RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHO HSG LỚP 9
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghị luận văn học (NLVH) là một kiểu văn bản không có gì xa lạ trong
trường phổ thông.Trước, trong và sau giai đoạn cải cách giáo dục thì các đề thi lại
chỉ chú trọng đến NLVH. Những năm gần đây, với chương trình và SGK Ngữ văn
mới, NLVH vẫn được chú ý một cách toàn diện từ THCS đến THPT, từ Đọc- hiểu
văn bản (THCS) hay Đọc văn (THPT) trong phần văn học đến luyện tập cách làm,
cách viết ở phần Làm văn. Và làm văn nghị luận văn học đã trở thành một bộ phận
không thể thiếu trong cấu trúc các đề thi tốt nghiệp THPT, Đại học và đặc biệt là
trong các đề thi HSG các cấp. Vì vậy rèn luyện làm văn NLVH vẫn là một yêu cầu
cần thiết với học sinh trung học nói chung và HSG văn nói riêng.
Tuy nhiên về phía giáo viên, nhất là với các thầy cô giáo tham gia bồi dương
HSG lớp 9 vẫn còn nhiều khó khăn khi đứng trước một kiểu bài này được đề cập
đến trong các đề thi HSG. Về phía học sinh, kể cả học sinh năng khiếu thì kết quả
bài viết còn nhiều hạn chế. Một trong những hạn chế lớn nhất là HS không biết tìm
ý và lập dàn ý cho đề NLVH.
Từ thực tiễn đó, với kinh nghiệm của một giáo viên tham gia nhiều năm
công tác bồi dưỡng HSG, tôi mạnh dạn đề cập đến vấn đề: Rèn kĩ năng làm văn
Nghị luận văn học cho HSG lớp 9.
Chuyên đề gồm ba phần chính
- Phần thứ nhất: Giới thiệu chương trình và thời lượng
- Phần thứ hai: Nội dung (nêu một số hiểu biết cơ bản về NLVH như đặc
điểm, yêu cầu, các dạng đề và cách làm bài văn NLVH)
- Phần thứ ba: Luyện tập thực hành.
- Phần thứ tư: Giải pháp.
NỘI DUNG CHÍNH
Phần thứ nhất: Chương trình, thời lượng
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
Chương trình, thời lượng dạy NLVH trong dạy HSG
- Nghị luận văn học là những bài văn bàn về các vấn đề văn chương - nghệ
thuật: phân tích, bàn luận về vẻ đẹp của tác phẩm văn học; trao đổi về một vấn đề
lí luận văn học hoặc làm sáng tỏ một nhận định văn học sử…
=> Nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái độ, quan điểm của người viết một
cách trực tiếp về văn học bằng một ngôn ngữ trong sáng, với những lập luận chặt
chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục.
II. Các dạng đề văn Nghị luận văn học:
1. Nghị luận về tác phẩm văn học: Dạng đề này nhằm kiểm tra năng lực cảm
thụ văn học ( hiểu, phân tích, lí giải, bình giá) của người viết. Đối tượng cảm thụ
có thể là thơ, truyện, kịch hoặc văn nghị luận; có thể là toàn bộ tác phẩm, nhưng có
thể chỉ là đoạn trích.
Ví dụ:
+ Phân tích đoạn thơ sau:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Buồn trông ngọn nước mơi sa
Hoa trôi man mác biết là về đâu
Buồn trông nội cỏ dầu dầu
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
( Truyện Kiều- Nguyễn Du)
+ Sức hấp dẫn từ truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
2. Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học: Đối tượng bàn luận ở đây có
thể là một nhận định về văn học sử, về nội dung hay nghệ thuật của tác phẩm; hoặc
là một ý kiến về lí luận văn học.
Ví dụ:
3
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
+ “ Một tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng bạn đọc chính là xây
tìm luận cứ có phần giống như cách tìm luận điểm. Muốn có luận cứ để sử dụng thì
phải tích lũy. Người làm văn nghị luận phải chuẩn bị cho mình một vốn luận cứ
giàu có đa dạng. Khi phân tích, bình luận tác phẩm văn học thì các câu thơ, câu
văn, chi tiết, các nhân vật trong tác phẩm là luận cứ không thể thiếu. Việc thuộc
các câu thơ, câu văn sẽ tạo thành một cái vốn quan trọng đối với người viết văn
nghị luận. Nhưng người viết còn phải biết lựa chọn luận cứ. Luận cứ phải được lự
chọn theo các tiêu chí sau:
Trước hết, luận cứ phải phù hợp với yêu cầu khẳng định luận điểm. Nội dung
của luận cứ phải thống nhất với nội dung của luận điểm. Thứ hai, luận cứ phải xác
thực. khi nêu luận cứ người viết phải biết đích xác luận cứ, không chắc chắn thì
chưa vội sử dụng. Tuyệt đối không bịa đặt luận cứ. Thứ ba, luận cứ phải tiêu biểu
Nếu chọn chi tiết về nân vật thì chọn chi tiết tiêu biểu nhất cho tính cách của nhân
vật ấy. Thứ tư, luận cứ phải vừa đủ, đáp ứng yêu cầu của luận đề, luận điểm. Cuối
cùng, luận cứ cần phải mới mẻ.
Cách sử dụng luận cứ: Khi sử dụng luận cứ vào bài văn nghị luận,trước hết
phải giới thiệu luận cứ, chỉ ra nguồn gốc của luận cứ. Cần trích dẫn chính xác. Nhớ
nguyên văn thì đặt trong dấu ngoặc kép, nhớ đại ý thì chuyển thành lời dần gián
tiếp. Dẫn nhân vật thì lược thuật cuộc đời và hoạt động của nhân vật. Cần sử
dụng các lập luận để từ luận cứ mà làm rõ luận điểm.
3. Lập luận:
Lập luận là cách nêu luận cứ ( lựa chọn, sắp xếp, trình bày) để dẫn đến luận
điểm. Lập luận phải chặt chẽ, hợp lí thì bài văn mới có sức thuyết phục.
III. Kiến thức và kĩ năng cơ bản chung
* Về kiến thức
1. NLVH là khám phá các giá trị văn học và vấn đề văn học qua từng khía
cạnh và từng biểu hiện cụ thể của tác phẩm văn học, sáng tác của một tác giả, văn
học của một giai đoạn hay của một nhận định lí luận văn học
Khi làm kiểu bài này cần thực hiện hai yêu cầu sau đây:
- Chia đối tượng NL ra từng phần, từng khía cạnh theo một trình tự logic
nhất định.
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
- Biết khai thác các phương thức biểu hiện nghệ thuật vốn có của tác phẩm
( Kết cấu, ngoại hình nhân vật, ngôn ngữ nhân vật, vần điệu thể thơ, các biện pháp
tu từ… ) để phát hiện nội dung.
- Biết cách xác lập những so sánh, đối chiếu, sử dụng phương pháp thống
kê… để đánh giá nội dung và nghệ thuật của hiện tượng văn học.
IV. Rèn phương pháp và kĩ năng làm văn Nghị luận văn học
1. Nghị luận về tác phẩm văn học:
1.1. Nghị luận về một tác phẩm truyện, một đoạn trích văn xuôi:
a. Nội dung, yêu cầu của dạng bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn
trích văn xuôi
- Đối tượng của bài nghị luận về một tác phẩm văn xuôi: giá trị nội dung
nghệ thuật của một tác phẩm, một đoạn trích hoặc so sánh nhiều tác phẩm, nhiều
đoạn trích văn xuôi với nhau, nghị luận về nhân vật văn học, sự kiện văn học…
- Người viết cần thể hiện được những hiểu biết đúng đắn về tác phẩm hay
đoạn trích, chỉ ra những giá trị nổi bật về nội dung và nghệ thuật, Việc phân tích,
bình luận cần khách quan, khoa học dựa trên văn bản.
b. Cách thức triển khai bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn
xuôi
- Giới thiệu khái quát về tác phẩm hoặc đoạn trích cần nghị luận; bàn về
những giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, đoạn trích theo định hướng của
đề bài; đánh giá chung về tác phẩm, đoạn trích đó.
- Cần phối hợp các thao tác nghị luận trong bài viết. Cố gắng nêu lên những
nhận xét, đánh giá riêng của bản thân. Giữa các phần, các đoạn của bài văn cần có
sự liên kết hợp lí, tự nhiên.
c. Kĩ năng cần rèn luyện
- Rèn kĩ năng tìm hiểu đề:
+ Nắm chắc thao tác nghị luận mà đề bài yêu cầu
+ Xác định trúng nội dung của đề
+ Phạm vi tư liệu cần sử dụng ( Tư liệu chính và tư liệu phụ)
- Kiểu bài: NLVH ( Nghị luận về một tác phẩm truyện)
- Nội dung nghị luận: Giá trị tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương
8
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
+ Giá trị nội dung: hiện thực và nhân đạo
+ Giá trị nghệ thuật
- Phạm vi nghị luận: Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ
* Lập dàn ý:
A. Mở bài:
- Bước sang thế kỉ XVI, tình hình xã hội Việt Nam không còn ổn định như ở
thế kỉ XV. Con người, nhất là phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ do chế độ phong
kiến bất công gây ra.
- Truyền kì mạn lục là tập truyện viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ, một
nhà nho ở ẩn, sống ở thế kỉ XVI. Tác phẩm đã phản ánh những mặt xấu xa của chế
độ phong kiến đương thời một cách có ý thức, qua đó bày tỏ thái độ của tác giả.
- Chuyện người con gái Nam Xương cũng như nhiều truyện trong Truyền kì
mạn lục có giá trị trên nhiều phương diện, trong đó nổi bật là các giá trị hiện
thực,nhân đạo, nghệ thuật.
B. Thân bài:
1. Giá trị hiện thực: phóng tác một câu chuyện xảy ra và lưu truyền trong
dân gian hang trăm năm trước ( cuối đời Trần đến đầu đời Hồ, tức từ cuối thế kỉ
XIV đến đầu thế kỉ XV), Nguyễn Dữ muốn mượn chuyện xưa để nói chuyện nay
( thế kỉ XVI. thời Nguyễn Dữ sống). Truyện phơi bày hiện thực xã hội phong kiến
bất công, gây nhiều đau khổ cho con người, nhất là người phụ nữ.
a. Chiến tranh loạn lạc gây ra đau khổ cho con người:
- Gia đình li tán, mẹ xa con, vợ xa chồng, con xa cha: Trương Sinh ra lính,
phải xa cách mẹ già, con thơ, vợ trẻ. Buổi chia tay li thật ngậm ngùi xót xa. Bà mẹ
dặn con “…nhưng trong chỗ binh cách, phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên
lui, lường sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy”.
Người vợ tiễn chồng: “ Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn
- Với chồng, Vũ Nương trước sau vẫn giữ trọn vẹn nghĩa tình:
+ Biết chồng có tính đa nghi. Những ngày mới về nhà chồng nàng đã hết sức
“ giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”
10
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
+ Khi xa chồng, nàng không để xảy ra điều tiếng gì.
+ Khi danh dự bị xúc phạm, trinh tiết bị nghi ngờ nàn đành phải lấy cái chết
để chứng minh cho nghĩa tình của mình.
+ Sau này khi được sống ở chốn “ làng mây cung nước”- một cuộc sống
thanh thản, sung sướng nàng vẫn không nguôi ngoai nỗi nhớ đến gia đình, chồng
con và mong được chồng biết đến nỗi oan và giải oan cho mình
c . Trong trắng, thủy chung
- Vũ Nương hoàn toàn vô tội nhưng lại bị nghi oan, dù giãi bày cũng không
gỡ ra được nên nàng phải tìm đến cái chết với lời thề bên bến Hoàng Giang:
“Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị
Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối
con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp
mọi người phỉ nhổ”.
- Nàng tin ở tấm lòng chung thủy, trong trắng của mình. Nên sau khi tự vẫn,
như lời nguyền “ các nàng tiên trong nước thương tôi vô tội rẽ một đường nước
cho tôi thoát chết, nếu không thì đã vùi vào bụng cá…”, rồi được Linh Phi cho
sống sung sướng trong cung…
- Tiết nghĩa Vũ Nương là như vậy, nhưng như trên đã nói: nỗi oan được
giải, gặp lại chồng nhưng nàng không thể trở về sống ở cõi đời này được. Câu
chuyện mãi mãi là tấn bi kịch, là nỗi thương tâm và tấm long Vũ Nương càng sang
tỏ.
3. Giá trị nghệ thuật:
Truyện có nhiều thành công về nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dưng
truyện giàu kịch tính, tập trung làm nổi bật nỗi oan của Vũ Nương, gây xúc động
đối với người đọc.
những nhận xét đánh giá phải bắt đầu từ những khám phá về vẻ đẹp và ý nghĩa
biểu đạtcủa ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ, giọng điệu thơ; đồng thời phải khai thác
giá trị của các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài (so sánh, ẩn dụ.
nhân hoá ). Chú ý chọn bình câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu , cách gieo vần
Nói đến tư tưởng, tình cảm của đoạn thơ, bài thơ có nghĩa là cần đề cập tới
hai yêu tố: tác phẩm và tác giả Điều này đòi hỏi người viết phải quan tâm tới việc
tìm hiểu cả những yếu tố trong văn bản( nội dung, nghệ thuật ) và những yếu tố
nằm ngoài văn bản ( hoàn cảnh sáng tác, cuộc đời, phong cách nghệ thuật )
12
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
Ví dụ: Khi nghị luận về bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, muốn làm toát lên
tư tưởng chủ đề của tác phẩm thì cần phải đề cập tới thời điểm sáng tác, khi nhà th
ơ đang nằm trên giường bệnh sắp phải từ giã cõi đời.( Vậy mà bài thơ vẫn t
ràn đầy sức xuân, ngời lên khát vọng được dâng hiến cho đời).
Để bài viết thêm sâu sắc, người viết có thể viện dẫn ý kiến của các nhà phê bình
nghiên cứu văn học,. Đồng thời trong khi phân tích thơ, nên tập thói quen sử dụng
thao tác liên hệ, so sánh đối chiếu với những cân thơ, bài thơ khác có cùng đề tài,
cùng tác giả.
b. Cách thức triển khai bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:
*Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nêu nhận xét đánh giá của
mình (Nếu đề yêu cầu phân tích đoạn thơ nên nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trong tá
c phẩm và khái quát nội dung cảm xúc của nó).
* Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dung v
à nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ.
- Kết bài: Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ bài thơ.
Bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ cần nêu lên được các nhận xét, đánh
giá và cảm thụ riêng của người viết. Những nhận xét đánh giá ấy phải gắn
với sự phân tích, bình giảng ngôn từ, hình ảnh, giọng điệu, nội dung cảm xúc…
của tác phẩm.
c. Kĩ năng cần rèn luyện
văn bản nghị luận về một vấn đề nghị luận văn học
Kiến thức được nêu ra cần có sự hài hòa giữa cái chung và cái riêng, giữa tri
thức phổ quát và nhận thức chủ quan của bản thân; nhưng quan trọng nhất là cần
một tri thức rộng và sâu, những trải nghiệm của bản thân cần được trình bày một
cách hợp lí, chặt chẽ và thuyết phục.
d. Luyện tập
* Đề 1: Trong tác phẩm “Lòng yêu nước”, nhà văn Nga I-li-a Ê-ren-bua có
viết: “ Lòng yêu nước ban đầu là yêu những vật tầm thường nhất: yêu cái cây trồng
ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua mát của trái lê mùa
thu hay mùa cỏ thảo nguyên có hơi rượu mạnh. ( ) Dòng suối đổ vào sông, sông
14
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra biển. Lòng yêu nhà, yêu
làng xóm, yêu quê hương trở nên tình yêu Tổ quốc”.
( Ngữ văn 6, tập2- NXBGD 2000- Trang 100)
Em hiểu như thế nào về ý kiến trên? Bằng sự hiểu biết của mình về văn xuôi
từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay, em hãy làm sáng tỏ ý kiến đó.
I. Tìm hiểu đề:
- Kiểu bài: NLVH
- Nội dung NL: Văn xuôi từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 thể hiện tinh
thần yêu nước.
II. Lập dàn ý:
A. Mở bài:
B. Thân bài:
1/ PhÇn gi¶i thÝch:
- Lòng yêu nước vốn là một khái niệm trừu tượng nhưng Ê-ren-bua đã diễn
tả nó bằng những hình ảnh hết sức sinh động, cụ thể. Lòng yêu nước bắt đầu từ
những tình cảm chân thực. Nó bắt đầu từ tình yêu những vật “tầm thường”, cụ thể
nhưng gần gũi, gắn bó sâu sắc với mỗi con người. Đó là tình yêu cái cây trồng
trước nhà, con phố nhỏ đổ ra bờ sông, vị thơm mát của trái lê mùa thu hay mùi cỏ
Cách mạng dân tộc dân chủ và lý tưởng xã hội chủ nghĩa đem đến cho các
nhà văn nhà thơ quan niệm đất nước nhân dân, đất nước qua con mắt những con
người bình thường và giản dị. Đó là đất nước của người nông dân quen sống lam lũ
cả cuộc đời với ngôi làng cũ chứa bao kỉ niệm vui buồn (ông Hai trong Làng của
Kim Lân), đó là đất nước của anh cán bộ làm công tác thuỷ văn đo mưa đo gió trên
đỉnh Yên Sơn 2600 m thiếu cả tiếng người (trong Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành
Long), đó là đất nước trong con mắt của người con gáI Hà Nội xung phong ra mặt
trận giữa bom đạn quân thù, giữa cáI sống và cái chết (Phương Định trong Những
ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê) Qua cái nhìn qua nhận thức của hai nhân
vật, tình yêu quê hương đất nước hiện lên mỗi nhân vât mỗi một khác song đó đều
là đất nước được nhân nhân xây dựng và bảo vệ bằng mồ hôi, nước mắt và cả máu
của mình qua trường kỳ lịch sử. Đó là chủ đề của hàng loạt bài thơ và nhiều trang
truyện viết về đất nước trong giai đoạn văn học này.
2.2/ Những biểu hiện cụ thể của lòng yêu nước.
16
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
- Có thể đó chỉ là tình yêu với một vùng đất nhiều kỉ niệm: TôI yêu Sài Gòn
da diết như một người đàn ông vẫn ôm ấp một mối tình nhiều ngang trái. TôI yêu
trong nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào, vào buổi chiều gió lộng nhớ thương,
dưới những cơn mưa nhiệt đới bất ngờ còn nhiều cây xanh che chở (Sài Gòn tôi
yêu - Minh Hương); một mùa xuân “trăng non , rét ngọt” của Hà Nội, của miền
Bắc trong tấm lòng của người xa quê: Mùa xuân của tôi- mùa xuân Bắc Việt, mùa
xuân của Hà Nội- là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu
trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát
huê tình của cô gái đẹp như trong mộng Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là là
khoảng sau ngày rằm tháng giêng, Tết đã hết mà chưa hết hẳn, đào hơI phai
nhưng nhuỵ vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu giêng, nhưng
trái lại, lại nức một mùi hương man mác. ( Thương nhớ mười hai- Vũ Bằng); hay
cũng có thể là một vùng biển đảo xa xôI của Tổ quốc có nước xanh, mây trắng vào
một buổi sáng sau bão: Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong, sáng
công việc đầy khó khăn vất vả Nửa đêm nằm trong chăn không thể ngủ lại được.
Nhưng tất cả những khó khăn ấy có ý nghĩa gì với chàng thanh niên trẻ khi anh đã
nhận thức đúng đắn nhiệm vụ của mình: Hồi chưa vào nghề Mình sinh ra là gì,
mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc? Đấy cháu tự nói với cháu như thế đấy”.
PhảI chăng đó chính là tình yêu với quê hương, với Tổ quốc.
+ Đó là Phương Định và tổ thanh niên xung phong của chị trong Những
ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê. Những cô gái trẻ làm nhiệm vụ đếm và phá
bom trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vô cùng ác liệt của dân tộc. Những người
con gái ấy nếu đất nước thanh bình họ chắc là cô giáo, là bác sỹ, kỹ sư. Họ đã yêu
thiết tha căn nhà, người thân: Mà tôi nhớ một cái gì đấy, hình như là mẹ tôi, cái
của sổ, hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố. Phải có thể có những cái
đó Hoặc là cái cây, hoặc là cái vòm tròn của nhà hát, hoặc là bà bán kem đẩy
chiếc xe chở đầy kem chúng xoáy mạnh trong tâm trí tôi. Nhưng trong cuộc
chiến tranh vĩ đại của dân tộc họ sẵn sàng ở mặt trận, một mặt trận nóng bỏng,
hàng ngày hàng giờ đối mặt với sự hiểm nguy: Chúng tôi bị bom vùi luôn. Có khi
bò trên cao điểm về chỉ hai con mắt lấp lánh Còn chúng tôi thì chạy trên điểm
cao cả ban ngày . Mà ban ngày chạy trên cao điểm không phải chuyện chơi.
Nhưng nhất định sẽ nổ. Cái để những người con gái kia sẵn sàng chấp nhận và đối
diện thường xuyên với khó khăn gian khổ, sẵn sàng cống hiến, hi sinh cả cuộc đời
mình có phải là tình yêu thiết tha với gia đình, với bạn bè, với những kỷ niệm đẹp
đẽ của quê hương mà rộng hơn là tình yêu đất nước. Phải chăng họ tìm ý nghĩa sự
sống trong Tổ quốc, Nhân dân, trong tương lai tươi sáng, trong lẽ sống vĩnh cửu.
(Văn học thuộc loại hình sử thi , cái đẹp trong văn học Cách mạng gắn với ý niệm
về Tổ quốc trường tồn). Mọi cá nhân hữu hạn sẽ bất tử trong Tổ quốc mình.
18
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
Tình yêu quê hương đất nước bắt đầu tình cảm sẵn có trong mỗi con người,
đó là tình cảm thật hồn nhiên, giản dị và trong sáng. Tình yêu ấy khi được ý thức
một cách đúng đắn, đầy đủ càng sâu sắc và đẹp đẽ.
C. Kết bài
ý khái quát : Thông qua bốn nhân vật trong truyện và một vài nhân vật
được gián tiếp nói tới , họ có già có trẻ, nghề nghiệp khác nhau nhưng lại có nhiều
điểm gần gũi mà trước hết là nét đẹp trong suy nghĩ , trong thái độ đối với cuộc
sống, trong công việc và với những người khác. Tác giả không đặt tên nhân vật có
thể với dụng ý khẳng định : đó là những con người bình thường, bình dị trong một
cuộc gặp gỡ bất ngờ và chúng ta có thể gặp gỡ ở bất cứ nơi nào trên đất nước này
(có thể đặt vào hoản cảnh lịch sử thời kỳ ra đời của tác phẩm để thấy được vẻ đẹp
của những con người bình thường trong khó khăn chung).
1. Vẻ đẹp chung của các nhân vật
+ ý thức trách nhiệm trước công việc :
- Sống có lý tưởng , sẵn sàng cống hiến : anh thanh niên, cô kỹ sư trẻ.
- Nhận thức sâu sắc ý nghĩa công việc : anh thanh niên, ông kỹ sư vườn rau,
người cán bộ nghiên cứu khoa học mà anh thanh niên nói tới
+ Yêu thích say mê công việc , sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức
chấp nhận cuộc sống cô độc để làm việc, làm việc một cách kiên trì , tự giác bất
chấp hoàn cảnh : anh thanh niên, ông kỹ sư vườn rau, người cán bộ nghiên cứu
khoa học.
2. Vẻ đẹp trong cuộc sống bình thường của anh thanh niên.
+ Đó là con người biết sống, làm việc một mình trên đỉnh núi cao mà không
cô đơn . Anh tổ chức sắp xếp cuộc sống của mình trên trạm khí tượng thật ngăn
nắp , chủ động, giản dị: ( Căn nhà nhỏ, gìương cá nhân ) song thật phong phú về
tâm hồn : trồng hoa, tự học và đọc sách ngoài giờ làm việc để mở mang tri thức
+ Đó là một người khiêm tốn: lặng lẽ hoàn thành công việc, không tự nhận
thành tích về mình luôn nhận thức được công việc của mình làm là những đóng
góp nhỏ bé cho đất nước, ham mê học hỏi , phấn đấu bởi xung quanh anh có biết
bao con người , bao tấm gương, bao điều đáng học ( những ông kĩ sư vườn rau,
anh cán bộ nghiên cứu sét )
20
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
+ Một con người sống cởi mở ,tốt bụng, luôn quan tâm đến mọi người một
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
- Con người cần phải biết sống có lý tưởng , say mê với công việc , hiểu
được ý nghĩa của công việc mình làm . Con người cần phải tự nhìn vào chính bản
thân mình để biết sống tốt và đẹp hơn.
- Thông qua suy nghĩ của người hoạ sỹ già : vẻ đẹp của con người và của
cuộc sống chính là nguồn cảm hứng vô tận để người nghệ sỹ sáng tạo nên những
tác phẩm nghệ thuật có giá trị .
C. Kết bài
- Khẳng định vấn đề
- Mở rộng, nâng cao
* Đề 2:
Một bài thơ hay không bao giờ ta đọc qua một lần mà bỏ xuống được. Ta
sẽ dừng tay trên trang giấy đáng lẽ lật đi, và đọc lại bài thơ. Tất cả tâm hồn chúng
ta đọc, không phải chỉ có tri thức (…) Cho đến một câu thơ kia , người đọc nghe
thì thầm mãi trong lòng, mắt không rời trang giấy”
( Trích “Tiếng nói của văn nghệ” – Nguyễn Đình Thi)
Em hiểu ý kiến trên như thế nào ? Hãy trình bày cảm nhận của em về cái hay
trong bài thơ Đồng chí của nhà thơ Chính Hữu.
A. Yêu cầu chung:
1. Về kỹ năng:
Bài viết thể hiện rõ kĩ năng làm bài văn nghị luận văn học; có bố cục rõ ràng,
cân đối; diễn đạt lưu loát có chất văn; chữ viết, cách trình bày sạch đẹp.
2. Về kiến thức
Học sinh cần làm sáng tỏ được ý kiến của Nguyễn Đình Thi qua việc trình bày
cái hay của bài thơ Đồng chí – Chính Hữu.
B. Yêu cầu cụ thể:
Học sinh có thể trình bày theo các cách khác nhau nhưng cần đảm bảo các ý:
1.Đặt vấn đề:
+ Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm.
+ Nêu vấn đề nghị luận: Đánh giá cái hay của một bài thơ.
đại .
=> Sáu câu thơ đầu đã giải thích cội nguồn và sự hình thành của tình đồng
chí giữa những người đồng đội. Câu thơ thứ bảy như một cái bản lề khép lại đoạn
thơ thứ nhất để mở ra đoạn hai.
23
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - HBT
+ Những biểu hiện cảm động của tình đồng chí :
- Tình đồng chí là sự cảm thông sâu sắc những tâm tư, nỗi niềm của nhau.
Những người lính gắn bó với nhau, họ hiểu đến những nỗi niềm sâu xa, thầm kín
của đồng đội mình .
- Tình đồng chí còn là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc
đời người lính : Cái khắc nghiệt của thời tiết, cái thiếu thốn về quân trang , quân
phục…
- Không chỉ chia sẻ với nhau những gian lao của cuộc đời người lính mà họ
còn chia sẻ với nhau những niềm vui bình dị, nhỏ bé: Câu thơ "Miệng cười buốt
giá” diễn tả cảm động niềm vui, nụ cười của những người lính. Chính tình đồng
đội đã làm sưởi ấm lòng người lính để họ vẫn cười vượt trên buốt giá.
- Người lính gắn bó với nhau bằng tình đồng đội sâu sắc: Câu thơ “ Thương
nhau tay nắm lấy bàn tay” đã diễn tả cụ thể một cử chỉ cảm động, chan chứa tình
cảm chân thành của những người lính.
+ Biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí: Ba câu cuối cùng kết thúc bài
thơ bằng một hình ảnh thơ thật đẹp. Nổi lên trên cảnh rừng đêm hoang vắng, lạnh
lẽo là hình ảnh người lính "đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới". Đó là hình ảnh cụ
thể của tình đồng chí sát cánh bên nhau trong chiến đấu. Họ đã đứng cạnh bên
nhau giữa cái giá rét của rừng đêm, giữa cái căng thẳng của những giây phút "chờ
giặc tới". Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ, giúp họ vượt lên tất cả
- Câu thơ cuối cùng mới thật đặc sắc : "Đầu súng trăng treo". Hình ảnh thơ
độc đáo, có sức gợi nhiều liên tưởng phong phú sâu xa. "Súng " biểu tượng cho
chiến tranh, cho hiện thực khốc liệt. "Trăng" biểu tượng cho vẻ đẹp yên bình, mơ
+ Ngôn ngữ thơ: Hàm súc, gợi hình, gợi cảm. Cách sử dụng có hiệu quả các
biện pháp tu từ: Ẩn dụ, nhân hóa, sóng đôi cú pháp, đối …có sức khái quát cao
diễn tả cụ thể quá trình phát triển của một tình cảm thiêng liêng: Tình đồng chí.
+ Giọng thơ: Sâu lắng, xúc động như một lời tâm tình thiết tha.
Có thể nói thi phẩm là một thành công sớm của thơ ca kháng chiến chống
Pháp trong việc khai thác chất thơ, vẻ đẹp của người lính trong cái bình dị đời
thường bằng bút pháp tả thực không cường điệu, không tô vẽ, không nhấn mạnh
cái phi thường…thể thơ tự do, ngôn ngữ thơ rất gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày,
mang hơi thở và vị mồ hôi mặn chát của những người nông dân mặc áo lính thời
chống Pháp.
25