêu tả)
5
Chương trình lớp 7: Học sinh được học Tiết 4( Liên kết trong văn bản), tiết 100
(Luyện tập viết đoạn văn chứng minh)
Chương trình lớp 8 : Học sinh học tiết 10( xây dựng đoạn văn trong văn bản)
,tiết 14 (Liên kết các đoạn văn trong văn bản), tiết 28 (Luyện viết đoạn văn tự sự
kết hợp với yếu tố miêu tả và biểu cảm), tiết 100 (Viết đoạn văn trình bày luận
điểm).
Chương trình lớp 9: Học sinh được học tiết 60 ( Luyện tập viết đoạn văn tự sự
có sử dụng yếu tố nghị luận), tiết 109, 110 ( Luyện tập liên kết câu và liên kết
đoạn văn).
Thực tế tại trường PTDTBT THCS Trà Tập là trong những năm học vừa qua
Việt Nam)
+ Con trâu trong việc làm ruộng.
+ Con trâu trong một số lễ hội.
+ Con trâu với tuổi thơ ở nông thôn.
- Đề 4: Viết đoạn văn nghị luận có nội dung liên quan đến một trong ba ý kiến
dưới đây. Trích dẫn ý kiến đó theo hai cách: dẫn trực tiếp và dẫn gián tiếp .
+ Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, vì các vị ấy là
tiêu biểu của một dân tộc anh hùng.
+ Giản dị trong đời sống trong quan hệ với mọi người, trong tác phong Hồ Chủ
Tịch cũng rất giản dị trong lời nói và bài viết vì muốn cho quần chúng nhân dân
hiểu được, nhớ được, làm được.
+ Người Việt Nam ngày nay có lí do đầy đủ và vững chắc để tự hào với tiếng
nói của mình.
- Đề 5: Viết đoạn văn ngắn trình bày những điều, em nhận thức được về tình
trạng đất nước ta vào thời vua Lê - Chúa Trịnh cuối thế kỉ XVIII.
7
- Đề 6: Dựa theo tác phẩm, hãy viết một đoạn văn ngắn miêu tả lại chiến công
thần tốc đại phá quân Thanh của Quang Trung từ tối 30 tết đến ngày mồng 5
tháng giêng năm Kỉ Dậu (1789).
- Đề 7: Viết đoạn văn phân tích, so sánh cảnh mùa xuân trong câu thơ cổ Trung
Quốc: “Phương thảo liên thiên bích – Lê chi sổ điểm hoa” với cảnh mùa xuân
trong câu thơ : “Cỏ non xanh tận chân trời- Cành lê trắng điểm một vài bông
hoa” để thấy được sự tiếp thu và sáng tạo của Nguyễn Du.
- Đề 8: Dựa vào đoạn trích Cảnh ngày xuân, hãy viết một đoạn văn kể về việc
chị em Thúy Kiều đi chơi trong buổi chiều tiết Thanh minh. Trong khi kể, chú ý
vận dụng các yếu tố miêu tả để tả lại cảnh ngày xuân.
- Đề 9: Viết đoạn văn phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong támmcâu thơ
cuối đọan trích Kiều ở lầu Ngưng Bích
- Đề 10 : Hãy đóng vai nàng Kiều viết đoạn văn kể lại việc báo ân báo oán, trong
đó bộc lộ trực tiếp tâm trạng của Kiều lúc gặp lại Hoạn Thư.
tác phẩm, tóm tắt tác phẩm (Nếu là tác phẩm tự sự), tìm hiểu nhan đề tác
phẩm… từ đó bước đầu xác định chủ đề tác phẩm.
- Đọc và tìm hiểu chi tiết: Đọc phân tích từng phần như phân tích đoạn văn,
đoạn thơ, phân tích nhân vật, phân tích hình tượng, hình ảnh chi tiết, hiệu quả
nghệ thuật của biện pháp tu từ… từ đó đọc ra tư tưởng, thái độ tình cảm của tác
giả trước vấn đề xã hội, trước hiện thực cuộc sống được gửi gắm trong tác phẩm.
Trên cơ sở kiến thức về đọc hiểu tác phẩm, để kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra
đánh giá kỹ năng nói viết khi vận dụng kiến thức đọc hiểu cụ thể của học sinh.
5.2.2 Khi rèn cách viết đoạn văn viết đoạn văn về nội dung Tiếng Việt, tập
làm văn, giáo viên phải hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh kiến thức theo từng
bước .
9
Như tìm hiểu bản chất kiến thức thông qua ví dụ cụ thể (Ví dụ tìm hiểu ở
phần I hoặc II ở các bài Tiếng Việt, Tập làm văn). Sau đó giáo viên tiến đến hình
thành khái niệm kiến thức cho học sinh. Tiếp theo cho học sinh trải qua các bài
tập đơn giản mang tính nhận biết, hiểu một cách chắc chắn. Trên cơ sở kiến thức
đó giáo viên mới đi vào kiểm tra đánh giá học sinh kỹ năng vận dụng kiến thức ở
dạng bài tập rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn.
5.2.3 Đoạn văn phải đảm bảo nội dung và hình thức.
Học sinh hiểu bài, nắm được kiến thức vẫn chưa chắc viết tốt được đoạn văn
nếu không được trang bị về hình thức của đoạn văn. Vậy nên ngay từ bài luyện
viết đoạn văn ở tiết đầu tiên tôi kết hợp cho học sinh ôn lại những kiến thức liên
quan về đoạn văn mà các em đã được học ở lớp dưới như câu chủ đề, đoạn văn
tự sự, đoạn văn chứng minh, đoạn văn thuyết minh, hay là viết đoạn văn trình
bày luận điểm, nhằm ôn lại kiến thức về đoạn văn, thông qua đó tôi cho học
sinh nắm chắc lại kiến thức cơ bản khi tạo lập đoạn văn :
+ Về nội dung: đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nào đó logic ngữ
nghĩa, có thể nắm bắt được một cách tương đối dễ dàng.
+ Về hình thức: đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnh đó thể hiện ở
điểm sau : Một đoạn văn được bắt đầu từ chữ cái viết hoa lùi đầu dòng đến chỗ
tượng học sinh của một trường có số học sinh dân tộc ít người chiếm tỉ lệ 100
như nơi tôi đang trực tiếp giảng dạy, thì tôi không thể giao ngay bài tập cho học
sinh được mà luôn phải có bước hướng dẫn giúp học sinh.
Ví dụ khi hướng dẫn học sinh làm đề bài 1 ở trên (Viết đoạn mở bài thuyết
minh một trong các đồ dùng: Cái quạt, cái kéo, chiếc nón). Tôi xây dựng hệ
thống câu hỏi tìm ý cho đoạn văn. Như chúng ta đã biết, mỗi đoạn văn trong văn
bản diễn đạt một ý, các ý có quan hệ chặt chẽ với nhau trên cơ sở chung là chủ
11
đề của văn bản . Mỗi đoạn văn trong văn bản có một vai trò chức năng riêng và
được sắp xếp theo một trình tự nhất định : Đoạn mở đầu văn bản, các đoạn thân
bài của văn bản, đoạn kết thúc văn bản. Khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối
của nó.
- Cách viết đoạn mở bài: Đoạn mở bài trong phần làm văn bao giờ là giới
thiệu chung, khái quát nhất về đối tượng được nói đến, dẫn dắt được đối tượng
nêu ở đề bài, đoạn văn thường ngắn gọn, sinh động, súc tích. Tuy không đóng
vai trò quyết định đến sự thành công của bài văn nhưng nó sẽ là cửa ngõ quan
trọng để định hướng và viết tốt các đoạn văn tiếp theo ở phần than bài cũng như
kết bài. Dựa trên cơ sở lí luận đó khi hướng dẫn học sinh làm đoạn mở bài, tôi
đặt ra những câu hỏi tạo cho học sinh vừa xác định nhiệm vụ riêng của đoạn văn
trong bài văn vừa thấy được sự quan hệ chặt chẽ của nó với các đoạn khác trong
toàn bài.
? Em hãy cho biết vai trò của đoạn văn mở bài ?
? Mỗi đồ vật bao giờ cũng có nhiều đặc điểm, công dụng cần thuyết minh,
theo em trong đoạn mở bài ta có nên thuyết minh cụ thể một trong những đặc
điểm đó không ?
? Em sẽ làm như thế nào?
Sau khi trả lời những câu hỏi gợi ý trên học sinh có dàn ý của đoạn văn như sau:
+ Dàn ý của đoạn mở bài ( Đề 1)
Giới thiệu chung về đối tượng
Chọn và giới thiệu khái quát giá trị tinh thần, giá trị vật chất của đồ vật trong đời
tạo thành. Một điểm nữa là đoạn văn trong phần thân bài nó thường không đơn
nhất một phương thức biểu đạt nào mà là sự kết hợp nhiều phương thức biểu đạt
13
với nhau.Vì vậy việc đặt câu hỏi để học sinh tìm ý cho học sinh ở phần này
thường yêu cầu cao hơn, phức tạp hơn.
Ví dụ khi hướng dẫn học sinh làm đề 3 ở trên, tôi chọn tình huống một chẳng
hạn (Con trâu ở làng quê Việt Nam … ) Cũng hình thức đặt câu hỏi tìm ý để xây
dựng ý cho đoạn văn. Trước hết tôi hỏi học sinh:
? Ba tình huống trên cùng chung một đối tượng ?
? Tại sao có thể nói hình ảnh con trâu gắn liền với làng quê và nông dân Việt
Nam? (Tạo nên sự hứng thú về đối tượng cho học sinh từ đó học sinh xác định
được vị trí vai trò của con trâu trong đời sống người dân Việt Nam, những đặc
điểm hình ảnh của con trâu nó sẽ ùa về trong suy nghĩ các em)
? Hình ảnh con trâu được xuất hiện trong những bài ca dao nào?
? Em hãy liệt kê thật nhanh những biểu hiện gắn bó của con trâu ở làng quê
Việt Nam cụ thể như là ở trên đồng ruộng? (Trâu gắn với công việc cày, bừa,
kéo…)
? Những biểu hiện của trâu bạn vừa liệt kê theo các em đủ chưa? Nó được
xem là gì của đoạn văn ? (đủ- đó là ý chính của đoạn văn)
? Các ý chính đó muốn cụ thể rõ ràng cần phải có yếu tố nào? (Miêu tả)
? Em ý định dùng yếu tố miêu tả vào đoạn văn như thế nào? (Khi cày trâu
những đường cày như thế nào? Khi kéo trâu cần cù kéo những xe lúa chín vàng
ra sao?
? Những lúc mùa vãn trâu thong thả gặm cỏ giữa không khí cách đồng quê ra
sao?)
Trên cơ sở các câu hỏi đó học sinh sẽ vừa có ý cho đoạn văn vừa biết dùng yếu
tố miêu tả đúng lúc giúp đoạn văn thuyết minh sinh động cụ thể hơn về đối
tượng. Tương tự cách xây dựng tình huống thứ nhất, tôi yêu cầu học sinh thảo
luận nhóm hai bàn một thành 4 nhóm, cứ 2 nhóm một tình huống, xây dựng ý
cho tình huống 3 và 4 các nhóm thống nhất ý chung, sau đó tiếp tục độc lập viết
các yêu cầu về phương thức biểu đạt sau;
Đoạn văn đúng , đủ, rõ ràng kiến thức cần vận dụng.
Đoạn văn có đề tài gần gũi với học sinh (Nếu không bắt buộc)
Cách viết đơn giản, chưa cần nhiều đến nghệ thuật, điêu luyện.
Sau khi cho học sinh tham khảo giáo viên lưu ý cho học sinh, đây chưa phải
là đoạn văn hay nhất càng chưa phải đoạn văn mẫu mà chỉ là đoạn văn đúng, đơn
giản, cần từ đoạn văn đơn giản này ta cố gắng có những đoạn văn hay hơn nữa.
Từ câu(a) có thể tạo ra:
Cách 1:
Trong “Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng”
Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ : “Chúng ta phải…”
Cách 2 :
Trong “Báo cáo Chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng”,
Chủ tịch Hồ Chí Minh Khẳng định rằng chúng ta phải…Giáo viên đặt câu hỏi
vừa cho học sinh phát hiện kiến thức vừa củng cố bài qua đoạn văn mẫu.
? Trong hai đoạn trên đoạn nào có cách dẫn trực tiếp, đoạn nào có cách dẫn
gián tiếp ?
? Dựa vào đâu em phân biệt được ?
Tiếp tục thu bài để sửa lỗi cho học sinh, tìm và khuyến khích những em có kĩ
năng viết tốt. Cũng như đề số 4, đề số 19 ở trên thuộc đề yêu cầu vận dụng kiến
thức Tiếng Việt nên tôi cũng tiến hành gần như đề 4. Dựa trên khái niêm của ba
đơn vị kiến thức Đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm, học sinh so sánh phận
biệt được mới sử dụng đầy đủ, chính xác trong đoạn văn của mình. Vậy trên
bảng phụ của tôi thể hiện rõ điểm giống, khác nhau của các hình thức, tác dụng
của các lời thoại. Sơ đồ như sau: Những hình thức quan trọng để thể hiện nhân
vật trong văn bản tự sự đối thoại, độc thoại, độc thoại nội tâm. Ví dụ nội dung
16
hướng tới người tiếp chuyện, không hướng tới người tiếp chuyện. Hình thức có
dấu gạch không có tác dụng đầu dòng. đầu dòng, phát ra thành lời. dấu gạch đầu
dòng, không phát ra thành lời. Bằng cách dặn dò học sinh chuẩn bị bài ở nhà từ
đó không phải học sinh nào cũng có cảm nhận như nhau. Đòi hỏi giáo viên
không những hướng dẫn cụ thể mà phải nhìn nhận, đánh giá bài làm của học sinh
một cách khách quan, không thể áp đăt, cũng không thể để cho học sinh tùy tiện
cảm nhận, lại không quên phát huy năng khiếu cá nhân của các em, tránh trường
hợp các em viết đoạn phân tích, cảm nhận một khổ thơ, một đoạn truyện lại viết
cả tác phẩm. Hoặc chỉ gạch đầu dòng, hoặc chỉ đơn phương nội dung đoạn thơ,
đoạn truyện đó với tác phẩm chứa nó. Quan sát các đề văn hoàn thành ở nhà trên,
ta thấy chủ yếu thuộc về văn bản. Đây cũng chính là một kiến thức quan trọng
thường được gặp lại trong bài kiểm tra một tiết và bài kiểm tra tổng hợp cuối học
kì. Tất cả hai yếu tố lớn trên tạo nên cái khó trong việc tiến hành rèn kĩ năng viết
đoạn cho học sinh.
- Cách viết đoạn văn ở phần kết bài:
Khi viết đoạn văn ở phần kết bài cần phải đảm bảo được hai yêu cầu cơ bản
sau:
+ Về nội dung: Phần kết bài phải có sự liên quan trực tiếp đến vấn đề đã trình
bày trong toàn bộ văn bản. Nên có những nhận định, đánh giá vấn đề.
+ Về hình thức: Cần sử dụng các phương tiên liên kết để gắn kết các phần
trước của văn bản đồng thời đánh dấu việc kết thúc quá trình trình bày vấn đề.
Việc thực hiện hình thức đặt câu hỏi để học sinh tìm ý trong phần kết bài
cũng là một nội dung hết sức quan trọng. Thường thì việc kết thúc phần kết bài
bao giờ cũng tương xứng với phần mở bài cả về độ dài cũng như là một khẳng
định và mở rộng về đối tượng đã nêu ở phần mở bài. Phần kết bài bao giờ cũng
18
thể hiện cảm nhận chung của người viết về đối tượng đã được triển khai ở các
phần trước đó.Vì vậy ngoài việc lí luận theo cái chung thì phần kết bài còn đòi
hỏi cái cảm nhận riêng của người viết. Do vậy giáo viên phải biết lựa chọn
những câu hỏi sao cho phù hợp nhất, mang đặc trưng riêng với nội dung phần
này.
Ví dụ như đề 20: Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về nhân vật anh thanh niên
trong phần viết đoạn kết bài, giáo viên đặt những câu hỏi sau:
đó ?
? Ngoài văn bản này, em thấy nội dung của văn bản còn được phản ánh thông
qua các phương tiện thông tin đại chúng nào ?
? Những lập luận, chứng cứ trong văn bản, cùng những hình ảnh qua thông
tin đại chúng giúp cho em hình dung được cảnh tượng thế giới như thế nào khi
có chiến tranh ?
? Em muốn nói gì về vấn đề đó ? ( em có thể nói về tình cảm căm ghét những
kẻ hiếu chiến…, có thể nói về phong trào đấu tranh cho hòa bình hiện nay trên
thế giới, hoặc về hậu quả chiến tranh ở Việt Nam, về sự đóng góp nhất định của
em về phong trào bảo vệ hòa bình )
+ Bước ba : Tôi đánh các câu hỏi vào phiếu học tập, phát cho học sinh, yêu
cầu học sinh bấm ngay phiếu học tập đó vào vở của mình, về nhà dựa trên các
câu hỏi gợi ý của thầy, trả lời câu hỏi diễn đạt thành đoạn văn.
+ Bước bốn : Nếu giáo viên giao bài tập mà không kiểm tra là coi như không
có tác dụng gì. Biết vậy nên bản thân tôi bỏ ra thời gian soạn câu hỏi, làm phiếu
học tập cho học sinh đều đặn, chu đáo bao nhiêu thì khâu kiểm tra bài làm của
học sinh kĩ càng bấy nhiêu. Việc kiểm tra bài làm ở nhà của học sinh cũng được
20
tôi và học sinh thỏa thuận ngay từ đầu năm, đó là tôi sẽ thu bất kì bài của học
sinh nào trong giờ dạy văn bản tiếp theo để về nhà chấm, lấy điểm vào cột điểm
15 phút hoặc khi kiểm tra bài cũ, học sinh phải trình vở làm bài tập đó. Khi trình
vở phải còn có phiếu học tập bấm vào trang vở. Trên cơ sở đó tôi xem học sinh
đã sử dụng phần gợi ý đến đâu, sáng tạo thêm được ý nào, diễn đạt có linh hoạt
không hay bị gò bó máy móc. Nhận xét điểm ưu và hạn chế cụ thể cho từng em,
khích lệ ý sáng tạo, khả năng diễn đạt của những em cố gắng. Các bước hứớng
dẫn học sinh làm bài ở nhà mà tôi trình bày ở đề 2 trên, cũng chính là những
bước tiến trình cho các đề khác. Nhưng vì nội dung kiến thức của đề này không
giống với đề khác nên khi soạn câu hỏi tôi cũng dựa vào chủ đề, thể loại văn bản
để đặt câu hỏi gợi ý mang tính tích hợp khác nhau. Nếu đề 2 trên gắn với một
văn bảm nghị luận xã hội thì tôi gợi ý như trên. Còn khi dạy văn bản thơ trữ tình
gằm mặt xuống mà đi.)
Khi ông lão nhìn lũ con, sự tủi thân của ông được thể hiện khác các đoạn trên
như thế nào? ( Được thể hiện qua đoạn độc thoại : Chúng nó… tuổi… Và tiếng
rít lên sau mấy câu độc thoại. Tiếp sau đó là một cuộc độc thoại nội tâm rất dài
về cái tin mà ông vẫn cho là ngờ vực, thể hiện bút pháp miêu tả nội tâm tinh tế
của tác giả.)
? Khi kể về cuộc trò chuyện với bà Hai, tác giả sử dụng mây câu đối thoại ?
Theo em đối thoại nhiều hay ít ?
? Nó có đủ để người đọc hiểu nỗi lo của cả nhà về cái tin làng mình theo giặc
không ?
( Chỉ vài câu đối thoại và sau đó là đoạn tả không khí của gian nhà, ta thấy được
nỗi lo âu của cả nhà về cái làng của mình như lắng sâu và đè nặng lên toàn bộ
gia đình ông Hai .)
22
5. 3.3 Rèn kỹ năng trong giờ trả bài:
Trong phân phối chương trình Làm văn ở THCS nói chung và lớp 9 nói riêng,
giờ trả bài Làm văn tại lớp được phân bố sau mỗi bài viết. Mục đích giúp học
sinh thấy được những mặt ưu điểm và hạn chế của bài viết, hướng khắc phục,
sửa chữa để hoàn thiện ở những bài viết sau. Quy trình được thực hiện thông qua
những bước sau :
+ Bước 1 : Nêu đoạn văn chứa lỗi
+ Bước 2 : Yêu cầu học sinh phát hiện và phân tích lỗi
+ Bước 3: Yêu cầu học sinh tìm cách sửa lỗi
+ Bước 4 : Giáo viên giúp học sinh lựa chọn cách sửa lỗi hợp lý nhất
Các tiết trả bài trên lớp tuy không phải là tiết truyền thụ những kiến thức mới
mẽ cho học sinh nhưng nó lại có tác dụng to lớn trong việc định hướng cho học
sinh viết đúng viết hay về đoạn văn. Qua quá trình chấm điểm của học sinh, tôi
đã chỉ ra chỗ được và chưa được của từng em cụ thể trong phần lời phê của giáo
viên. Trong giờ trả bài trên lớp, tôi nhận xét những ưu và khuyết điểm chung của
các bài viết để học sinh học tập, phát huy và rút kinh nghiệm. Tôi chọn ra những
đảm bảo đúng yêu cầu sẽ là cơ sở vững chắc để hoàn thiện một văn bản. Tuy
nhiên học sinh đã biết cách viết đoạn văn thì giáo viên cần phải hướng đến cho
học sinh biết cách sử dụng, xâu chuỗi và liên kết các đoạn văn lại với nhau để
tạo một chỉnh thể văn bản thống nhất và hoàn chỉnh. Có thể nói văn bản là hệ
thống kết cấu các đoạn văn lại với nhau. Mỗi đoạn văn là một trong những yếu tố
để cấu thành văn bản. Nó như những mắc xích quan trọng không thể tách rời. Để
thực hiện vấn đề này tôi hướng dẫn học sinh thực hiện trình tự các bước sau :
- Bước 1: Học sinh phải tự xây dựng được một đoạn văn hoàn chỉnh.
- Bước 2: Học sinh phải biết lựa chọn những đoạn văn phù hợp cho từng phần.
24
- Bước 3: Xây dựng được một văn bản với hệ thống những đoạn văn cùng
thống nhất về một chủ đề.
- Bước 4: Sắp xếp chúng lại với nhau theo một trình tự hợp lí.
- Bước 5: Liên kết các đoạn văn lại với nhau bằng các phép liên kết.
Trên đây là một số kinh nghiệm mà tôi muốn trình bày rất mong được sự ủng
hộ, góp ý của đồng nghiệp và ban giám khảo.
6. Kết quả nghiên cứu:
Để đánh giá kết quả đạt được, tôi dựa vào bài kiểm tra chất lượng đầu năm và
sau 3 tháng qua bài viết tập làm văn số 3 trong học kì I trong năm học 2013-
2014.
Kết quả khi chưa áp dụng:
Tổng số
HS
Giỏi Khá TB Yếu Kém
29 SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%)
0 0 1 3,45 8 27,59 13 44,83 7 24,14
Kết quả khi áp dụng:
Tổng số
HS
Giỏi Khá TB Yếu Kém