MỤC LỤC
Nội dung
Mục lục
1. MỞ ĐẦU
- Lí do chọn đề tài
- Mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh xác định đúng yêu cầu của dạng
bài văn tả cảnh
Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh cách quan sát đối tượng miêu tả,
cách chọn lựa hình ảnh, nội dung miêu tả. Cung cấp vốn sống, vốn
hiểu biết về cảnh
Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh lập dàn ý
Biện pháp 4: Rèn kĩ năng dựng đoạn và hoàn thiện bài văn tả cảnh
Biện pháp 5: Xây dựng một số bài tập bổ trợ rèn kĩ năng sử dụng từ
ngữ và các biện pháp nghệ thuật tu từ
Biện pháp 6: Giúp học sinh tích lũy vốn từ dùng cho tả cảnh, làm
giàu trí tưởng tượng của các em khi tả
Biện pháp 7: Tổ chức tương tác giữa thầy và trò
Biện pháp 8: Rèn kĩ năng viết văn cho học sinh qua các môn học
khác
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
dục, bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
- Kết luận
- Kiến nghị
1. MỞ ĐẦU
- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong chương trình Tiểu học, môn Tiếng việt có nhiệm vụ hình thành và
phát triển cho học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp
trong các môi trường của lứa tuổi. Việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện
tư duy, cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên, con
người của Việt Nam và nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình
thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình
thành con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Môn Tiếng Việt gồm nhiều phân môn khác nhau như Tập đọc, Luyện từ
và câu, Kể chuyện, Tập viết, Chính tả, Tập làm văn. Song khó hơn cả đối với
người dạy cũng như đối với người học là phân môn Tập làm văn. Tập làm văn là
một phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học Tiểu học, nó không chỉ
giúp học sinh hình thành các kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết mà còn rèn cho học
sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp và đặc biệt còn hình thành
cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp của con người mới hiện đại và năng động.
Dạy Tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh trong
thực tế vốn có của nó với cảm xúc thực của các em.
Tập làm văn lớp 5 gồm nhiều nội dung, một trong những nội dung chính
của chương trình Tập làm văn 5 là văn miêu tả. Tả cảnh là một kiểu bài khó vì
học sinh chưa có khả năng quan sát tinh tế, chưa cảm nhận hết được vẻ đẹp của
cảnh hay những thay đổi của cảnh, không biết dựa vào cảm xúc của mình để làm
cảnh đó trở nên đẹp hơn, sinh động hơn, gần gũi hơn. Bởi vậy, làm thế nào để
cho học sinh làm văn hay và có hiệu quả thì lại là một vấn đề rất khó khăn, cần
phải suy nghĩ và dày công nghiên cứu của những người làm công tác giáo dục.
Từ thực tế giảng dạy Tập làm văn phần tả cảnh, tôi nhận thấy bản thân
người giáo viên là người hướng dẫn đôi khi cũng cảm thấy lúng túng, bí từ và
không biết phải hướng dẫn thế nào để học sinh có thể viết được bài văn hay, có
hình ảnh, có cảm xúc. Một số tài liệu như sách giáo khoa, sách giáo viên, sách
thiết kế thì hướng dẫn chung chung, còn một số sách khác như văn mẫu lại chỉ
của bản thân và học sinh thông qua cách dạy và cách học.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NHGIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
- Khái niệm về văn tả cảnh
Văn tả cảnh là loại văn dùng lời với những hình ảnh, cảm xúc làm cho người
đọc, người nghe có thể hình dung được rõ nét và cụ thể về một cảnh vật nào đó
xung quanh ta.
- Các yếu tố tác động đến khả năng làm văn tả cảnh của học sinh
+ Óc quan sát : Trước khi tả một bài văn tả cảnh nào đó học sinh phải
được quan sát cảnh đó qua thực tế, qua phim ảnh , sau đó mới nâng cao mức độ
là học sinh tưởng tượng
+ Vốn từ : Học sinh phải giàu vồn từ, có vốn hiểu biết về từ ngữ, ngữ
pháp, khả năng sử dụng câu, từ...
+ Khả năng dạy học của giáo viên : Giáo viên có phương pháp dạy học
phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, biết khởi nguồn cảm hứng văn cho
học sinh, tránh cho các em sa vào cái khuôn mẫu riêng cũng như lệ thuộc vào
các bài văn mẫu...
- Các căn cứ của vấn đề
+ Căn cứ vào mục tiêu, chương trình Tiếng Việt lớp 5 – bậc Tiểu học.
+ Căn cứ vào các tài liệu tham khảo về phương pháp dạy học môn Tiếng
Việt
+ Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học.
+ Căn cứ vào tình hình thực tế học sinh của nhà trưòng.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ở trường
Tiểu học Nga Lĩnh
2.2.1.Về phía giáo viên
Qua nghiên cứu, trao đổi với một số đồng nghiệp và thăm lớp, dự giờ, tôi
thấy hầu hết các đồng chí giáo viên đã quan tâm đến việc dạy học phân môn Tập
làm văn. Các đống chí đã đầu tư nghiên cứu nhưng vẫn còn tồn tại sau:
- Một số đồng chí chưa chủ động, sáng tạo trong việc dạy học, chưa khơi
Học sinh
27 em
Điểm 9-10
SL
%
5
18,5
Điểm 7- 8
SL
%
7
25,9
Điểm 5- 6
SL
%
9
33,3
Điểm dưới 5
SL
%
6
22,3
thể là liệt kê các chi tiết.
Văn tả cảnh mang tính chất thông báo thẩm mĩ, dù tả bất kì đối tượng nào,
dù có bám sát thực tế đến đâu thì văn tả cảnh không bao giờ là sự sao chép, chụp
ảnh máy móc những sự vật hiện tượng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng
tượng, đánh giá hết sức tinh tế và phong phú. Chẳng hạn khi tả trăng, nhà thơ
Trần Đăng Khoa cảm nhận một cách tinh tế bằng tình yêu của tâm hồn trẻ thơ,
rất đỗi hồn nhiên trong sáng: Trăng hồng như quả chín/ Lơ lửng mà không rơi…
hay Trăng tròn như quả bóng/ Bạn nào đá lên trời. Còn đối với nhà văn Nam
Cao thì vầng trăng và ánh sao lại được nhìn nhận theo một cách hoàn toàn khác:
“Trăng là cái liềm vàng giữa cánh đồng đầy sao, là cái đĩa bạc trên cái thảm
nhung da trời. Trăng tỏa rộng xuống trần gian. Trăng tuôn suối mát để những
tâm hồn khao khát ngụp lặn”.
Như vậy, để tả hay, tả đúng thì phải tả chân thật, giáo viên cần uốn nắn để
học sinh tránh thái độ giả tạo, giả dối; bệnh công thức sáo rỗng.
Tóm lại: Mỗi cảnh đều nằm trong một khung không gian và thời gian, đó
là cái nền cho cảnh vật được miêu tả. Các em cần nêu được khung cảnh chung
này, nhưng đặc biệt cần tập trung tả nét tiêu biểu của cảnh, làm cho nó khác với
cảnh khác. Khi tả cảnh các em có thể lồng tả người, tả vật trong cảnh để cho bài
văn thêm sinh động.
1.2. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề
Bài văn của học sinh được viết theo một đề bài cụ thể, nên yêu cầu hàng
đầu là các em phải viết đúng đề bài, đúng thể loại. Như vậy, để làm được bài
văn hay giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh thực hiện được những công việc
sau:
- Đọc kĩ đề: GV lưu ý học sinh có thể dùng bút chì gạch chân các từ ngữ
trọng tâm của đề bài.
- Phân tích đề: Một đề bài đưa ra cho học sinh viết thường ẩn chứa đến 3
yêu cầu: yêu cầu về thể loại (kiểu bài), yêu cầu về nội dung, yêu cầu về trọng
tâm.
Ví dụ:
- Cần xác định vị trí quan sát, thời điểm quan sát, trình tự và nội dung
quan sát.
- Lựa chọn điểm đặc trưng, đặc biệt, tiêu biểu của đối tượng để quan sát
thật kĩ.
- Quan sát và so sánh điểm giống nhau và khác nhau với các đối tượng
khác có ở xung quanh bằng sự liên tưởng hay quan sát trước đó.
- Quan sát hình ảnh, hoạt động và những tác động của đối tượng đến các
sự vật xung quanh.
- Có thể ghi nhớ trong đầu, hoặc ghi chép cẩn thận, đầy đủ vào sổ sách.
- Có thể quan sát trực tiếp hoặc bằng tranh, ảnh, hồi tưởng bằng trí nhớ.
- Quan sát phải luôn gắn với việc tìm ý và tìm từ ngữ để diễn tả.
- Lập bảng quan sát và yêu cầu các em ghi kết quả quan sát vào bảng.
Một số ví dụ:
- Hướng dẫn học sinh quan sát và hoàn thành bảng quan sát khi tả dòng
sông quê hương:
- Sông rộng mênh mông, trải dài…
- Thuyền bè đi lại trên sông tấp nập…
Mắt thấy
- Sóng nhấp nhô…
(Thị giác)
- Bờ bên phải: bãi ngô xanh biêng biếc…
- Bờ bên trái: Bãi cát trải dài, trắng xoá…
- Mặt trời, mặt trăng soi bóng xuống mặt nước…
6
- Mặt sông loang loáng, lấp lánh…
- Lũ trẻ bơi lội tung tăng…
- Ánh đèn hai bên bờ tạo thành vết sáng loang loáng.
- Sóng vỗ rì rào, soàn soạt…
- Đoàn thuyền no bụng cá nối đuôi nhau cập bến.
Tối
- Trăng lên, ánh trăng toả xuống mặt sông.
- Mặt sông như trải rộng mênh mông, bàng bạc một màu.
- Ánh đèn hai bên bờ tạo thành vệt sáng lung linh.
- Tiếng gõ lanh canh của thuyền đánh cá đêm, tiếng hát
của ngư dân làm dòng sông thêm đẹp, thêm sinh động.
- Khi dạy cho học sinh tả cánh
đồng quê em, giáo viên yêu cầu
học sinh tự quan sát cánh đồng
làng mình hoặc tổ chức cho học
sinh đi tham quan thực tế theo
hình thức ngoại khoá để các em
tận mắt quan sát cánh đồng, cây
lúa, ngô, con trâu, con người có
những đặc điểm, hoạt động gì ?
Cánh đồng lúa làng Đồng Đội – xã Nga Lĩnh
7
- Những cảnh định tả mà nơi ở của học sinh không có, các em không thể
quan sát trực tiếp được, giáo viên sưu tầm một số tranh ảnh cho học sinh quan
sát để giúp các em có vốn kiến thức thực tế hơn. VD: Để tả cảnh dòng sông quê
em, giáo viên cho học sinh quan sát tranh, ảnh dòng sông và dùng câu hỏi khai
thác. ( Sông chảy thẳng hay quanh co, uốn lượn ? Lòng sông rộng hay hẹp ?
Nước sông nhiều hay ít ? Màu sắc của nước sông như thế nào ? Trên mặt sông
có những hình ảnh gì nổi bật ? Cảnh hai bên bờ sông có gì làm em thích
thú ?...........)
trong khi viết văn miêu tả cảnh vật đó.
Do các em chưa hiểu rõ về cảnh nên chưa thể tự tin viết được một bài văn
hay. Muốn khắc phục tình trạng trên giáo viên cần làm những việc sau:
+ Tích cực yêu cầu học sinh đi quan sát thực tế các cảnh vào các thời điểm
khác nhau, ở các vị trí khác nhau.
+ Bổ sung vốn kiến thức về cảnh qua các tiết Tiếng Việt, có dữ liệu đưa ra
liên quan đến cảnh vật, qua tiết địa lý, khoa học…
+ Cho học sinh xem tổng quan về cảnh qua kênh thông tin truyền hình.
+ Thường xuyên bổ khuyết vốn sống của học sinh ở mọi nơi mọi lúc.
+ Hướng dẫn học sinh lập từ điển cá nhân về các cảnh vật được quan sát
và yêu thích.
Biện pháp 3: Hướng dẫn học sinh lập dàn ý
- Để làm một bài văn đúng trình tự, đầy đủ nội dung, hay về ý tứ lời văn,
đẹp về hình ảnh sống động, dùng từ viết câu chính xác, rõ ràng... đòi hỏi học
sinh phải có vốn kiến thức về từ ngữ, kiến thức về câu, về cách xây dựng văn
bản.
- Khi học sinh đã được cung cấp những từ ngữ miêu tả rồi, giáo viên cần tổ
chức, hướng dẫn cho các em lập dàn ý, lựa chọn sắp xếp ý để miêu tả. Mục đích
xây dựng dàn ý là giúp học sinh xác định được đúng yêu cầu của từng phần: mở
bài, thân bài, kết bài, xác định thể loại và đối tượng miêu tả để tránh tình trạng
học sinh viết tràn lan, lạc đề và miêu tả không trọng tâm.
- Hướng dẫn học sinh lập dàn ý chung:
Bài văn tả cảnh thường có 3 phần:
+ Mở bài : Giới thiệu bao quát về cảnh sẽ tả
+ Thân bài: Tả từng phần của cảnh ( nếu tả theo trình tự không gian) hoặc
sự thay đổi của cảnh theo thời gian( nếu tả theo trình tự thời gian)
+ Kết bài : Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ về cảnh được tả.
+ Hướng dẫn học sinh áp dụng để lập dàn ý chi tiết.
Sau khi có trong tay dàn ý chung cho cho bài văn, học sinh sẽ áp dụng để
lập dàn ý chi tiết. Dàn ý này cũng chính là cái sườn sát nhất cho học sinh viết
Ví dụ 2: Dàn bài tả buổi sáng trong vườn cây.
* Mở bài:
Gần nhà em có khu vườn của Bác Bảy trồng nhiều loại cây ăn trái. Sáng
nay chủ nhật em ra thăm khu vườn và trò chuyện với Bác Bảy.
* Thân bài: Tả từng bộ phận của cảnh vật.
+ Khu vườn rộng khoảng 1 hecta.
+ Xung quanh được rào bằng dây thép quét sơn trắng nổi bật giữa màu
xanh của cây lá.
+ Nhiều loại cây được trồng theo hàng lối, quả sai, cành lá xanh mượt óng
lên dưới ánh nắng ban mai.
+ Chim chóc làm tổ trong vườn hót líu lo.
+ Vài người làm vườn đang tỉa lá, bắt sâu, vun gốc.
* Kết bài:
Em rất thích vào chơi khu vườn vào những buổi sáng như thế vì nơi đây
có không khí trong lành, được Bác Bảy giải thích ích lợi từng loại cây…
Biện pháp 4: Rèn kĩ năng dựng đoạn và hoàn thiện bài văn tả cảnh
4.1. Rèn kĩ năng dựng đoạn trong bài văn tả cảnh
Dựng đoạn văn chính là cách sắp xếp các lời văn diễn đạt sao cho hợp lý,
logic, chặt chẽ, mạch lạc. Học sinh thường rất lúng túng không biết tả cảnh cụ
thể là tả cảnh gì? Tả như thế nào? Theo trình tự từ đâu? ... Các em thường kể lể
liệt kê cảnh một cách lộn xộn, tràn lan, không tạo được ấn tượng cho người đọc
về cảnh. Trong đoạn văn của các em có thể đủ ý theo nội dung đã quan sát
nhưng các em chưa biết cách sắp xếp sao cho đoạn văn có lôgic về nội dung,
chưa có các từ nối để liên kết các câu với nhau. Vậy chúng ta phải làm như thế
nào để khắc phục tình trạng này. Trước hết, tôi hướng cho học sinh hình dung
mỗi một cảnh nhỏ sẽ viết thành một đoạn văn trọn vẹn. Trong đoạn văn đó sẽ đi
từ khái quát đến cụ thể. Bao giờ câu đầu đoạn cũng là câu miêu tả khái quát
cảnh đó.
Sau câu tả khái quát là một loạt câu miêu tả cụ thể theo trình tự từ gần đến
xa ( hoặc ngược lại) theo tầm mắt. Trong quá trình miêu tả, cần lưu ý cho học
a. Xây dựng phần mở bài
Chương trình dạy tập làm văn lớp 5 có hướng dẫn học sinh mở bài khi
miêu tả cảnh như: Mở bài gián tiếp và trực tiếp. Tuy nhiên học sinh mới hiểu
phần lí thuyết mà chưa biết cách làm thế nào cho hay cho sinh động và ở hai
kiểu mở bài đó có những cách mở bài nào. Đây chính là nguyên nhân khiến cho
các em vô cùng lúng túng và mất nhiều thời gian để suy nghĩ trong khi đã sẵn
sàng viết phần thân bài.
Mở bài là phần đầu tiên, vị trí của nó bao giờ cũng nằm ở phần đầu bài, là
phần trước nhất đến với người đọc, gây cho người đọc cảm giác, ấn tượng về bài
viết, tạo ra âm hưởng chung cho toàn bài. Phần này có vai trò và tầm quan trọng
khá đặc biết vì một mở bài gọn gàng, hấp dẫn sẽ tạo được hứng thú cho người
đọc và báo hiệu một nội dung tốt.
Để học sinh làm tốt phần mở bài giáo viên cần cho học sinh hiểu thế nào
là mở bài trực tiếp, gián tiếp, ưu nhược điểm của từng loại.
* Mở bài trực tiếp: là giới thiệu ngay với người đọc cảnh mà mình sẽ miêu tả.
- Ưu điểm: Cách trình bày nhanh gọn, tự nhiên, giản dị, dễ tiếp nhận và
thích hợp với bài viết ngắn.
- Nhược điểm: Nếu mở bài không khéo sẽ gây cảm giác khô khan, ít hấp
dẫn.
Với kiểu mở bài này giáo viên có thể hướng dẫn học sinh cách vào bài
trực tiếp như sau:
+ Mở bài bằng một câu cảm nhận xét, đánh giá về cảnh.
Ví dụ : Ôi, dòng sông Hồng mới đẹp làm sao !
11
+ Mở bài bằng cách nêu cảnh miêu tả và vị trí, thời gian quan sát cảnh.
Ví dụ: Chiều qua, em cùng các bạn ra bờ sông Hồng chơi. Cảnh ở đó rất đẹp.
* Mở bài gián tiếp: là nói chuyện khác có liên quan rồi dẫn vào giới thiệu đối
tượng mình định tả. Có một số cách mở bài gián tiếp như:
Nước gương trong soi bóng những hàng tre
thơ, câu hát …về đối
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
tượng
Toả nắng xuống dòng sông lấp loáng...”
Mỗi khi đọc những câu thơ trên, em không khỏi
bồi hồi khi nghĩ về dòng sông Hồng yêu dấu của quê
hương, nơi giữ biết bao kỉ niện đẹp đẽ thời thơ ấu.
Mỗi một đề văn giáo viên cần khéo léo đặt các câu hỏi để học sinh suy
nghĩ và tìm ra cách mở bài hay nhất độc đáo nhất.
b. Xây dựng phần thân bài
- Có thể gồm một số đoạn văn, là toàn bộ nội dung miêu tả được viết theo
từng phần, từng ý đã sắp xếp khi quan sát, khi chuẩn bị bài. Trong đó, thể hiện
được hình ảnh về đối tượng miêu tả với ngôn từ và các biện pháp nghệ thuật mà
người viết vận dụng để tả.
- Giáo viên cần hướng dẫn học sinh:
+ Bám sát dàn bài chi tiết.
12
+ Dùng từ gợi tả, gợi cảm và các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa.
+ Dùng từ đặt câu có liên kết và các biện pháp tu từ về câu.
+ Đoạn văn trình bày đúng cách có liên kết đoạn.
+ Sử dụng đúng các dấu câu.
Để học sinh làm tốt phần thân bài, giáo viên cần hướng dẫn học sinh viết
theo một trình tự nhất định đã được chọn khi lập dàn bài.
c. Xây dựng phần kết bài
Nếu như mở bài như một lời thân ái mời chào của chúng ta đối với khách
tới thăm nhà thì kết bài là lời tạm biệt đầy tình cảm mến yêu, nó khép lại trước
mắt người đọc những cảm xúc tràn trề, những hình ảnh đẹp đẽ mà các em đã
Ví dụ: Đề bài Tả khu vườn vào buổi sáng
Học sinh có thể viết kết bài mở rộng như sau:
Bạn thấy khu vườn nhà mình thế nào ? Rất tuyệt vời
Nêu câu hỏi
phải không ? Sáng nào cũng vậy, cứ ra ngắm khu vườn
mình lại tìm thấy một cảm giác thật dễ chịu, sảng khoái.
13
Mình sẽ chăm sóc cho khu vườn ngày thêm đẹp, cho cây
cối quanh năm tươi tốt, tràn trề sức sống.
Bản hoà tấu có tiếng chim ca hát, có tiếng lá xào xạc,
tiếng cựa mình của cây cùng với cảnh vui chơi nhảy nhót
Nêu một ý tưởng của nắng của gió, của ong bướm đã làm khu vườn thật
đẹp, thật lộng lẫy, không gian thật khoáng đạt, trong lành.
Yêu biết mấy khu vườn nhà em.
Khu vườn không rộng, không lộng lẫy những sắc màu
của các loài hoa nhưng khi đứng mgắm nhìn nó, em luôn
Đưa ra một lời
có một cảm giác thật dễ chịu và thoải mái. Ngày qua
bình
ngày, nó cứ bình yên hiền lành sống vui bên nắng gió, bên
gió bên tiếng chim ca hát. Yêu biết mấy khu vườn nhà
em !
Tuy chỉ là một phần nhỏ trong bài nhưng kết bài rất quan trọng bởi đoạn
kết bài thể hiện được rất nhiều tình cảm của người viết với đối tượng miêu tả.
Thực tế cho thấy, học sinh thường hay liệt kê cảm xúc của mình làm phần kết
luận khô cứng, gò bó, thiếu tính chân thực. Chủ yếu các em thường làm kết bài
không mở rộng. Kết bài như vậy không sai nhưng chưa hay, chưa hấp dẫn người
đọc. Vì vậy giáo viên cần phải gợi ý để học sinh biết cách làm phần kết bài mở
a. Bài tập bổ trợ rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ
* Mục đích:
- Qua bài tập , học sinh nhận thấy tác dụng của việc sử dụng các từ ngữ
gợi tả, gợi cảm.
- Học sinh biết cách chọn từ và sử dụng các từ ngữ gợi tả, gợi cảm…phù
hợp với văn cảnh.
* Một số kiểu bài tập
Bài 1: Tìm các từ ghép, từ láy chỉ về:
a. Độ rộng
b. Độ cao
c. Độ sáng
d. Màu sắc của cây cối.
Bài 2: Chọn từ ngữ thích hợp điền vào chỗ trống để câu văn diễn tả cụ thể, sinh
động:
a. Trên vòm cây, bầy chim hót….
b. Đàn cò bay…trên cánh đồng rộng…
c. Ngọn núi cao…nổi bật giữa bầu trời xanh...
d. Những tàu lá chuối …. trong gió.
Bài 3: Thay các từ in nghiêng dưới đây bằng các từ ngữ gợi tả, gợi cảm.
a. Vầng trăng tròn quá, ánh trăng trong xanh tỏa khắp khu rừng.
b. Gió bắt đầu thổi mạnh, lá cây rơi nhiều, từng đàn cò bay nhanh theo
mây.
c. Tiếng sấm sét vang lên kèm theo ánh chớp sáng ngang bầu trời.
b. Bài tập rèn kĩ năng viết câu có hình ảnh
* Mục đích : Rèn kĩ năng sử dụng câu tả, sử dụng các biện pháp tu từ trong viết
văn để tạo ra những câu văn có hình ảnh sinh động
* Một số kiểu bài tập
Bài 1: Mở rộng thành phần câu để được câu văn có hình ảnh hơn.
a. Lá rơi.
b. Biển đẹp.
Tôi yêu thường vẫn gọi
Mặt trời xanh của tôi.
Theo em, khổ thơ trên đã bộc lộ tình cảm của tác giả đối với rừng cọ của
quê hương như thế nào?
Bài 3:Trong bài văn Phong cảnh Hòn Đất nhà văn Anh Đức tả cảnh Hòn Đất
như sau:
Xa quá khỏi Hòn Đất một đỗi là bãi tre. Thấp thoáng những cây tre đằng
ngà cao vút, vàng óng, những cây tre lâu nay vẫn đứng đấy, bình yên và thanh
thản, mặc cho bao nhiêu năm tháng đã đi qua, mặc cho bao nhiêu gió mưa đã
thổi tới. Sau rặng tre ấy, biển cả còn lâu đời hơn, vẫn đang giỡn sóng mang một
màu xanh lục.
Theo em ngoài vẻ đẹp của cảnh vật ( tre đằng ngà, biển cả ) đoạn văn còn
cho ta thấy vẻ đẹp gì của cuộc sống quê hương ? Biện pháp nghệ thuật nào đã
giúp em nhận biết được điều đó ?
Biện pháp 6 : Giúp học sinh tích lũy vốn từ dùng cho tả cảnh, làm giàu trí
tưởng tượng của các em khi tả
a. Tích lũy vốn từ
- Vốn từ được tích lũy từ nhiều nguồn: trong giao tiếp hàng ngày; qua đọc
sách, báo; qua xem, nghe truyền hình, truyền thanh; trao đổi với bạn bè; thầy cô
giáo cung cấp…
- Ghi chép lại dùng để miêu tả. Ví dụ như:
+ Các từ dùng để miêu tả cây cối: xanh mướt, xanh rì, xanh mơn mởn,
xanh non, xanh lá mạ, xanh biết, xanh lục, …. rung rinh, um tùm, sum suê,
khẳng khiu, rực rỡ, mỡ màng, vàng úa, xơ xác, trơ trụi, lác đác, xào xạc, lả tả,…
+ Các từ ngữ dùng để miêu tả âm thanh: vi vu, ầm ầm, đì đùng, xoèn xoẹt,
lách cách, cót két, phành phạch, râm ran, ríu rít, rào rào, tí tách, đồm độp, loong
boong, loảng xoảng,…
+ Các từ dùng để tả mùi vị: thơm thoang thoảng, ngòn ngọt, chan chát,
nồng nồng, cay xè, ngai ngái, hăng hắc, dìu dịu, ngào ngạt, sực nức, ngọt mát,…
+ Cung cấp và khuyến khích học sinh tích luỹ vốn từ ngữ khi học, đọc các
+ So sánh đối tượng được miêu tả với các đối tượng khác tương đồng.
Đây là một trong những “bí quyết” để viết văn miêu tả nói chung, tả cảnh nói
riêng được hay hơn. Chẳng hạn, khi tả trăng ta có thể so sánh với những sự vật
như con thuyền, cánh diều, quả bóng, cái đĩa, … Tả chiếc lá bàng ta có thể so
sánh với cái quạt, chiếc bánh đa, … Hay khi tả những chùm hoa phượng ta có
thể so sánh với những đốm lửa hồng bập bùng; tả những quả bàng xanh tại sao
ta lại không so sánh với những chú rùa con bé xíu…
+ Phân tích đánh giá cái hay, cái đẹp có ở đối tượng.
+ Ghi chép lại những gì mà mình đã tưởng tượng để lựa chọn, chắt lọc
đưa vào bài viết của mình.
+ Nhân hóa hay tự nhiên hóa một vài hình ảnh đặc sắc ở đối tượng.
Ví dụ: “Máy tuốt to lù lù đững giữa sân kho, kêu tành tạch. Người ta nhét
những ôm lúa vào miệng nó. Nó nhằn nhằn một thoáng rồi phì rơm ra”. (tả một
ngày mùa).
Biện pháp 7: Tổ chức cho học sinh được tương tác trong tiết tập làm văn.
7.1. Tổ chức tương tác giữa trò và trò
Trong giờ tập làm văn, giáo viên cần chia nhóm phù hợp cho từng hoạt
động học, từng đơn vị kiến thức kĩ năng. Hình thành cơ cấu nhóm phải linh hoạt
phù hợp với tất cả mọi đối tượng học sinh nhằm tạo cơ hội nhiều hơn cho những
em yếu, trung bình được hoạt động. Từ đó, vừa vun đắp cho các em khả năng
17
thích nghi giao tiếp trong mọi hoàn cảnh, vừa bồi đắp tình yêu, lòng say mê văn
học, lòng tự hào về tiếng Việt Việt, xây dựng được lòng ham thích đọc sách báo
cho học sinh. Đặc biệt chú trọng việc tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm trong
quá trình quan sát, tìm ý và lập dàn ý để chọn ra những nét tiêu biểu của cảnh
và tả đúng theo trình tự. Tổ chức cho học sinh thảo luận để tìm ra các câu văn
hay, các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong những đoạn văn, bài văn hay
của các bạn hoặc trong các bài văn mẫu để học tập.
Với đề văn tả cảnh cánh đồng, giáo viên tương tác với học sinh bằng hệ
thống câu hỏi sạu:
- Cánh đồng em tả ở đâu ?
- Em quan sát cánh đồng trong hoàn cảnh nào ?
- Cánh đồng đó có rộng không, chạy từ đâu tới đâu ?
- Cánh đồng đang trồng lúa vụ nào và những loại hoa màu nào ?
- Khi bình minh lên cánh đồng đẹp như thế nào? Giống lúa gì và đang ở
thì nào?
18
- Khi mặt trời lên cao, cánh đồng như thế nào? Từng thửa ruộng ra sao ?
- Có người làm việc ngoài đồng không ? Họ đang làm gì ? Có cây bóng
mát không ? Có chim chóc không ? Chúng ở đâu và đang làm gì ?
- Cảm nghĩ của em về cảnh vật và cuộc sống nơi đồng quê ?
Đặc biệt ở tiết trả bài tập làm văn, tổ chức tương tác giữa thầy và trò rất
quan trọng, giúp các em sửa chữa lỗi, rút kinh nghiệm cho bài viết lần sau và
học tập các bạn những cách viết hay để vận dụng vào các bài văn. Tuy nhiên, ở
tiết học này một số giáo viên thường làm qua loa, không chữa kĩ càng, bớt xén
thời gian để dạy môn khác. Vậy, muốn có được tiết trả bài có hiệu quả giáo viên
cần phải:
- Chấm bài cẩn thận, kĩ càng; chữa từng lỗi nhỏ trong bài viết cho học
sinh.
- Ghi lại các lỗi của học sinh theo từng loại như: lỗi về cách dùng từ, đặt
câu; lỗi diễn đạt; lỗi chính tả;… ghi lại các từ, các câu hay, đoạn văn hay.
- Nhận xét ưu điểm, nhược điểm trong bài làm của học sinh.
- Chữa lỗi cho học sinh theo các lỗi giáo viên đã tổng hợp khi chấm bài.
- Đọc những câu văn hay, đoạn văn hay để học sinh học tập.
- Trả bài và cho học sinh tự sửa lỗi và viết lại một đoạn cho đạt yêu cầu.
Biện pháp 8: Rèn kĩ năng viết văn cho học sinh thông qua các môn học khác
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân và đồng nghiệp
Trong quá trình nghiên cứu, áp dụng những kinh nghiệm vào việc dạy học
văn tả cảnh, tôi đã tiến hành một số giờ dạy ở lớp 5B đồng thời ra đề kiểm tra
vào cuối tháng 3 thu được kết quả rất khả quan:
Điểm 9- 10
Điểm 7- 8
Điểm 5- 6
Điểm dưới 5
Sĩ số
Học sinh
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
0
27 em
12
44,4
9
33,3
6
22,3
0
Sau một thời gian suy nghĩ và áp dụng những biện pháp trên, tôi nhận
thấy các em có rất nhiều tiến bộ. Từ việc ngại viết văn các em đã hứng thú làm
Mai Thị Lan
Nguyễn Thị Thuỷ
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tuyển tập 150 bài văn hay lớp 5. Tác giả: Thái Quang Vinh, Trần Đức
Niềm, Trần Lê Thảo Linh, Lê Thị Nguyên
2. Những bài văn chọn lọc 5. Tác giả: Phạm Thị Phương Lan
3. Luyện tập làm 5. Tác giả: Đặng Mạnh Thường
4. Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5. Tác giả: Trần Mạnh Hưởng, Lê
Hữu Tỉnh
21