Rèn kĩ năng làm văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
A. Phần mở đầu
I. Lí do chọn đề tài
Môn Tiếng Việt là môn học có vai trò quan trọng trong việc hình
thành và phát triển t duy cho ngời học. Môn học là công cụ phục vụ cho
sự phát triển trong giao tiếp, công cụ trong việc học tập các môn học
khác. Môn học phát triển t duy từ hệ thống kiến thức về tiếng Việt. Ngoài
ra, viết văn hay là cảm nhận cái hay, cái đẹp, khả năng cảm nhận thẩm mĩ
về thế giới xung quanh. Nó góp phần hoàn thiện nhân cách con ngời.
Trong các phân môn của môn Tiêng Việt, phân môn Tập làm văn là
kết quả tích tụ từ các phân môn khác bằng văn bản viết. Để có một bài
văn miêu tả hay, phát huy hết khả năng làm văn, học sinh phải biết cách
làm văn đi từ quan sát tỉ mỉ tinh tế đối tợng miêu tả, ghi chép những nội
dung quan sát, sử dụng vôn kiến thức đã học để lập dàn ý, sử dụng câu từ
để viết văn. Học sinh có khả năng trau chuốt lời văn giàu cảm xúc, giàu
hình ảnh, viết bài văn chặt chẽ logic. Muốn vậy, ngời giáo viên làm thế
nào để hớng dẫn tổ chức cho học sinh cách học, cách làm và hoạt động
tích cực, sáng tạo để có kĩ năng kĩ xảo trong quá trình làm bài. Tuy nhiên,
trong thực tế vấn đề dạy học sinh làm văn hay là một vấn đề khó. Thờng
thì học sinh mới biêt làm một bài văn đúng nhng còn gặp rất nhiều khó
khăn khi làm một bài văn hay. Làm thế nào để học sinh viết đợc một bài
văn miêu tả hay, tôi đã chọn đề tài: rèn kĩ năng làm văn hay thuộc thể
loại văn miêu tả trong chơng trình tiểu học.
II. Mục đích nghiên cứu
Rèn cho học sinh có kĩ năng làm văn hay về thể loại văn miêu tả trong
chơng trình tiểu học.
III. Phạm vi nghiên cứu:
Giới hạn :
Dạy phân môn tập làm văn, thể loại văn miêu tả trong chơng trình
tiểu học.
Đối tợng: Học sinh lớp 4-5
nhận xét, sự nhận xét thiên về cảm tính ...); góp phần nuôi dỡng mối quan
hệ và nên sự quan tâm của các em với thế giới xung quanh, trong đó quan
trọng nhất là với thiên nhiên, góp phần giáo dục tình cảm thẩm mĩ, lòng
yêu cái đẹp, góp phần phát triển ngôn ngữ ở trẻ ... Học văn miêu tả, học
sinh có thêm điều kiện tạo nên sự thống nhất giữa t duy và tình cảm, ngôn
ngữ và cuộc sống, con ngời với thiên nhiên, với xã hội, để khêu gợi tình
cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thợng, đẹp đẽ...Xu-khôm-lin-xki nhà giáo dục
Xô Viết cho rằng việc học sinh tiếp xúc với thiên nhiên, việc dạy các em
miêu tả cảnh vật nghe thấy, nhìn thấy ... là con đờng có hiệu quả nhất để
giáo dục các em và phát triển ngôn ngữ ở trẻ. Ông phê phán cách tổ chứ
học tập tách học sinh với thế giới xung quanh:
Ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc đời học sinh, chúng đã đóng
lại cánh cửa thế giới đẹp mê hồn của thiên nhiên xung quanh và em cũng
không đợc nghe thấy tiếng róc rách của dòng suối nhỏ, tiếng tí tách của
hạt ma xuân, tiếng hót của chim sơn ca. Em chỉ học thuộc lòng những câu
khô khan, không màu săc về tất cả những vật kì diệu đó.
Ông biểu dơng cách dạy để học sinh hòa mình vào thiên nhiên, miêu
tả thiên nhiên ... Hết tiết dạy này đến tiết dạy khác, tôi dắt trẻ đi vào
nguồn bất tận và vĩnh cửu của tri thức là thiên nhiên, vào vờn cây, vào
rừng, ra bờ sông và cánh đồng. Cùng đi với trẻ, tôi bắt đầu dạy các em
dùng ngôn ngữ để diễn đạt những sắc thái tinh tế của hiện tợng và sự vật.
Đó cũng là những cơ sở vô cùng quý giá để chúng ta thực hiện dạy học
văn một cách nhẹ nhàng, đi vào tâm hồn trẻ một cách tự nhiên, đạt hiệu
quả cao.
2
Rèn kĩ năng làm văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
Giải quyết vấn đề
Trớc tiên ta phải hiểu Thế nào là văn miêu tả?
Theo Đào Duy Anh trong Hán Việt Từ điển, miêu tả là lấy nét vẽ hoặc
câu văn để biểu hịên cái chân tớng của sự vật ra. Trong văn miêu tả, ngời
ta không đa ra những lời nhận xét chung chung, những lời đánh giá trừu tợng về sự vật: cái cặp này cũ, cái bàn này hỏng Văn miêu tả vẽ ra các
3
Rèn kĩ năng làm văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
sự vật, sự việc, hiện tợng, con ngời bằng ngôn ngữ một cách sinh động,
cụ thể. Văn miêu tả giúp ngời đọc nhìn rõ chúng, tởng nh mình đang xem
tận mắt, bắt tận tay. Tuy nhiên hình ảnh một cánh đồng, một dòng sông,
một con vật, một con ngời do văn miêu tả tạo nên không phải là bức
tranh chụp lại, sao chép lại một cách vụng về. Nó là sự kết tinh của những
nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà ngời viết đã thu lợm đợc khi
quan sát cuộc sống. Từ cách hiểu đó, chúng ta có thể xây dựng các bớc
hình thành kĩ năng làm văn hay ở thể loại văn miêu tả cho học sinh nh
sau:
I. Đọc hiểu đề:
*Đọc đề: Hiểu đợc đề yêu cầu gì? Trọng tâm của cần viết là cài gì?
Đầu tiên ta hớng dẫn học sinh phân tích đề: Cần phân biệt các yêu cầu
của đề:
Loại đề cùng thể loại nhng các yêu cầu về thời điểm, về không gian,
sự thay đổi về đối tợng khác nhau:
Chẳng hạn: a. Tả một ngời bạn thân của em.
b. Bạn em đang ngồi học bài. Em hãy tả bạn lúc đó
Hai đề này có điểm khác nhau: đề a, Tả hình dáng, tính cách của bạn
em trong phạm vi rộng). Đề b: Tả hình dáng, tính cách học bài của bạn
(trong phạm vi hẹp).
dụng một số trình tự quan sát sau:
-Trình tự không gian: Từ quan sát toàn bộ đến quan sát từng bộ phận
hoặc ngợc lại, quan sát từ trái sang phải, từ trên xuống dới , hay ngoài vào
trong hoặc ngợc lại ...
-Trình tự thời gian: Quan sát cảnh vật, cây cối... theo mùa trong năm,
quan sát sinh hoạt của con gà, con lợn theo thời gian trong ngày: buổi
sáng, tra, chiều...
d. Sử dụng các giác quan để quan sát:
Cần hớng dẫn học sinh sử dụng nhiều giác quan để quan sát, biết phối
hợp với các giác quan: Quan sát một cây đang ra hoa, cánh đồng lúa
chín..., Ngoài mắt ra cần biết huy động cả mũi (để phát hiện ra mùi hơng
lúa chín, mùi đất, mùi rơm ...), cả tai (để nghe, thu nhận những âm thanh
nh tiếng chim hót, tiếng gió rì rào, ...) rồi cũng có thể sử dụng giác quan
xúc giác để sờ, để nắm ...
Thu nhận các nhận xét do quan sát mang lại:
Khi học sinh trình bày kết quả quan sát, nên hớng dẫn các em trả lời
bằng nhiều chi tiết cụ thể, ngôn ngữ chính xác gợi hình ảnh. Hớng dẫn
các em quan sát cảnh cùng vui chơi và trả lời câu hỏi: Hai bạn học sinh
chơi câu nh thế nào? (Bạn này làm gì? Bạn kia làm gì?). Nếu các em nói
Hai bạn đang đá cầu. thì đây là một nhận xét sơ lợc, kết quả của sự
quan sát hời hợt hoặc thiếu phơng pháp. GV không bằng lòng với câu trả
lời này mà cần gơi ý thêm. Em hãy quan sát kĩ xem mỗi bạn đang làm
gì? Nếu học sinh trả lời Hai bạn đang đá câu. Một bạn đang đá cầu.
Bạn kia chuẩn bị đón quả cầu.. Câu trả lời chi tiết hơn nhng cha cụ thể.
GV gợi ý thêmEm quan sát và nhận xét rõ hơn động tác từng bạn để
học sinh có thể trả lời cụ thể Hai bạn đá cầu. Bạn bên trái hơi khom ngời
đá mạnh chân về phía trớc. Quả câu bay lên vạch đờng đi trong không
khí. Bạn bên phải hơi ỡn ngời, đa chân phải về sau chuẩn bị tung ra đón
quả cầu khi nó bay tới..
ở mức độ cao hơn giáo viên hớng dẫn học sinh đi vào trọng tâm cảnh
Chẳng hạn:
*Quan sát cây bàng:
- Em quan sát theo trình tự nh thế nào?
-Nhìn bao quát em thấy cây bàng nh thế nào.
Em dùng những câu văn nào để tả bao quát cây bàng?
- Nhìn thấy cành lá nh thế nào? (Vơn ra sao, hình dáng nh thế
nào? màu sắc, nghe âm thanh thế nào?...)
-Lá non, sự chuyển biến màu sắc của lá xảy ra nh thế nào?
Vào buổi sáng (chiều ...) màu sắc của lá thay đổi nh thế nào?
Quá trình quan sát cần xen lẫn vẻ đẹp của những tác động xung quanh
làm tôn thêm vẻ đẹp của đối tợng mình đang tả?
*Tả cảnh biển, vào mỗi thời điểm biển thay đổi nh thế nào? Điều gì tác
động đến sự thay đổi đó?...
Nếu khai thác từ một bài văn mẫu, học sinh nhận xét xem tác giả đã
quan sát bằng những giác quan nào? Quan sát nh thế nào? Chi tiết, hình
ảnh nào hay? Vì sao? Tác giả miêu tả theo trình tự nào?...
*Lu ý:
Cần có câu hỏi theo trình tự để HD HS quan sát
HS tập quan sát thực tế đối tợng.
Yêu cầu của câu hỏi gợi mở:
Câu hỏi cần theo trình tự dàn bài chung.
Câu hỏi càng tinh tế, càng chon lọc, tỉ mỉ thì càng phát huy khả năng
quan sát của các em. (Từ đó rèn cho HS kĩ năng, kĩ xảo quan sát tỉ mỉ,
tinh tế.)
III. Tích lũy vốn từ ngữ, vốn câu
6
Rèn kĩ năng làm văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
VD: Đặt câu Tả khuôn mặt của em bé có sử dụng từ láy. (Trong văn tả
ngời)
-Cách viết câu văn còn đơn điệu cha có hình ảnh:
Sử dụng hình ảnh so sánh , nhân hóa trong câu văn:
Lựa chọn một số chi tiết của đối tợng, yêu cầu HS viết câu văn có hình
ảnh so sánh, nhân hóa (Thờng trong văn tả sự vật), so sánh (trong văn tả
ngời, con vật).
Chẳng hạn:
Tả cái trống: Mặt trống, em sử dụng hình ảnh nhân hóa nh thế nào?
(gọi mời,....)
Đai trống đợc so sánh nh thế nào? (nh hai con rắn)
Tả cánh rừng: Cây cối đợc nhân hóa nh thế nào (chen chúc, lấn)
Cả cánh rừng mịn màng đợc so sánh nh thế nào? (nh
tấm thảm xanh)
7
Rèn kĩ năng làm văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
-Lu ý: Cho dù sử dụng từ láy, hay phép nhân hóa, phép so sánh cần
lựa chọn sử dụng hợp lí.
*Câu văn thể hiện đợc cảm xúc: nhiều lúc không nói lên tình cảm
bằng câu văn là mới thể hiện tình cảm. chẳng hạn: thể hiện tình cảm có
thể bằng câu hỏi để khen, để đánh giá sự vật, .
VD: Cảnh vật sao mà đẹp thế!
*Tồn tại bài viết của HS còn đơn điệu: Chỉ mới biết dùng câu đơn để
diễn tả sự vật, mỗi đối tợng chỉ dùng một câu ngắn gọn để tả.
Vậy khắc phục việc này nh thế nào? Khi đa ra một chi tiết, yêu cầu học
sinh có thể dùng một, hai, ba, câu văn để miêu tả đối tợng đó.
IV. Xây dựng dàn ý:
trình tự nào? Cách miêu tả ấy có gì hay?
8
Rèn kĩ năng làm văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
Từ đó học sinh rút ra dàn ý của bài văn miêu tả cây cối.
-Vận dụng kiến thức đã học thiết lập dàn ý sau khi quan sat.
Lập dàn ý cho bài văn miêu tả một loài cây hoặc một cây cụ thể mà
em yêu thích theo trình tự: tả lần lợt bộ phận của cây hoặc tả từng thời kì
phát triển của cây; sự biến đổi theo thời gian, theo mùa.
-Trình tự tả cây cối ta có thể tả một cây hoặc tả một loài cây:
VD :Tả bãi ngô (một loài cây)
Tả cây gạo (tả một cây)
Tả theo trình tự : Tả bộ phận của cây.
Hoặc tả quá trình phát triển của cây.
VD: Quan sat lập dàn ý.(Gợi ý bằng câu hỏi)
Đọc dàn ý của bài văn tả cây phợng dới đây:
Mở bài: Giới thiệu cây phợng (trồng ở đâu?, có đặc điểm gì đáng chú
ý nhất?)
Thân bài: Phối hợp tả vẻ đẹp của cây theo từng bộ phận của cây và
theo trình tự thời gian:
-Tả bao quát cây phợng (hình dáng chung của cây, thân cây, tán lá);
Cây phợng cao nh thế nào? Màu sắc và dáng dấp của thân cây? Hình dạng
của tán lá thế nào?...
-Tả chi tiết các bộ phận của cây(theo mùa): (Lá phợng nhú ra vào cuối
mùa xuân, xanh mơ màng, chớm hé lá đã phủ đầy cành, mỏng manh, dập
dờn nh sóng mỗi khi có làn gió thổi qua. Hoa phợng bắt đầu nở vào tháng
năm. Từng đám lớn màu đỏ rực nh lửa cháy trên cành. Hoa phợng phủ
đầy mặt đất mà vẫn còn tơi thắm Khi phợng kết trái, trái nh quả bồ kết
thành.
. Có lẽ những chú voi là động vật khổng lồ nhất sống ở trên cạn.
. Đây là một vũ khí cực kì lợi hại của chú ta đấy: nó nh hai mũi kiếm.
. Chiếc vòi này không phải là vô tích sự đâu nhé.
. Thật kì lạ: chiếc vòi dài trông thật ngộ nghĩnh, đu đa đu đa, thõng
xuống trớc mặt của voi ta là do mũi và môi trên biến đổi thành!
. Hơn nữa, giống nh nhấc một chiếc cần cẩu, một sợi dây cáp dẻo dai,
nó còn có thể nhấc bổng các vật nặng: những khúc gỗ, kiện hàng, thậm
chí cả một chiếc ô tô!
. Nó vừa là vòi phun nớc tắm mát, vừa thay thế cho đôi tay khéo léo
bứt những nhánh cây, ngọn cỏ để đa vào miệng.
+Luyện xây dựng mở bài, kết bài trong văn miêu tả con vật:
Học sinh xác định các sự khác nhau của các mở bài, kết bai sau đó rút
ra cách viết mở bài, cách viết kết bài.
Chẳng hạn:
Các mở bài sau đây có gì khác nhau?
a, Meo! Meo! Meo! Nghe tiếng kêu này chắc hẳn lũ chuột rất khiếp
đảm. Còn bé chắc bé nhận ngay ra tôi là ai.
b, Bà ngoại tôi nuôi một con mèo vàng. Nó tên là Ngố.
Từ đó rút ra cách mở bài gián tiếp, mở bài trực tiếp.
Đối với kết bài ta cũng có thể triển khai nh vậy.
Sau đây là một ví dụ:
Các kết bài sau đây khác nhau nh thế nào?
a, Nếu bạn có dịp đi xem xiếc thú, bạn sẽ tận mắt chứng kiến những
tài nghệ khéo léo của loài voi chúng tôi! Bé nhớ đến rạp xiếc và xem
chúng tôi biểu diễn nhé!
b, Voi là loài vật quý, rất có ích, cần phải đợc bảo vệ.
Từ đó rút ra cách kết bài mở rộng, kết bài không mở rộng.
Nhận xét xem cách kết bài nào hay hơn?
Sau khi học sinh đợc lĩnh hội những kiến thức cần thiết từ bài Luyên
Ví dụ: Khi tả mẹ em, học sinh có câu:
Mẹ em là ngời không chịu khó làm ăn gì cả.
-Cần sửa: Cách nhìn nhận về ngời mẹ cho học sinh: Từ công sinh thành,
chăm sóc cho ta từng miếng cơm manh áo, nuôi chúng ta nên ngời,
(giáo dục về tâm hồn)
Ngời mẹ luôn luôn là thần tợng, là hình ảnh đẹp trong mắt ta. Khi tả
chúng ta cần lựa chọn những chi tiết hình ảnh đẹp để miêu tả.
Khi so sánh hình ảnh đôi chân của bạn trong bài văn miêu tả ngời bạn:
Đôi chân của bạn nhỏ nh hai ống điếu .
Cách so sánh này khô khan, cha làm sinh động đợc hình ảnh. cần lựa
chọn hình ảnh so sánh phù hợp để làm cho chi tiết trở nên sinh động.
VIII. Làm bài văn cảm thụ văn học
Cảm thụ văn học chính là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những
điều đặc sắc, tế nhị và đẹp đẽ của từ, ngữ, đoạn, bài văn thơ.
Bài văn cảm thụ yêu cầu học sinh có kĩ năng làm bài mức cao hơn.
Trực quan không phải là đối tợng sự vật thật trong tự nhiên, mà đối tợng
miêu tả đợc thể hiện trong thơ, trong văn. Để quan sát đối tợng trong thơ
văn, ta phát huy trí tợng tợng, phải nắm bắt đợc nội dung, hình ảnh, chi
tiết của đối tợng sự vật bằng lời trong bài thơ. bài văn.
11
Rèn kĩ năng làm văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
Đối với dạng bài văn cảm thụ, trớc hết phải tìm hiểu tốt nội dung, tìm
hiểu về chi tiết hình ảnh hay, ta có thể sử dụng các bớc sau:
Sử dụng những câu hỏi để tìm hiểu nội dung bài thơ văn.
Tìm hiểu các từ ngữ trong bài văn. Cách sử dụng các từ ngữ có gì hay?
Trong bài văn, bài thơ em thích hình ảnh nào nhất? Vì sao?
Muốn học giỏi văn, học sinh phải có niềm đam mê đọc sách. để đọc
suốt đời đã góp phần nhiều nhất làm nên cái hay của đoạn thơ trên. Hình
ảnh đó cho ta thấy ngời mẹ giống nh ngọn gió thổi cho con mát, ru cho
con ngủ và đi vào giấc mơ. Ngọn gió ấy thổi cho con mát suốt cả cuộc
đời, nh là mẹ đã luôn làm việc cực nhọc để nuôi con khôn lớn. mong con
sung sớng và hạnh phúc. Sự so sánh đẹp đẽ và sâu sắc đó cho ta thấy thấm
thía hơn về tình mẹ con, làm cho đoạn thơ hay hơn.
Nắm vững yêu cầu về cảm thụ văn học, kiên trì rèn luyện từ dễ đến
khó nhất đinh các em sẽ có năng lực cảm thụ văn học.
12
Rèn kĩ năng làm văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
XIV. Bồi dỡng cho học sinh tâm hồn nhạy cảm , giàu cảm xúc; hớng dẫn học sinh tích lũy vốn hiểu biết về mọi mặt và kiên trì luyện
tập các kĩ năng làm bài văn:
Muốn có bài tập làm văn tốt, các em cần đợc bồi dỡng tâm hồn, cảm
xúc tích lũy vốn hiểu biết về cuộc sống, các tri thức văn hóa chung thông
qua môn học, đặc biệt phải kiên trì luyện tập các kĩ năng làm bài văn.
Làm một bài tập làm văn, các em trớc tiên bộc lộ trên trang giấy tình
cảm yêu ghét của mình đối với con đờng từ nhà đến trờng em thờng đi
học, quyển lịch nhà em, cây có bóng mát bên đờng, tngời bạn miệt mài
luyện tập thành tài ... Hãy đọc bài văn của một học sinh tả một em bé
đang tuổi tập nói, tập đi:
Dì của em có một bé trai tên Hoàng Huy. Bé Huy đang ở tuổi tập nói
và đã biết đi tập tễnh. Em không có em ruột nên thích bé.
Dáng bé tròn trịa với chiếc quần mặc bó sát đùi và cái áo thun ba lỗ.
Mái tóc tha, mềm mại. Hai gò má bé ửng hồng và phúng phính. Em thờng
nhéo vào đôi má ấy để nghe bé kêu lên giận dỗi.
Những khi em đi học về, Huy rất mừng vì đợc em cho kẹo kim. Bé
Huy thích chơi trò bán bánh. Bánh làm bằng đất in trong chén nhựa, đặt
Rèn kĩ năng làm văn miêu tả trong chơng trình tiểu học
nghĩa từ lộng lẫy hay do cha đợc ngắm kĩ những quả chuối trứng quốc,
những chiếc áo dài đẹp hập dẫn...? Có lẽ là vì lí do thứ hai. Nói cách khác
do thiếu hiểu biết về quả chuối nên đã có sự so sánh không chính xác.
Chính vì ngắm bé Huy và thờng xuyên luôn chơi với em nên Vân Khanh
mới có thể tìm ra ý thích của bé: chơi trò chơi bán bánh, mới biết rõ bánh
đợc làm bằng đất in trong cáo chén nhựa và dùng chiếc lá mận rụng để
đựng. Những hiểu biết cụ thể trên, Vân Khanh lấy ra từ những gì đã biết
về bé Huy nên sinh động hấp dẫn ngời đọc.
Giáo viên cần dạy cho học sinh biết quan sát, ghi nhớ cảnh vật, con
ngời xung quanh bằng nhiều hình thức nh tham qua, thông qua các môn
học, các hình ảnh, sự vật xung quanh ta, qua sách báo, truyền hình,...
Thực tế cho thấy, muốn có khả năng làm văn phải qua một giai đọa
dài luyện tập. Kĩ năng là kết quả của sự luyện tập (kĩ năng phát âm và nói,
kĩ năng viết chữ, kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết bài...). Kĩ năng là kết quả
của sự luyện tập, thực hành gian khổ, là sản phẩm của lòng kiên trì. Cần
làm cho học sinh thấm nhuần một quan niệm: muốn học có kết quả tập
làm văn phải chịu khó tập viết, tập nói, tập dùng từ đặt câu, viết đoan...
nhiều lần.
Phần IV.
Kết quả thực nghiệm
Phơng pháp:
Để thu dợc số liệu đáng tin cậy, chúng tôi tiến hành thực nghiệm trên
các lớp để kiểm tra khả năng làm bài văn hay của học sinh
Lớp 5A ; 5B: 4A; 4B Trờng tiểu học Kim Thái năm học 2010- 2011 .
Lựa chọn những nhóm đối tợng học sinh thành các nhóm lớp có trình độ
ban đầu tơng đơng nhau tạo thành lớp thực nghiệm; lớp đối chứng
*Lớp thực nghiệm 5A
-Giáo viên cần phối hợp các phơng pháp, hình thức dạy học linh hoạt,
sáng tạo để giúp học sinh rèn đợc kĩ năng làm văn tốt nhất.
-Mỗi giờ dạy của giáo viên cần nhẹ nhàng, tự nhiên tránh sự sắp đặt.
-Cần tạo cho học sinh thói quen ham tìm tòi quan sát tinh tế với sự vật
hiện tợng xung quanh ta, hoạt động vận dụng tích cực sáng tạo trong quá
trình học; cần chú trọng việc bồi dỡng học sinh có năng khiếu môn văn.
Trên đây là kinh nghiệm nhỏ trong việc rèn kĩ năng làm văn hay thuộc
thể loại văn miêu tả trong trờng tiểu học. Tôi rất mong muốn đợc hội
đồng khoa học ngành các cấp góp ý, bổ sung để bản kinh nghiệm đợc áp
dụng có hiệu quả cao.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Kim Thái, tháng 5 năm 2010
Ngời viết
15