Một số biện pháp rèn kỹ năng làm văn tả cảnh cho học sinh lớp 5 - Pdf 56

MỤC LỤC
Nội dung
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
3.1. Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh xác định đúng yêu cầu của
dạng bài văn tả cảnh
3.2. Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh cách quan sát đối tượng miêu
tả, cách chọn lựa hình ảnh, nội dung miêu tả. Cung cấp vốn sống,
vốn hiểu biết về cảnh
3.3. Giải pháp 3: Hướng dẫn học sinh lập dàn ý
3.4. Giải pháp 4: Rèn kĩ năng dựng đoạn và hoàn thiện bài văn tả
cảnh
3.5.Giải pháp 5: Xây dựng một số bài tập bổ trợ rèn kĩ năng sử dụng
từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật tu từ
3.6.Giải pháp 6: Giúp học sinh tích lũy vốn từ dùng cho tả cảnh,
làm giàu trí tưởng tượng của các em khi tả
3.7. Giải pháp 7: Tổ chức tương tác giữa thầy và trò
3.8. Giải pháp 8: Rèn kĩ năng viết văn cho học sinh qua các môn
học khác
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị

Tiểu học. Vì môn Tiếng việt có nhiệm vụ hình thành và phát triển cho học sinh
các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường của
lứa tuổi. Việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện tư duy, cung cấp cho học
sinh những kiến thức sơ giản về xã hội, tự nhiên, con người của Việt Nam và
nước ngoài. Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự
trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành con người Việt Nam
xã hội chủ nghĩa.
Môn Tiếng Việt gồm nhiều phân môn khác nhau như Tập đọc, Luyện từ và
câu, Kể chuyện, Tập viết, Chính tả, Tập làm văn. Song khó hơn cả đối với người
dạy cũng như đối với người học là phân môn Tập làm văn. Tập làm văn là một
phân môn rất quan trọng trong chương trình dạy học Tiểu học, nó không chỉ
giúp học sinh hình thành các kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết mà còn rèn cho học
sinh khả năng giao tiếp, quan sát, phân tích tổng hợp và đặc biệt còn hình thành
cho học sinh những phẩm chất tốt đẹp của con người mới hiện đại và năng động.
Dạy Tập làm văn là dạy học sinh cách nhìn nhận cuộc sống xung quanh trong
thực tế vốn có của nó với cảm xúc thực của các em.
Đặc biệt đối với môn Tập làm văn lớp 5 gồm nhiều nội dung, một trong
những nội dung chính của chương trình Tập làm văn 5 là văn miêu tả. Trong đó
tả cảnh là một kiểu bài khó vì học sinh chưa có khả năng quan sát tinh tế, chưa
cảm nhận hết được vẻ đẹp của cảnh hay những thay đổi của cảnh, không biết
dựa vào cảm xúc của mình để làm cảnh đó trở nên đẹp hơn, sinh động hơn, gần
gũi hơn. Bởi vậy, làm thế nào để cho học sinh làm văn hay ? Làm thế nào để
giúp học sinh làm bài văn có hiệu quả ? Thì lại là một vấn đề rất khó khăn, cần
phải suy nghĩ và dày công nghiên cứu của những người làm công tác giáo dục.
Từ thực tế giảng dạy Tập làm văn phần tả cảnh, tôi nhận thấy bản thân
người giáo viên là người hướng dẫn đôi khi cũng cảm thấy lúng túng, bí từ và
không biết phải hướng dẫn thế nào để học sinh có thể viết được bài văn hay, có
hình ảnh, có cảm xúc. Một số tài liệu như sách giáo khoa, sách giáo viên, sách
thiết kế thì hướng dẫn chung chung, còn một số sách khác như văn mẫu lại chỉ
có các bài văn đã viết sẵn mà không có một sự hướng dẫn cụ thể nào để định

của bản thân và học sinh thông qua cách dạy và cách học.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NHGIỆM
1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
- Khái niệm về văn tả cảnh:
Văn tả cảnh là loại văn dùng lời với những hình ảnh, cảm xúc làm cho
người đọc, người nghe có thể hình dung được rõ nét và cụ thể về một cảnh vật
nào đó xung quanh ta.
- Các yếu tố tác động đến khả năng làm văn tả cảnh của học sinh.
+ Óc quan sát: Trước khi tả một bài văn tả cảnh nào đó học sinh phải được
quan sát cảnh đó qua thực tế, qua phim ảnh, sau đó mới nâng cao mức độ là học
sinh tưởng tượng
+ Vốn từ : Học sinh phải giàu vồn từ, có vốn hiểu biết về từ ngữ, ngữ pháp,
khả năng sử dụng câu, từ...
+ Khả năng dạy học của giáo viên: Giáo viên có phương pháp dạy học phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, biết khởi nguồn cảm hứng văn cho học
sinh, tránh cho các em sa vào cái khuôn mẫu riêng cũng như lệ thuộc vào các bài
văn mẫu...
- Các căn cứ của vấn đề:
+ Căn cứ vào mục tiêu, chương trình Tiếng Việt lớp 5 – bậc Tiểu học.
+ Căn cứ vào tài liệu tham khảo về phương pháp dạy học môn Tiếng Việt.
+ Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh Tiểu học.
+ Căn cứ vào tình hình thực tế học sinh của nhà trường.
3


2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm ở trường
Tiểu học Nga Thiện.
2.1.Về phía giáo viên:
Qua nghiên cứu, trao đổi với một số đồng nghiệp và thăm lớp, dự giờ, tôi
thấy hầu hết các đồng chí giáo viên đã quan tâm đến việc dạy học phân môn Tập

Điểm 5 - 6
Điểm dưới 5
Sĩ số
Học sinh
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
34 em
1
2.9
5
14.7
15
44,2
13
38,2
Tỉ lệ học sinh làm văn tốt và biết cách làm văn còn thấp. Qua tìm hiểu, tôi
thấy nổi lên một số nguyên nhân sau:
Một là: Khi làm văn, học sinh chưa xác định được yêu cầu trọng tâm của
đề bài.

4


Hai là: Học sinh không được quan sát trực tiếp đối tượng miêu tả hoặc khi

học sinh tránh thái độ giả tạo, giả dối; bệnh công thức sáo rỗng.
Tóm lại: Mỗi cảnh đều nằm trong một khung không gian và thời gian, đó
là cái nền cho cảnh vật được miêu tả. Các em cần nêu được khung cảnh chung
này, nhưng đặc biệt cần tập trung tả nét tiêu biểu. Khi tả cảnh các em có thể lồng
tả người, tả vật trong cảnh để cho bài văn thêm sinh động.
3.1.2. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề:
Bài văn của học sinh được viết theo đề bài cụ thể, nên yêu cầu hàng đầu là
các em phải viết đúng đề bài, đúng thể loại. Như vậy, để làm được bài văn hay
giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh thực hiện được những công việc sau:
- Đọc kĩ đề: GV lưu ý học sinh có thể dùng bút chì gạch chân các từ ngữ
trọng tâm của đề bài.

5


- Phân tích đề: Một đề bài đưa ra cho học sinh viết thường ẩn chứa đến 3
yêu cầu: yêu cầu về thể loại (kiểu bài), yêu cầu nội dung, yêu cầu về trọng tâm.
Ví dụ: Đề bài: Tả cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều) trong một vườn
cây (hay trong công viên, trên đường phố, trên cánh đồng, nương rẫy).
Giáo viên giúp học sinh hiểu được việc viết đúng yêu cầu của đề bài là
yếu tố quyết định nội dung bài viết. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu và phân tích
đề bài qua việc xác định:
a. Yêu cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”).
b. Yêu cầu về nội dung là: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm từ
“cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”.
c. Yêu cầu về trọng tâm là: Ở trong một vườn cây (hay trong công viên…)
Trong thực tế, không phải đề bài nào cũng xác định đủ 3 yêu cầu. Như đề
bài “Tả một cơn mưa” chỉ có yêu cầu về thể loại và nội dung. Với đề bài này,
giáo viên cần giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm của bài viết.
Chẳng hạn “Tả một cơn mưa khi em đang trên đường đi học”...

sông quê hương:
Mắt thấy (Thị giác) -

Sông rộng mênh mông, trải dài…
Thuyền bè đi lại trên sông tấp nập…
Sóng nhấp nhô…
Bờ bên phải: bãi ngô xanh biêng biếc…
Bờ bên trái: Bãi cát trải dài, trắng xoá…
Mặt trời, mặt trăng soi bóng xuống mặt nước…
Mặt sông loang loáng, lấp lánh…
Tai nghe Sóng vỗ rì rào, soàn soạt…
( Thính giác) Bãi ngô bên bờ rì rầm, xào xạc…
Tiếng hát của ngư dân trong đêm trên sông…
Mũi ngửi Mùi tanh tanh của thuyền no bụng cá…
( Khứu giác) …
Da( Xúc giác)
Nước mát rượi…
- Hướng dẫn học sinh hoàn thành bảng quan sát dòng sông theo trình tự
thời gian:
- Sông hiền hoà chảy, uốn lượn như dải lụa.
- Sóng rì rào ca hát
Sáng
- Trên mặt sông, thuyền chở người, chở hàng...đi lại như mắc cửi.
- Bến sông nhộn nhịp tiếng cười nói.
Mặt trời chiếu tia nắng chói chang làm sông đỏ ngầu giận dữ,
Trưa
cuồn cuộn chảy về xuôi.
- Mặt nước gợn sóng, những con sóng nhẹ nhàng xô vào hai bên
bờ.
Chiều


Với cách dạy cho học sinh quan sát tranh, tôi nhận thấy bài văn của học
sinh có nhiều hình ảnh phong phú, cách nhìn cảnh vật tinh tế hơn. Do đó khả
năng sản sinh văn bản cũng tốt hơn.
b. Lựa chọn hình ảnh tiêu biểu và nội dung để tả.
Để lựa chọn hình ảnh tiêu biểu và nội dung để tả trong bài văn, GV hướng
dẫn học sinh:
- Căn cứ vào hình ảnh lựa chọn khi quan sát.
- Căn cứ vào nội dung ghi chép được.
- Chọn lựa những hình ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưng riêng, đẹp
và khác biệt của đối tượng để miêu tả.
Lựa chọn hình ảnh, hoạt động của đối tượng để tả khái quát, bổ trợ tạo nên
hình ảnh tổng thể về đối tượng, có thể lồng ghép các hình ảnh, sự việc gắn bó
mật thiết với đối tượng.
3.2.2. Cung cấp vốn sống, vốn hiểu biết về cảnh:
Trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy vốn hiểu biết về cảnh, về sự thay
đổi của cảnh của học sinh còn quá ít, thậm chí có sự sai lệnh. Điều này do nhiều
nguyên nhân: có thể các em chưa có cơ hội tiếp cận cảnh để quan sát, để khám
phá về cảnh, chưa có thời gian để quan sát cảnh trong một thời gian dài và vốn
hiểu biết về tự nhiên còn hạn chế.
Ví dụ:
- Học sinh không rõ sông ít nước vào mùa nào, nhiều nước vào mùa nào,
nước sông luôn ngầu đục hay có lúc đục, lúc trong, bờ có bên lở bên bồi…
- Học sinh không nắm rõ được sự thay đổi của cảnh vật theo thời gian nên
khi tả có thể tả cây phượng vào mùa xuân có tán lá xum xuê, xanh mướt, cánh
đồng lúa chín vàng vào tháng sáu, tháng bảy…
Chính vì kiến thức về cảnh không có hoặc có ít đã làm các em thiếu tự tin
trong khi viết văn miêu tả cảnh vật đó.
Do các em chưa hiểu rõ về cảnh nên chưa thể tự tin viết được một bài văn
hay. Muốn khắc phục tình trạng trên giáo viên cần làm những việc sau:

Ví dụ 1:
Đề bài: Tả một buổi chiều trên cánh đồng.Tôi đưa ra hệ thống câu hỏi sau:
+ Đọc kĩ đề bài xác định thể loại?
+ Trọng tâm của đề bài là gì?
Sau khi đã quan sát được, học sinh sẽ tự sắp xếp ý để lập dàn bài chi tiết cụ thể:
* Mở bài:
+ Chiều nào em cũng đi học về qua cánh đồng làng.
+ Con đường đi học của em uốn quanh làng, men theo đồng lúa .
+ Mỗi chiều đi học về, em thả hồn mình trước cánh đồng lúa ngút ngàn.
* Thân bài: Tả theo trình tự thời gian.
+ Ông mặt trời lững thững đạp xe qua ngọn tre.
+ Những tia nắng vàng nhạt dần.
+ Cánh đồng là một màu vàng.
+ Những đợt sóng lúa nhấp nhô theo làn gió.
+ Dọc 2 bên bờ sông là hàng bạch đàn cao vút, soi bóng xuống mặt nước
trong veo.
+ Đàn trâu bò mộng, đàn bò vàng mượt trên đường làng dưới hàng cây.
+ Lũ chim chiền chiện lúc bay, lúc sà xuống ruộng lúa, lúc chấp chới trên
không trung .
+ Chim cu gáy bay về từng đàn.
+ Trên bờ ruộng mấy bác nông dân đang trò chuyện, tay nâng bông lúa lên
ngắm. Gương mặt ai cũng tràn trề niềm vui, tin tưởng chờ đợi một vụ mùa bội thu.
+ Ven bờ, một chị phụ nữ đang buộc những khóm lúa cạnh bờ.
+ Xa xa, mấy bạn nhỏ đang đi học về.
* Kết bài: Trời nhá nhem tối, em về nhà trong tâm trạng vui vui, Em ước
sao khoảnh khắc hoàng hôn còn ở mãi trên cánh đồng để ai cũng nhìn thấy một
màu vàng của no ấm.
Ví dụ 2: Dàn bài tả buổi sáng trong vườn cây.
* Mở bài: Gần nhà em có khu vườn của Bác Bảy trồng nhiều loại cây ăn
trái. Sáng nay chủ nhật em ra thăm khu vườn và trò chuyện với Bác Bảy.

lôgic với nhau tạo độ kết về mặt nghĩa. Những câu ở cuối đoạn thường là những
câu có ý nghĩa sâu sắc, làm đậm nét cho bức tranh thiên nhiên nên hướng cho
học sinh biết dành những lời văn trội hơn vào cuối đoạn.
Ví dụ về cách dựng đoạn:
Cách dựng đoạn của học sinh
Cách dựng đoạn theo gợi ý của thầy
Ngôi trường của em rất đẹp.
Bước chân đến cổng trường, trước
Chúng em có một khoảng sân mắt em là tấm biển Trường Tiểu học Nga
rộng để vui đùa, có cả ghế đá của Lĩnh bằng chữ màu xanh trên nền trắng
những thầy cô và các anh chị đi trang trọng. Vào bên trong, các dãy
trước tặng lại nhà trường để ngồi phòng học cánh cửa vẫn còn đóng im.
nghỉ ngơi trong giờ giải lao. Bên trên, một màn sương lờ mờ như trùm
Những hàng xà cừ, bằng lăng, lên cảnh vật. Xung quanh là những cây
bàng, phượng vĩ đã đứng đó mấy cảnh, dáng vẻ như e thẹn, lá vẫn còn đẫm
chục năm rồi, cùng chia sẻ buồn sương đêm. Mỗi cây có một dáng vẻ
vui với bao thế hệ học trò. Những riêng, cây nào cũng đẹp. Dưới bàn tay
cây phượng cành khẳng khiu như chăm sóc, sắp đặt của các thầy cô, hình
11


hàng trăm cánh tay vươn ra giữa như mỗi cây có một nét đẹp riêng. Lôi
trời xanh.
cuốn nhất là cây sanh, gốc to, từng túm lá
xòe ra trông rất ngộ nghĩnh.
3.4.2. Hướng dẫn xây dựng mở bài, thân bài, kết bài trong bài văn tả
cảnh:
a. Xây dựng phần mở bài:
Chương trình dạy tập làm văn lớp 5 có hướng dẫn học sinh mở bài khi
miêu tả cảnh như: Mở bài gián tiếp và trực tiếp. Tuy nhiên học sinh mới hiểu

bài gián tiếp sẽ làm cho bài văn thêm sinh động, gợi cảm hấp dẫn gây hứng thú
cho người đọc. Tuy vậy nếu mở bài không khéo sẽ lan man, vòng vèo, làm phân
tán sự chú ý của người đọc. Tuỳ theo từng đối tượng mà ta lựa chọn cách mở
bài gián tiếp cho phù hợp.

12


Cách mở bài gián tiếp

Ví dụ
Quê hương em có rất nhiều cảnh đẹp. Cánh đồng
lúa chín vàng thẳng cánh cò bay, triền đê xanh mượt
cỏ với những buổi chiều hè đá bóng thả diều. Nhưng
cảnh đẹp nên thơ và là niềm tự hào nhất của người
Bằng hình ảnh so sánh
dân quê em chính là dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa
quanh năm hiền hoà chảy.
“Bộp…bộp…” Tiếng mưa nặng nề rơi xuống mái
Bằng một âm thanh
tôn làm mọi người hoảng hốt nhận ra trời đã mưa.
- Mai ơi, cậu thích nhất cảnh nào ở quê mình?
- Quê mình có rất nhiều cảnh đẹp nhưng mình thích
nhất được ngắm cảnh dòng sông Hồng.
Bằng lời đối thoại
- Vì sao thế?
- Vì mình thấy đó là một cảnh sông nước rất đẹp và
nên thơ.
“Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi bóng những hàng tre



văn cộc lốc, công thức hoặc khuôn sáo. Giáo viên hướng dẫn học sinh hai kiểu
kết bài mở rộng và không mở rộng. Với mỗi cách kết bài đều có những cách
diễn đạt khác nhau.
* Kết bài không mở rộng thường được đóng ý một cách gọn đủ các ý:
- Nhận xét, đánh giá về cảnh.
- Tình cảm đối với cảnh.
- Hành động: Chăm sóc, bảo vệ,...
Các ý trên có thể được sắp xếp ở các vị trí khác nhau để cho các kết bài
khác nhau.
Ví dụ: Khi kết bài văn tả khu vườn vào buổi sáng học sinh nêu được các ý:
1. Nhận xét, đánh giá: Khu vườn thật đẹp.
2. Tình cảm: Yêu quý và luôn cảm thấy thích thú khi ngắm.
3. Hành động: Chăm sóc, bảo vệ cây cối.
Với 3 ý trên học sinh có thể viết được các kiểu kết bài.
Ví dụ:
- Kiểu 1: Khu vườn thật đẹp. Được ngắm nhìn nó em thấy rất thích thú và
thoải mái. Em sẽ chăm sóc cho cây cối ở đây luôn tươi tốt.
- Kiểu 2: Được ngắm nhìn khu vườn em rất thích thú trước vẻ đẹp của nó.
Em sẽ chăm sóc cho cây cối ở đây luôn tươi tốt.
- Kiểu 3: Chăm sóc và bảo vệ cây cối ở đây để khu vườn ngày thêm đẹp là
niềm vui của em.
* Kết bài mở rộng: Khi viết kết bài mở rộng học sinh vẫn đưa 3 ý suy nghĩ,
tình cảm, hành động như mở bài không mở rộng nhưng diễn đạt mở rộng bằng
cách:
- Nêu ra câu hỏi. Nêu một ý mới lạ.
- Đưa ra một lời bình.
Từ việc phân tích một số mẫu kết bài trên học sinh sẽ luyện tập viết kết
bài theo một trong các cách kể trên.

Đây là bước quan trọng, cần thiết để có được một bài làm văn tốt nhất. Để
bài văn đạt hiệu quả cao, lời nhắc nhở dặn dò của giáo viên trước lúc viết cũng
rất quan trọng. Ngoài việc thực hiện theo đúng các bước trong tiết viết bài, trong
mỗi tiết viết tôi còn chú ý dặn thêm:
- Liên kết phần mở bài, thân bài, kết bài để tạo thành bài văn hoàn chỉnh.
- Cần lựa chọn, sử dụng đúng và hay các từ ghép, từ láy, từ tượng thanh, từ
tượng hình...nhằm gợi tả rõ không khí của cảnh.
- Chú ý dùng cách so sánh, nhân hoá, làm nổi bật cảnh chính..
- Khi làm bài vào vở, học sinh chú ý cách trình bày, chữ viết, lỗi chính tả.
Đó là những yếu tố giúp học sinh thành công trong quá trình học làm văn..
3.5. Giải pháp 5: Xây dựng một số bài tập bổ trợ rèn kĩ năng sử dụng từ
ngữ và các biện pháp nghệ thuật tu từ:
Trong thời gian học sinh học về tả cảnh thì giáo viên có thể xây dựng các
bài tập bổ trợ về cách dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn nói về cảnh. Các bài tập
này có thể làm vào các tiết luyện tiếng việt buổi 2 hoặc lồng ghép trong các tiết
thuộc phân môn Tiếng Việt.
* Một số lưu ý khi xây dựng bài tập bổ trợ:
- Bài tập đưa ra phải có dữ liệu đảm bảo tính chính xác về cấu tạo ngữ
pháp, tính nghệ thuật trong ngôn từ và cú pháp.
- Bài tập phải phát huy được sự sáng tạo của học sinh.
Bài tập có nhiều hướng giải quyết khác nhau tạo sự phong phú trong suy
nghĩ của học sinh.
3.5.1. Bài tập bổ trợ rèn kĩ năng sử dụng từ ngữ:
* Mục đích:
- Qua bài tập, học sinh nhận thấy tác dụng của việc sử dụng các từ ngữ gợi
tả, gợi cảm.
- Học sinh biết cách chọn từ và sử dụng các từ ngữ gợi tả, gợi cảm phù
hợp với văn cảnh.
* Một số kiểu bài tập:
Bài 1: Tìm các từ ghép, từ láy chỉ về:

- Mấy con chim đang hót ríu rít trên vòm cây.
- Mặt trời mọc từ phía đông, chiếu những tia nắng xuống cánh đồng lúa
xanh rờn.
3.5.3. Dạng bài tập cảm thụ cái hay, cái đẹp trong việc dùng từ và
biện pháp tu từ trong một số đoạn văn, đoạn thơ hay:
* Tác dụng: Đây là dạng bài tập cảm thụ văn học, dạng bài tập này giúp
học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong các văn bản từ đó có kĩ năng
dùng từ, viết câu và khả năng thể hiện những tình cảm, những xúc cảm của mình
khi viết văn.
* Ví dụ:
Bài 1: Trong cuốn Hồi kí Bác Hồ, hai nhà văn Hoài Thanh và Thanh Tịnh
đã tả phong cảnh Quê hương Bác như sau:
Trước mắt chúng tôi, giữa hai dãy núi là nhà Bác với cánh đồng quê Bác.
Nhìn xuống cánh đồng có đủ các màu xanh, xanh pha vàng của ruộng mía, xanh
rất mượt của lúa chiêm đương thời con gái, xanh đậm của những rặng tre.
Đọc đoạn văn trên, em có nhận xét gì về cách dùng từ ngữ chỉ màu xanh ?
Cách dùng từ ngữ như vậy đã góp phần gợi tả điều gì về cảnh vật trên quê Bác?
Bài 2:Trong bài Mặt trời xanh của tôi, nhà thơ Nguyễn Viết Bình có viết:

16


Rừng cọ ơi! Rừng cọ
Lá đẹp, lá ngời ngời
Tôi yêu thường vẫn gọi
Mặt trời xanh của tôi.
Theo em, khổ thơ trên đã bộc lộ tình cảm của tác giả đối với rừng cọ của
quê hương như thế nào?
3.6. Giải pháp 6: Giúp học sinh tích lũy vốn từ dùng cho tả cảnh, làm giàu
trí tưởng tượng của các em khi tả:

Tưởng tượng giúp ta thấy được nét đặc sắc của đối tượng, thấy được điểm tương
đồng với đối tượng khác. Từ tưởng tượng học sinh sẽ cảm nhận được đối tượng
miêu tả bằng tình cảm, tình yêu của chính mình đối với cảnh sẽ tả. Tưởng tượng
làm cho đối tượng được miêu tả hoàn thiện hơn, đẹp hơn, sống động hơn và gần
gũi với con người hơn.
17


- Tưởng tượng thế nào?
+ Không trực tiếp quan sát mà tập trung tất cả các giác quan vào đối tượng.
+ Nhắm mắt, hình dung về đối tượng: hình ảnh, hoạt động của đối tượng,
những ảnh hưởng tác động của đối tượng đến sự vật xung quanh.
+ So sánh đối tượng được miêu tả với các đối tượng khác tương đồng.
Đây là một trong những “bí quyết” để viết văn miêu tả nói chung, tả cảnh nói
riêng được hay hơn. Chẳng hạn, khi tả trăng ta có thể so sánh với những sự vật
như con thuyền, cánh diều, quả bóng, cái đĩa,…Tả chiếc lá bàng ta có thể so
sánh với cái quạt, chiếc bánh đa,… Hay khi tả những chùm hoa phượng ta có thể
so sánh với những đốm lửa hồng bập bùng; tả những quả bàng xanh tại sao ta lại
không so sánh với những chú rùa con bé xíu…
+ Phân tích đánh giá cái hay, cái đẹp có ở đối tượng.
+ Ghi chép lại những gì mà mình đã tưởng tượng để lựa chọn, chắt lọc đưa
vào bài viết của mình.
+ Nhân hóa hay tự nhiên hóa một vài hình ảnh đặc sắc ở đối tượng.
Ví dụ: “Máy tuốt to lù lù đững giữa sân kho, kêu tành tạch. Người ta nhét
những ôm lúa vào miệng nó. Nó nhằn nhằn một thoáng rồi phì rơm ra” (tả một
ngày mùa).
3.7. Giải pháp 7: Tổ chức cho học sinh được tương tác trong tiết tập làm
văn.
3.7.1. Tổ chức tương tác giữa trò và trò:
Trong giờ tập làm văn, giáo viên cần chia nhóm phù hợp cho từng hoạt

vừa nêu.
Nhận được yêu cầu, học sinh thảo luận rất sôi nổi. Từng nhóm thi nhau nêu
các câu văn hay, các hình ảnh đẹp và nêu tác dụng của các biện pháp nghệ thuật.
Sau đó các nhóm nêu câu văn của nhóm mình. Quả thật, câu văn của các em đã
hay hơn rất nhiều, có nhiều hình ảnh gợi tả, gợi cảm. Từ đó tôi nhận thấy, tổ
chức cho học sinh được trao đổi, thảo luận để tìm cái hay, cái đẹp trong tiết Tập
làm văn thực sự có hiệu quả.
3.7.2. Tổ chức tương tác giữa thầy và trò:
Tổ chức tương tác giữa thầy và trò được thể hiện trong quá trình giảng dạy,
giáo viên dùng hệ thống câu hỏi để học sinh trả lời, nhận xét, đánh giá học sinh.
Ví dụ: Với đề văn tả cảnh cánh đồng, giáo viên tương tác với học sinh
bằng hệ thống câu hỏi sạu:
- Cánh đồng em tả ở đâu ?
- Em quan sát cánh đồng trong hoàn cảnh nào ?
- Cánh đồng đó có rộng không, chạy từ đâu tới đâu ?
- Khi bình minh lên cánh đồng đẹp như thế nào?
- Khi mặt trời lên cao, cánh đồng như thế nào? Từng thửa ruộng ra sao ?
- Có người làm việc ngoài đồng không ? Họ đang làm gì ? Có cây bóng
mát không ? Có chim chóc không ? Chúng ở đâu và đang làm gì ?
- Cảm nghĩ của em về cảnh vật và cuộc sống nơi đồng quê ?
Đặc biệt ở tiết trả bài tập làm văn, tổ chức tương tác giữa thầy và trò rất
quan trọng, giúp các em sửa chữa lỗi, rút kinh nghiệm cho bài viết lần sau và
học tập các bạn những cách viết hay để vận dụng vào các bài văn. Tuy nhiên, ở
tiết học này một số giáo viên thường làm qua loa, không chữa kĩ càng, bớt xén
thời gian để dạy môn khác. Vậy, muốn có được tiết trả bài có hiệu quả giáo viên
cần phải:
- Chấm bài cẩn thận, kĩ càng; chữa từng lỗi nhỏ của bài viết cho học sinh.
- Ghi lại các lỗi của học sinh theo từng loại như: lỗi về cách dùng từ, đặt
câu; lỗi diễn đạt; lỗi chính tả;… ghi lại các từ, các câu hay, đoạn văn hay.
- Nhận xét ưu điểm, nhược điểm trong bài làm của học sinh.

ở trường Tiểu học là vấn đề cốt yếu. Để rèn cho học sinh có hiệu quả, tôi luôn
coi trọng vấn đề lập kế hoạch bài học. Kế hoạch nhất thiết phải có nội dung tích
hợp nếu như bài đó có thể thể lồng ghép được. Qua nhiều lần thực hiện, tôi đã
hình thành cho học sinh thói quen rèn kĩ năng sản sinh văn bản sau mỗi tiết học.
Từ đó giúp học sinh có đủ điều kiện về ngôn ngữ để tham gia tốt việc học tập
nói chung và học văn nói riêng.
20


4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân và đồng nghiệp:
Trong quá trình nghiên cứu, áp dụng những kinh nghiệm vào việc dạy học
văn tả cảnh, tôi đã tiến hành một số giờ dạy ở lớp 5A đồng thời ra đề kiểm tra:
Tả cánh đồng lúa quê em vào buổi sáng (tuần 31) và tôi đã thu được kết quả rất
khả quan:
Điểm 9- 10
Điểm 7- 8
Điểm 5- 6
Điểm dưới 5
Sĩ số
Học sinh
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
34 em

2. Kiến nghị:
Cần trang bị thêm đồ dùng học tập đặc biệt là các tranh khổ to, băng đĩa
quay các cảnh. Tổ chức cho học sinh thăm quan, dã ngoại để học sinh có thêm
nhiều hiểu biết về cảnh. Điều đó sẽ rất tốt cho các em khi viết văn.
XÁC NHẬN CỦA
THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Mai Thị Duyến

Nga Sơn, ngày 10 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của tôi viết
không lấy nội dung của người khác.
Người viết
Mai Thị Thuỷ
21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tuyển tập 150 bài văn hay lớp 5. Tác giả: Thái Quang Vinh, Trần Đức
Niềm, Trần Lê Thảo Linh, Lê Thị Nguyên
2. Những bài văn chọn lọc 5. Tác giả: Phạm Thị Phương Lan
3. Luyện tập làm 5. Tác giả: Đặng Mạnh Thường
4. Bồi dưỡng học sinh giỏi Tiếng Việt 5. Tác giả: Trần Mạnh Hưởng, Lê
Hữu Tỉnh

22


DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG

3 Một số biện pháp giải toán
Phòng GDLoại B
2010 - 2011
chuyển động đều cho HS lớp ĐT Nga Sơn
5.
4 Rèn kỹ năng chuyển đổi đơn
Phòng GDLoại B
2011 - 2012
vị đo lường cho HS lớp 5.
ĐT Nga Sơn
5 Rèn kỹ năng viết đoạn văn
Phòng GDLoại B
2012 - 2013
cho học sinh lớp 4.
ĐT Nga Sơn
6 Một số biện pháp phụ đạo học Phòng GDLoại B
2013 - 2014
sinh yếu môn Toán ở lớp 4.
ĐT Nga Sơn
7 Rèn kỹ năng giải các bài toán Phòng GDLoại B
2014 - 2015
bằng sơ đồ đoạn thẳng cho
ĐT Nga Sơn
học sinh lớp 4
8 Kinh nghiệm giúp HS lớp 4
Phòng GDLoại B
2015 - 2016
học tốt các yếu tố hình học ở
ĐT Nga Sơn
trường Tiểu học Nga Thiện.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status