Rèn kĩ năng làm văn hay cho HS tiểu học - Pdf 30

Rèn luyện kĩ năng làm văn hay thuộc thể loại văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
B-K-L
Rèn luyện kĩ năng làm văn hay
thuộc thể loại văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
A. Phần mở đầu
I. Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt là môn học có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát
triển t duy cho ngời học. Môn học là công cụ phục vụ cho sự phát triển trong giao
tiếp, công cụ trong việc học tập các môn học khác. Môn học phát triển t duy từ hệ
thống kiến thức về tiếng Việt. Ngoài ra, viết văn hay là cảm nhận cái hay, cái đẹp,
khả năng cảm nhận thẩm mĩ về thế giới xung quanh. Nó góp phần hoàn thiện nhân
cách con ngời.
Trong các phân môn của môn Tiêng Việt, phân môn Tập làm văn là kết quả tích
tụ từ các phân môn khác bằng văn bản viết. Để có một bài văn miêu tả hay, phát huy
hết khả năng làm văn, học sinh phải biết cách làm văn đi từ quan sát tỉ mỉ tinh tế đối
tợng miêu tả, ghi chép những nội dung quan sát, sử dụng vôn kiến thức đã học để lập
dàn ý, sử dụng câu từ để viết văn. Học sinh có khả năng trau chuốt lời văn giàu cảm
xúc, giàu hình ảnh, viết bài văn chặt chẽ logic. Muốn vậy, ngời giáo viên làm thế nào
để hớng dẫn tổ chức cho học sinh cách học, cách làm và hoạt động tích cực, sáng tạo
để có kĩ năng kĩ xảo trong quá trình làm bài. Tuy nhiên, trong thực tế vấn đề dạy học
sinh làm văn hay là một vấn đề khó. Thờng thì học sinh mới biêt làm một bài văn
đúng nhng còn gặp rất nhiều khó khăn khi làm một bài văn hay. Làm thế nào để học
sinh viết đợc một bài văn miêu tả hay, tôi đã chọn đề tài: rèn kĩ năng làm văn hay
thuộc thể loại văn miêu tả trong chơng trình tiểu học.
II. Mục đích nghiên cứu
Rèn cho học sinh có kĩ năng làm văn hay về thể loại văn miêu tả trong chơng trình
tiểu học.
III. Phạm vi nghiên cứu:
Giới hạn :
Dạy phân môn tập làm văn, thể loại văn miêu tả trong chơng trình tiểu học.
Đối tợng: Học sinh lớp 4-5

học sinh có thêm điều kiện tạo nên sự thống nhất giữa t duy và tình cảm, ngôn ngữ
và cuộc sống, con ngời với thiên nhiên, với xã hội, để khêu gợi tình cảm, cảm xúc, ý
nghĩ cao thợng, đẹp đẽ Xu-khôm-lin-xki nhà giáo dục Xô Viết cho rằng việc học
sinh tiếp xúc với thiên nhiên, việc dạy các em miêu tả cảnh vật nghe thấy, nhìn
thấy là con đờng có hiệu quả nhất để giáo dục các em và phát triển ngôn ngữ ở trẻ.
Ông phê phán cách tổ chứ học tập tách học sinh với thế giới xung quanh:
Ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc đời học sinh, chúng đã đóng lại cánh cửa
thế giới đẹp mê hồn của thiên nhiên xung quanh và em cũng không đợc nghe thấy
tiếng róc rách của dòng suối nhỏ, tiếng tí tách của hạt ma xuân, tiếng hót của chim
sơn ca. Em chỉ học thuộc lòng những câu khô khan, không màu săc về tất cả những
vật kì diệu đó.
Ông biểu dơng cách dạy để học sinh hòa mình vào thiên nhiên, miêu tả thiên
nhiên Hết tiết dạy này đến tiết dạy khác, tôi dắt trẻ đi vào nguồn bất tận và vĩnh
cửu của tri thức là thiên nhiên, vào vờn cây, vào rừng, ra bờ sông và cánh đồng. Cùng
đi với trẻ, tôi bắt đầu dạy các em dùng ngôn ngữ để diễn đạt những sắc thái tinh tế
của hiện tợng và sự vật. Đó cũng là những cơ sở vô cùng quý giá để chúng ta thực
hiện dạy học văn một cách nhẹ nhàng, đi vào tâm hồn trẻ một cách tự nhiên, đạt
hiệu quả cao.
II. Cơ sở thực tiễn:
ở bậc Tiểu học, lần đầu tiên học sinh đợc học miêu tả văn. Các em gặp khó khăn
cả về tri thực và phơng pháp. hiểu biết và cảm xúc về đối tợng. Cac em lấy đâu ra
hiểu biết về cây đang ra hoa, ra quả, về anh công nhân đang xây nhà nêu không đ-
ợc quan sát? Hầu nh các em không có gì hồi tởngvề các đối tợng miêu tả nếu liền
ngay trớc tiết làm văn các em không đợc đến tận nơi xem xét, nhận xét. Ngoài ra,
miêu tả theo đầu bài cho sẵn liệu các em có cảm xúc để làm bài không? Những khó
khăn về nội dung càng đợc nhân lên do các em cha nắm đợc phơng pháp quan sát, bố
cụ bài miêu tả, sử dụng ngôn ngữ miêu tả. Vì thế cần xem xét các bài miêu tả ở bậc
Tiểu học là những bài tập ban đầu luyện các kĩ năng miêu tả. Có nh vậy việc đánh
giá mới phản ánh đúng yêu cầu chơng trình và có tác dụng động viên học sinh.
Đánh giá chung thực trạng dạy văn:

hay ở thể loại văn miêu tả cho học sinh nh sau:
I. Đọc hiểu đề:
*Đọc đề: Hiểu đợc đề yêu cầu gì? Trọng tâm của cần viết là cài gì?
Đầu tiên ta hớng dẫn học sinh phân tích đề: Cần phân biệt các yêu cầu của đề:
Loại đề cùng thể loại nhng các yêu cầu về thời điểm, về không gian, sự thay đổi
về đối tợng khác nhau:
Chẳng hạn: a. Tả một ngời bạn thân của em.
b. Bạn em đang ngồi học bài. Em hãy tả bạn lúc đó
Hai đề này có điểm khác nhau: đề a, Tả hình dáng, tính cách của bạn em trong
phạm vi rộng). Đề b: Tả hình dáng, tính cách học bài của bạn (trong phạm vi hẹp).
Hay: Tả cánh đồng lúa chín quê em.
HS hay nhầm chỉ sa vào tả hoạt động gặt lúa. Cần hình dung cảnh cánh đồng lúa
chín có những cảnh gì? (Lúa chín vàng , bông lúa năng trĩu, hạt lúa tròn trĩnh níu
khom bông lúa.Sơng sớm làm lúa chín vàng tơi. Nắng chiếu làm đồng lúa vàng
xuộm
II. Quan sat đối tợng miêu tả:
a. Quan sát là sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật. Mắt cho ta cảm giác về
màu sắc (xanh, đỏ, vàng, ), hình dạng (cây cao, thấp, cái bàn hình vuông, hình chữ
nhật ), hoạt động (con gà trống khi đi cổ thờng nghều cao, con ngan bớc đi chậm
chạp, lạch bach ), dùng tay sờ vỏ bút thấy thế nào? Dạy học sinh quan sát chính là
dạy cách sử dụng các giác quan để tìm ra các đặc điểm của sự vật.
b. Quan sát làm bài văn miêu tả, cần tìm ra những đặc điểm riêng của từng đồ vật,
con vật, cây cối và bỏ qua những đặc điểm chung. Dạy quan sát cây bút chì của em .
Giáo viên hớng dẫn học sinh không chỉ nhận xét màu sắc của vỏ bút chì mà cần nhận
ra những dòng chữ in trên vỏ, các đặc điểm khác của vỏ mà chỉ riêng bút chì của em
mới có (có chỗ nào bị nứt không? có vết mực ở đoạn nào? ). Nhận xét con gà trống
nhà bà ngoại cố tìm ra mào của nó, lông của nó, thân hình của nó có gì khác với
con gà trống hàng xóm hoặc con gà trống em thấy ngoài ngõ. Ví dụ, con gà trống
nào cũng có mào nhng mỗi con: độ to nhỏ, màu sắc, hình dáng của mào, lại khác
nhau. quan sát để làm bài miêu tả cần nhận ra đặc điểm riêng biệt đó.

ở mức độ cao hơn giáo viên hớng dẫn học sinh đi vào trọng tâm cảnh vật, con ng-
ời và rèn luyên sự tinh tế khi quan sát. Đó là sự phát hiện ra những đặc điểm ít ngời
nhận thấy. Nhìn đóa hoa phợng rơi, Mai Hơng nhận ra cái dáng lìa cành chênh
chếch bay nghiêng. Nằm trong nhà, nghe tiếng lá rụng ngoài thềm, Trần Đăng
Khoa lúc mời tuổi phát hiện tiếng rơi rất khẽ nh là rơi nghiêng. Tả con gà mái vừa
xuống ổ cùng đàn gà con, em Vũ Thuận chú ý tới Cái mào trớc đây đỏ chói bây giờ
thẫm lại.
Với những yêu cầu của đề thì bài văn phải viết những cái gì? Cần HD cho HS
hiểu các từ ngữ trong khi tìm hiểu về cách viết văn trong mỗi tiết học:
Ví dụ: Tả bao quát là tả nh thế nào?
Tả chi tiết là tả những cái gì?
Kết hợp sự quan sát đối tợng (có thể quan sát trong tởng tợng, nhng phải trung
thực), hớng cho HS vừa quan sát vừa liên tởng, đồng thời ghi chép lại những điều
quan sát đợc. Hớng dẫn HS lựa chọn sự vật, đối tợng quan sát: lựa chọn mảng cảnh,
chi tiết để quan sát, để tả. Thao tác này cần tập cho HS có kĩ năng quan sát. Nếu
không làm đợc thì khi làm văn HS làm không đợc, làm một cách mơ hồ.
Khi quan sát sự vật, tôi tổ chức cho HS quan sát thực tế đối tợng quan sát theo yêu
cầu đề. Bám vào dàn bài để gợi ý cho HS ghi lại những gì mình quan sát đợc. Mỗi
HS có một sự quan sát rất riêng. Cần lu ý rằng: Ngời GV phải là ngời tinh tế trong
qua trình quan sát thì mới định hớng cho HS quan sát một cách tinh tế, tỉ mỉ của sự
vật. Ta có thể nói Thế giới xung quanh ta luôn luôn mới mẻ, chỉ có điêù ta có nhìn
thấy cái mới đó hay không?
Chẳng hạn:
*Quan sát cây bàng:
- Em quan sát theo trình tự nh thế nào?
-Nhìn bao quát em thấy cây bàng nh thế nào.
Em dùng những câu văn nào để tả bao quát cây bàng?
4
Rèn luyện kĩ năng làm văn hay thuộc thể loại văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
B-K-L

nhất. Cách làm thông thờng khi lựa chọn từ ngữ là so sánh các từ gần nghĩa hay trái
nghĩa. Chẳng hạn để tả cánh đồng lúa chín nên dùng từ ngữ nào trong hàng loạt các
từ ngữ vàng xuộm, vàng hoe, vàng t ơi, vàng ối Cách đặt câu hỏi hớng dẫn học
sinh quan sát không chỉ có tác dụng định hớng quan sát mà còn có ảnh hởng lớn đến
việc tìm tòi từ ngữ, hình ảnh khi miêu tả. Cần tránh đặt các câu chỉ hỏi về kiến thức
khoa học. Nên đặt câu hỏi có tác dụng tìm ra những chi tiết miêu tả. Hãy so sánh hai
câu hỏi khi quan sát cây dừa:
-Cây dừa có những bộ phận nào?
-Nhìn tàu lá dừa em nhớ tới hình ảnh nào? Quả dừa nằm ở đâu? Nó gợi cho em
nghĩ đến vật gì?
Câu hỏi thứ nhất chỉ nhằm hỏi kiến thức khoa học (môn Tự nhiên- xã hội). Câu
này không có tác dụng gợi cho học sinh tìm các từ ngữ miêu tả. Câu hỏi thứ hai hớng
học sinh tìm ra các chi tiết miêu tả, đồng thời gợi lên cho các em liên tởng khi quan
sát. Do đó nó gợi cho học sinh tìm từ ngữ, hình ảnh miêu tả.
-Tập cho HS sử dụng từ láy: thờng là dạng từ tạo nên hình ảnh gợi hình gợi tả.
VD: Đặt câu Tả khuôn mặt của em bé có sử dụng từ láy. (Trong văn tả ngời)
-Cách viết câu văn còn đơn điệu cha có hình ảnh:
Sử dụng hình ảnh so sánh , nhân hóa trong câu văn:
Lựa chọn một số chi tiết của đối tợng, yêu cầu HS viết câu văn có hình ảnh so
sánh, nhân hóa (Thờng trong văn tả sự vật), so sánh (trong văn tả ngời, con vật).
Chẳng hạn:
Tả cái trống: Mặt trống, em sử dụng hình ảnh nhân hóa nh thế nào? (gọi mời, )
Đai trống đợc so sánh nh thế nào? (nh hai con rắn)
Tả cánh rừng: Cây cối đợc nhân hóa nh thế nào (chen chúc, lấn)
5
Rèn luyện kĩ năng làm văn hay thuộc thể loại văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
B-K-L
Cả cánh rừng mịn màng đợc so sánh nh thế nào? (nh tấm thảm
xanh)
-Lu ý: Cho dù sử dụng từ láy, hay phép nhân hóa, phép so sánh cần lựa chọn sử

Theo Mai Liên
Sử dụng hệ thống câu hỏi để tìm hiểu cấu tạo bài văn và lập dàn ý cho bài văn
miêu tả :
-Bài văn miêu tả cây cau gồm mấy phần? Em hãy viết vắn tắt nội dung từng
phần.
-Bài văn miêu tả cây cau theo trình tự nào? Liệt kê các từ ngữ miêu tả từng bộ
phận của cây cau.
-Ngoài trình tự đã nêu trên, bài văn còn kết hợp miêu tả cây cau theo trình tự
nào? Cách miêu tả ấy có gì hay?
Từ đó học sinh rút ra dàn ý của bài văn miêu tả cây cối.
-Vận dụng kiến thức đã học thiết lập dàn ý sau khi quan sat.
Lập dàn ý cho bài văn miêu tả một loài cây hoặc một cây cụ thể mà em yêu thích
theo trình tự: tả lần lợt bộ phận của cây hoặc tả từng thời kì phát triển của cây; sự
biến đổi theo thời gian, theo mùa.
-Trình tự tả cây cối ta có thể tả một cây hoặc tả một loài cây:
VD :Tả bãi ngô (một loài cây)
Tả cây gạo (tả một cây)
Tả theo trình tự : Tả bộ phận của cây.
Hoặc tả quá trình phát triển của cây.
6
Rèn luyện kĩ năng làm văn hay thuộc thể loại văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
B-K-L
VD: Quan sat lập dàn ý.(Gợi ý bằng câu hỏi)
Đọc dàn ý của bài văn tả cây phợng dới đây:
Mở bài: Giới thiệu cây phợng (trồng ở đâu?, có đặc điểm gì đáng chú ý nhất?)
Thân bài: Phối hợp tả vẻ đẹp của cây theo từng bộ phận của cây và theo trình tự
thời gian:
-Tả bao quát cây phợng (hình dáng chung của cây, thân cây, tán lá); Cây phợng
cao nh thế nào? Màu sắc và dáng dấp của thân cây? Hình dạng của tán lá thế nào?
-Tả chi tiết các bộ phận của cây(theo mùa): (Lá phợng nhú ra vào cuối mùa xuân,

. Hơn nữa, giống nh nhấc một chiếc cần cẩu, một sợi dây cáp dẻo dai, nó còn có
thể nhấc bổng các vật nặng: những khúc gỗ, kiện hàng, thậm chí cả một chiếc ô tô!
. Nó vừa là vòi phun nớc tắm mát, vừa thay thế cho đôi tay khéo léo bứt những
nhánh cây, ngọn cỏ để đa vào miệng.
+Luyện xây dựng mở bài, kết bài trong văn miêu tả con vật:
Học sinh xác định các sự khác nhau của các mở bài, kết bai sau đó rút ra cách
viết mở bài, cách viết kết bài.
Chẳng hạn:
Các mở bài sau đây có gì khác nhau?
a, Meo! Meo! Meo! Nghe tiếng kêu này chắc hẳn lũ chuột rất khiếp đảm. Còn bé
chắc bé nhận ngay ra tôi là ai.
b, Bà ngoại tôi nuôi một con mèo vàng. Nó tên là Ngố.
Từ đó rút ra cách mở bài gián tiếp, mở bài trực tiếp.
Đối với kết bài ta cũng có thể triển khai nh vậy.
Sau đây là một ví dụ:
7
Rèn luyện kĩ năng làm văn hay thuộc thể loại văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
B-K-L
Các kết bài sau đây khác nhau nh thế nào?
a, Nếu bạn có dịp đi xem xiếc thú, bạn sẽ tận mắt chứng kiến những tài nghệ
khéo léo của loài voi chúng tôi! Bé nhớ đến rạp xiếc và xem chúng tôi biểu diễn nhé!
b, Voi là loài vật quý, rất có ích, cần phải đợc bảo vệ.
Từ đó rút ra cách kết bài mở rộng, kết bài không mở rộng.
Nhận xét xem cách kết bài nào hay hơn?
Sau khi học sinh đợc lĩnh hội những kiến thức cần thiết từ bài Luyên từ và câu,
Tập làm văn, cần làm giàu thêm vốn câu văn, đoạn văn bằng nhiều hình thức:
Đọc đoạn văn, bài văn rút ra nhận xét câu văn hay, đoạn văn hay, cách viết văn nh
thế nào? Chi tiết hình ảnh nào hay? Vì sao?
Từ đó học sinh vận dụng viết mở bài, kết bài cho bài văn miêu tả.
VI. Đọc bài văn mẫu:

Cảm thụ văn học chính là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều đặc sắc,
tế nhị và đẹp đẽ của từ, ngữ, đoạn, bài văn thơ.
Bài văn cảm thụ yêu cầu học sinh có kĩ năng làm bài mức cao hơn. Trực quan
không phải là đối tợng sự vật thật trong tự nhiên, mà đối tợng miêu tả đợc thể hiện
trong thơ, trong văn. Để quan sát đối tợng trong thơ văn, ta phát huy trí tợng tợng,
phải nắm bắt đợc nội dung, hình ảnh, chi tiết của đối tợng sự vật bằng lời trong bài
thơ. bài văn.
8
Rèn luyện kĩ năng làm văn hay thuộc thể loại văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
B-K-L
Đối với dạng bài văn cảm thụ, trớc hết phải tìm hiểu tốt nội dung, tìm hiểu về chi
tiết hình ảnh hay, ta có thể sử dụng các bớc sau:
- Sử dụng những câu hỏi để tìm hiểu nội dung bài thơ văn.
- Tìm hiểu các từ ngữ trong bài văn. Cách sử dụng các từ ngữ có gì hay?
- Trong bài văn, bài thơ em thích hình ảnh nào nhất? Vì sao?
Muốn học giỏi văn, học sinh phải có niềm đam mê đọc sách. để đọc sách có hiệu
quả, cần có phơng pháp tốt. Đọc sách cần tập trung t tởng cao, luôn suy nghĩ những
điều đang đọc để thấy cái hay, cái đẹp của bài văn thơ. Đọc sách biết vui- buồn- s-
ớng- khổ hay ghét yêu cùng nhân vật. Học sinh phải rèn luyện nâng cao năng lực
cảm thụ văn học. Ví dụ:
Lời ru có gió mùa thu
Bàn tay mẹ quạt mẹ đa gió về
Những ngôi sao thức ngoài kia
Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.
(Mẹ - Trần Quốc Minh)
Theo em, hình ảnh nào góp phần nhiều nhất làm nên cái hay của đoạn thơ trên?
Vì sao?
Để làm bài cảm thụ văn học đạt đợc kết quả tốt, các em cần thực hiện những việc

Dì của em có một bé trai tên Hoàng Huy. Bé Huy đang ở tuổi tập nói và đã biết
đi tập tễnh. Em không có em ruột nên thích bé.
9
Rèn luyện kĩ năng làm văn hay thuộc thể loại văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
B-K-L
Dáng bé tròn trịa với chiếc quần mặc bó sát đùi và cái áo thun ba lỗ. Mái tóc tha,
mềm mại. Hai gò má bé ửng hồng và phúng phính. Em thờng nhéo vào đôi má ấy để
nghe bé kêu lên giận dỗi.
Những khi em đi học về, Huy rất mừng vì đợc em cho kẹo kim. Bé Huy thích
chơi trò bán bánh. Bánh làm bằng đất in trong chén nhựa, đặt vào mấy lá mận rụng
trong sân nhà.
Dì dạy cho Huy nói tiếng cha thì Huy lại nói a, a. Vài ngày sau, dì dạy Huy
tiếng bà, Huy lại nói là cha, cha làm ai cũng phì cời.
Em thơng bé Huy nh em ruột của mình. Hôm nào bé đi đâu vắng, em nhắc tên
Huy không ngớt làm cha mẹ cũng nhớ theo.
(Vân Khanh)
Đọc bài văn, ta thấy tình cảm của Vân Khanh đối với bé huy ra sao? Bao trùm cả
bài là lòng yêu thơng, trìu mến. Tình cảm ấy ẩn hiện đằng sau từng chi tiết miêu tả
hình dáng tròn nh hột mít của Huy. Ngắm bé, Vân Khanh phát hiện ra vẻ tròn trịa,
nghe dì dạy bé, Vân khanh nhận ra cách nói ngộ nghĩnh. Đằng sau các từ ngữ, các
chi tiết ấy là tình yêu của ngời viết bài với em bé đợc miêu tả. Có lúc tình cảm ấy đ-
ợc bộc lộ trực diên từng câu, thành lời trong bài.
Bài làm văn nào cũng là sự thể hiện trạng thái tình cảm của học sinh. Chỉ có
những tình cảm trong sáng, đẹp đẽ, hồn nhiên mới tạo ra những đoạn văn, bài văn
đáng yêu đạt hiệu quả cao. Vì thế giáo viên phải giúp học sinh tự bồi dỡng tình cảm,
cảm xúc, dạy các em biết yêu quy thiết tha bố mẹ, anh chị em, con đờng đi học, con
gà nuôi trong sân, con lợn nuôi trong chuồng , dạy tôn trọng từng quyển sách, cái
bút , những đồ vật hàng ngày, dạy các em có tinh thần hào hiệp giúp đỡ các bạn tàn
tật, những ngời gặp khó khăn Chính những tình cảm ấy sẽ tạo nên mạch ngầm làm
cho bài văn của các em sống động, lôi cuốn, hấp dẫn ngời đọc.

*Lớp thực nghiệm 5A
Lớp đối chứng 5B
*Lớp thực nghiệm 4A
Lớp đối chứng 4B
Cách thức:
Sau khi hớng dẫn học sinh làm văn với các cách cha sử dụng điểm mới của đề tài
- đối với lớp đối chứng. Lớp thực nghiệm đã sử dụng sáng kiến . Sau khi thực hiện
chơng trình dạy của từng đối tợng, học sinh đợc làm bài văn kiểm tra, thu đợc kết
quả nh sau:
Lớp Số học sinh
Xếp loại
Giỏi Khá T Bình Yếu
Lớp thực nghiệm
5A
20 40% 45% 15% 0
Lớp đối chứng
5B
20 10% 20% 45% 25%
Lớp thực nghiệm
4A
24 29,2% 54,7% 16,1% 0
Lớp đối chứng
4B
24 4,2% 21% 50% 24.8%
Kết quả cho thấy khi vận dụng phơng pháp rèn kĩ năng làm văn hay đạt hiệu qua
cao, tạo nên niềm say mê học văn cho học sinh, bồi dỡng tâm hồn cảm xúc với thế
giới xung quanh. Điều đó giúp cho học sinh học văn một cách thuận lợi, dễ dàng hơn
phần IV. Kết luận và đề xuất
Qua kết quả khảo sát, chúng tôi nhận thấy dạy rèn kĩ năng làm văn hay cho học
sinh tức là tổ chức cho học sinh biết cách nhìn nhận, khai thác sự vật một cách bài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status