“Một số biện pháp rèn kỹ năng phát triển thể lực cho học sinh lớp 5” - Pdf 41

1. Cơ sở đề xuất giải pháp.
1.1. Sự cần thiết hình thành giải pháp.
Trường Tiểu học có vị trí, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp
“trồng người”, là nơi tổ chức tự giác quá trình phát triển của trẻ, là công trình
văn hóa giáo dục bền vững, nơi diễn ra cuộc sống thực tế của trẻ. Học sinh
Tiểu học là những chủ nhân tương lai của đất nước, bậc Tiểu học là những viên
gạch đầu tiên đặt nền móng để các em bước vào ngưỡng cửa của tương lai.
Ngoài những môn học Toán, Tiếng việt,...các em còn được học môn Thể dục.
Thể dục: giúp các em phát triển cân đối thể hình, hoàn thiện các chức năng của
cơ thể, tăng cường sức khoẻ, góp phần vào giáo dục phẩm chất, ý chí, đạo đức
và thẩm mỹ cho các em.
Để phát triển tốt thể lực, chúng ta không chỉ thực hiện tốt kĩ thuật bài
thể dục phát triển chung, tham gia tốt vào các trò chơi vận động mà còn phải
rèn luyện thể lực. Do vậy thể lực cho học sinh là việc làm rất quan trọng mà
các nhà giáo dục Thể chất đang quan tâm và đã tổ chức các kỳ thi, hội khoẻ
phù đổng, đại hội TDTT cho học sinh và giáo viên từ cấp cơ sở đến cấp quốc
gia, khu vực.

1.2. Tổng quan của giải pháp
Chương trình thể dục được bộ đưa ra nhằm bước đầu giúp học sinh ý
thức được việc rèn luyện thể dục thể thao có ảnh hưởng như thế nào đối với bậc
Tiểu học, cũng như tất cả học sinh về biên soạn và phân bố thời gian để học
sinh luyện tập rèn luyện các tư thế cơ bản cũng như các bài tập thể dục rèn
luyện chung, nhằm một mục đích chung đó là khích lệ tinh thần học tập, tinh
thần đoàn kết, hoạt động tập thể và nâng cao tính tích cực, tự giác và kỷ luật
cho học sinh. Vấn đề này cần phải đòi hỏi học sinh phải nỗ lực rất nhiều và phụ
thuộc rất nhiều vào phương pháp giảng dạy, thể lực học sinh như thế nào cho
phù hợp với từng đối tượng, từng khu vực nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh.



nếp sống văn minh khoa học, nếp sống lành mạnh, hằng ngày rèn luyện thân
thể đều đặn. Cho nên việc GDTC là con dao hai lưỡi, người giáo viên hướng
dẫn học sinh tập luyện mà không nắm được tình hình sức khoẻ, đặc điểm tâm
sinh lý của học sinh thì dễ đưa đến hậu quả khó lường, gây nguy hại đến sức
3


khoẻ, tác động xấu đến sự phát triển tố chất của học sinh. Để thực hiện được
chương trình và giảng dạy cho học sinh tập luyện có hiệu quả, điều quan trọng
có tính quyết định là phải có giáo viên thể dục có trình độ vững vàng, yêu thích
TDTT, có sức khoẻ tốt. Xuất phát từ yêu cầu cấp bách đó, tôi xin mạo muội
đưa ra những giải pháp sau:
- Giáo viên thể dục phải thường xuyên học tập, tự bồi dưỡng nâng cao
trình độ nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu của tiến trình giảng dạy, nâng cao chất
lượng dạy học của bộ môn, phải thường xuyên dự giờ, trao đổi kinh nghiệm với
đồng nghiệng, tham khảo các bài giảng mẫu để rút kinh nghiệm nâng cao
nghiệp vụ sư phạm. Giáo viên luôn tìm tòi những phương pháp dạy học phù
hợp với điều kiện thực tiễn, không nên áp đặt, máy móc.
- Nhà trường thường xuyên tạo điều kiện cho giáo viên đi học các lớp
bồi dưỡng về chuyên môn để nâng cao nghiệp vụ giảng dạy, phục vụ tốt cho
công tác giảng dạy chăm lo sức khoẻ học sinh.
* Giải pháp về cơ sở vật chất:
- Để đảm bảo công tác GDTC cho học sinh đòi hỏi phải tăng cường các
thiết bị dụng cụ, phục vụ cho việc giảng dạy của giáo viên và việc tập luyện
của học sinh theo hướng phát huy tính tích cực, học sinh chủ động trong học
tập:
- Mỗi năm nhà trường cần tham khảo với giáo viên thể dục để mua sắn
thêm một số thiết bị, dụng cụ học tập như: mua thêm nệm, xà nhảy cao, bóng
chuyền, cầu đá…
- Mỗi năm giáo viên thể dục phối hợp cùng nhà trường và học sinh tự

- Giáo viên biết sáng tạo những động tác, bài tập phù hợp với từng nội
dung. - Sử dụng đổi mới phương pháp dạy học môn Thể dục.
- Nắm được mối quan hệ giữa các động tác đơn lẻ với động tác phức tạp.
- Giáo viên tăng cường kiểm tra, đánh giá nhận xét thường xuyên.
- Sau mỗi lần kiểm tra đánh giá, nhận xét tuyên dương kịp thời để gây
hứng thú trong việc tự học, tự rèn luyện của học sinh.
- Cuối mỗi kỳ giáo viên phải tổng kết, đánh giá, khen thưởng động viên
kịp thời để các em phát huy ở những kỳ sau.

2.2 Những cải tiến cho phù hợp với thực tiễn
5


Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp giảng dạy chung như: Phương
pháp sử dụng lời nói, trực quan... trong giảng dạy TDTT còn áp dụng các
phương pháp mang tính đặc thù riêng.
Do tính chất riêng của phương pháp giảng dạy TDTT, khi lựa chọn
phương pháp giáo viên cần dựa trên hệ thống các bài tập, kỹ thuật, chiến thuật,
yêu cầu thể lực và tình trạng thi đấu thể thao của học sinh. Khi thực hiện các
bài tập kỹ thuật hoặc giảng dạy các động tác thể dục thể thao, giáo viên có thể
sử dụng các phương pháp riêng lẻ hoặc tổng hợp các phương pháp.
Ví dụ:
- Dùng lời nói để giải thích, hướng dẫn kỹ thuật động tác, có thể phối
hợp việc giải thích với làm mẫu trực tiếp kỹ thuật hoặc gián tiếp giới thiệu kỹ
thuật qua tranh ảnh, phim, hình vẽ kỹ thuật...
- Thực tế trong hoạt động TDTT cho thấy, muốn đạt được tới trình độ
vận động cao, cần phải áp dụng hệ thống các phương pháp tập luyện khác
nhau. Yếu tố chính để tạo thành các phương pháp khác nhau là lượng vận động
và nghỉ hơi khác nhau. Khái niệm lượng vận động là một độ lớn nhất định
những tác động của các động tác đối với cơ thể người tập, lượng vận động có

năng vận động của học sinh.
- Lời giảng giải của giáo viên cần ngắn gọn, chính xác, dễ hiểu sao cho
thu hút được sự chú ý, tập trung sự theo dõi của học sinh. Tránh dùng thuật ngữ
chuyên môn “xa lạ” khó hiểu khi giảng giải kỹ thuật động tác cần liên hệ với
các hoạt động tự nhiên: chạy, nhảy, leo, trèo... Có thể sử dụng các thuật ngữ
chuyên môn bằng từ địa phương để giảng cho các học sinh dễ hiểu và dễ bắt
chước, song vẫn phải đảm bảo tính sư phạm và giáo dục.
- Trong giảng dạy tập luyện TDTD hình thức hỏi và trả lời ( đàm thoại)
có ý nghĩa giúp học sinh suy nghĩ, độc lập sáng tạo, phát huy tích cực của các
em. Từ đó, giúp học sinh hiểu chính xác phương hướng chuyển động kỹ thuật,
động tác, gây hứng thú, giúp học sinh nắm được các quy tắc, đánh giá được
động tác đúng, sai của bạn và của chính mình.
2.3.2. Phương pháp làm mẫu
Hoạt động GDTDTT là loại hình có nội dụng giáo dục chuyên biệt. Trong
quá trình giảng dạy TDTT yêu cầu giáo viên không chỉ có hệ thống tri thức liên
quan đến truyền thụ kiến thức cho học sinh mà còn phải làm mẫu đúng, chính
7


xác động tác, kỹ thuật TDTT. Làm mẫu thường được thực hiện cùng lúc với
việc giảng giải kỹ thuật và các tri thức khác có liên quan. Lời giảng giải của
giáo viên cần ngắn, gọn, dễ hiểu làm mẫu động tác cần chính xác đúng, đẹp.
- Một số yêu cầu cần chú ý khi làm động tác mẫu:
- Động tác làm mẫu của giáo viên cần chính xác, đẹp hoàn chỉnh. Và
giáo viên làm mẫu động tác, kỹ thuật đúng sẽ giúp học sinh nắm được những
yếu lĩnh cơ bản đúng của kỹ thuật, động tác.
- Khi giảng dạy những động tác kỹ thuật mới, phức tạp giáo viên cần
giảng giải 2 - 3 lần. Làm mẫu lần 1 có thể thực hiện động tác hoàn chỉnh, tốc
độ chuyển động bình thường đúng nhịp độ và yêu cầu. Học sinh qua quan sát
hình thành trong trí nhớ hình ảnh, có khái niệm sơ bộ của từng phần kỹ thuật


- Giáo viên cần nêu tên động tác, giảng giải, phân tích yếu lĩnh kỹ thuật
động tác kết hợp làm mẫu (Nhịp 1 hai tay dang ngang, lòng bàn tay sấp, chân
phải làm trụ, chân trái ra sau; Nhịp 2 thăng bằng, hai tay dang ngang, chân trái
và thân người gần như tạo thành một đường thẳng song song với mặt đất; Nhịp
3 trở về như nhịp 1; Nhịp 4 trở về TTCB. Nhịp 5,6,7,8 tương tự. Yêu cầu ở
động tác này là hai tay dang ngang phải thẳng, chân thẳng khớp gối, mắt nhìn
thẳng.)
Tóm lại, sử dụng sáng tạo phương pháp giảng giải và làm mẫu kỹ thuật
động tác trong giảng dạy TDTT cho học sinh, có vị trí quan trọng. Để phương
pháp giảng giải, làm mẫu đạt hiệu quả cao, giáo viên cần phối hợp giữa làm
9


mẫu giảng giải với việc phân tích các
đặc điểm tâm, sinh lý học sinh, tình
trạng sức khoẻ, vốn vận động, mức độ
phức tạp của kỹ thuật ... để điều chỉnh
thời gian giảng giải, số lần làm mẫu,
hình thức, phương pháp tổ chức giảng
dạy mẫu cho phù hợp với đối tượng, góp phần nâng cao chất lượng toàn diện.
2.4. Phương pháp giảng dạy hoàn chỉnh và phân đoạn
2.4.1. Phương pháp giảng dạy động tác hoàn chỉnh
- Đối với các động tác đơn giản hoặc khó phân chia thành các cử động
nhỏ khi giảng dạy, giáo viên nên áp dụng phương pháp dạy động tác hoàn
chỉnh ( nghĩa là động tác không bị phân ra thành các bộ phận cử động riêng lẻ).
Khả năng phân tích động tác, kỹ thuật của học sinh phổ thông còn hạn chế,
nên việc thực hiện động tác còn thiếu chính xác, sự kết hợp các cử động riêng
lẻ còn khó khăn, tốc độ, biên độ động tác chưa có cảm giác đúng và phù hợp...
Vì vậy, giáo viên phải luôn quan sát giúp đỡ học sinh để các em tập được các

Khi sử dụng phương pháp giảng dạy động tác phân đoạn giáo viên cần
chú ý đến những ưu, nhược điểm sau:
* Ưu điểm:
- Học sinh dễ nắm được các chi tiết của từng phần động tác, thích hợp
với việc dạy các động tác khó, phức tạp, có yêu cầu cao về kỹ thuật.
* Nhược điểm:
- Chia động tác ra nhiều phần chi tiết, kỹ thuật riêng lẻ, học sinh gặp khó
khăn khi thực hiện toàn bộ kỹ thuật.
- Do đó, khi giảng dạy cần nêu rõ các điểm mấu chốt, tính liên kết từ
phần kỹ thuật chi tiết này sang phần khác, những mối quan hệ giữa các phần
trong toàn bộ kỹ thuật, tạo cho học sinh có biểu tượng đúng và phối hợp chính
xác động tác, kỹ thuật.
- Phương pháp dạy động tác, kỹ thuật hoàn chỉnh và phân đoạn sử dụng
trong quá trình giảng dạy TDTT sẽ mang lại hiệu quả tốt. Giáo viên cần phân
biệt và khai thác hợp lý các ưu, khuyết điểm, biết phối hợp hai phương pháp để
11


giải quyết các nhiệm vụ giáo dục cụ thể từng bài học, và nội dung tập luyện thì
sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn.
2.4.3. Phương pháp tập luyện và các hình thức tập luyện, phương pháp
thực hành
Trong quá trình giáo dục TDTT sử dụng phương pháp thực hành, chính
là dùng các hình thức luyện tập, tạo nên sự tác động trực tiếp cơ thể học sinh.
Thông qua quá trình tập luyện học sinh hình thành tri thức, nắm vững được kết
cấu, chuyển động của động tác, cảm giác cơ bắp, thần kinh, hoàn thiện kỹ năng
vận động và phát triển kỹ năng thể chất toàn diện.
Phương phỏp tập luyện được sử dụng trong cỏc giờ TDTT dưới hỡnh
thức khỏc nhau. Thực tế trong giảng dạy TDTT thường được sử dụng 3 loại
hỡnh sau:

- Rèn luyện TDTT thông qua hình thức trò chơi vận động và thi đấu tạo
được không khỏ hưng phấn, phấn khởi, nhiệt tình tham gia luyện tập của học
sinh. Trong vui chơi vận động và thi đấu có hướng dẫn, điều khiển của giáo
viên trong các mục tiêu giáo dục được thực hiện, góp phần thúc đẩy hoàn thiện
nhân cách và sức khoẻ học sinh. Đây là hình thức phù hợp với lứa tuổi học
sinh.
- Trong quá trình tổ chức trò chơi, giáo viên hướng dẫn học sinh tập, bắt
trước các động tác linh hoạt của con người như các động tác kéo gỗ, chèo
thuyền, cuốc ruộng của người lao động. Qua đó, giáo dục học sinh yêu quý gắn
bó với thiên nhiên, với con người và chính bản thân mình.
- Khi hướng dẫn trò chơi, giáo viên cần lựa chọn trò chơi có tốc độ thu
hút được sự chú ý cao của học sinh, đảm bảo tính nhịp điệu, vừa sức động tác
bắt trước phù hợp với lứa tuổi học sinh. Giáo viên thường xuyên nhắc nhở học
sinh khi vui chơi cần đảm bảo đúng kỹ thuật, động tác cơ bản.
Ví dụ:
- Khi chơi “ chạy tiếp sức” động tác chạy phải thực hiện đúng kỹ thuật,
chạy bằng nửa bàn chân trên, kết hợp với đánh tay, thở nhịp nhàng, luôn luôn
chú ý quan sát để kịp thời gian đưa tín vật cho bạn ( Cờ, bóng hoặc gậy).
- Trong quá trình nghiên cứu phải lựa chọn biên soạn trò chơi giáo viên
có thể phối hợp các nội dung với chuyện kể ngắn có tính giáo dục cao. Cần
phối hợp hoạt động trò chơi với thi đấu, hay tổ chức dưới dạng thi đấu. Chú ý
13


đến mức độ hứng thú, nhiệt tình tham gia của học sinh để xác định mục đích
yêu cầu giáo dục khác nhau.
- Hình thức thi đấu được sử dụng khi học sinh cơ bản đó nắm vững động
tác, kỹ thuật, ví dụ trò chơi “ bóng chuyền 6” ...Qua các hướng dẫn, giáo dục
học sinh biết sử dụng các kỹ năng vận động trong khi chơi và thi đấu đạt hiệu
quả giáo dục và góp phần phát triển sức khoẻ.

hiện những nguyên nhân đưa tới những thiếu sót, cần điều chỉnh nội dung bài
học, vận dụng các phương pháp sửa chữa sai lầm cho kịp thời phù hợp với đối
tượng.
- Trong sửa chữa các động tác sai cần gắn liền với việc động viên rèn
luyện cho học sinh tinh thần dũng cảm, tự tin, mạnh dạn, làm quen với các điều
kiện khó khăn trong tập luyện.
- Phương pháp sửa chữa động tác sai trong tập luyện TDTT cho học sinh
cần áp dụng các hình thức phong phú. Những thiếu sót về tư thế, kỹ thuật, các
chi tiết riêng lẻ, ý thức... Cần nhắc nhở nhẹ nhàng bằng lời nói. Nếu có sai về
động tác kỹ thuật, nên cho ngừng tập giáo viên làm mẫu lại và giảng giải chậm
để học sinh xem... Có thể thực hiện động tác sai của học sinh, để học sinh thấy
được thiếu sót của chính mình.
- Sự giúp đỡ trực tiếp, uốn nắn kỹ thuật, nhắc nhở nhẹ nhàng đúng lúc
của giáo viên có tác động to lớn động viên các em khắc phục khó khăn quyết
tâm sửa chữa động tác sai. Giáo viên có thể sử dụng các dụng cụ tập luyện,
tiếng hô, tiếng vỗ tay, nhịp gõ để nhắc nhở các em thời điểm chủ yếu cần thay
đổi hay giữ vững kỹ thuật, động tác giúp học sinh nhớ và nắm vững thời điểm
khi dùng sức, xây dựng các cảm giác đúng chính xác, sử dụng sức mạnh cơ bắp
trong quá trình thực hiện, hoàn thành kỹ thuật, bài tập.
2.4.9. Biện pháp phối, kết hợp với gia đình và địa phương
Phối kết hợp với gia đình về chế độ khẩu phần ăn hàng ngày của các em,
chú ý cho các em ăn đủ chất dinh dưỡng. Liên hệ với chính quyền địa phương
tạo cho các em có sân chơi thể dục thể thao và hàng năm tổ chức cho các em ít
nhất một lần hội thao của xã vào dịp 26/3.
2.4.10. Một số yêu cầu khi vận dụng các phương pháp
15


Hệ thống các phương pháp trong giáo dục TDTT nói chung rất đa dạng
và phong phú. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục và thực trạng nhà trường phổ

Sự phân loại trên đây chỉ mang tính tương đối, trong quá trình giảng dạy
TDTT việc sử dụng một phương pháp riêng lẻ hoặc tổng hợp các phương pháp
nhằm giải quyết một nhiệm vụ giảng dạy cụ thể. Giáo viên cần nghiên cứu sáng
tạo trong phân loại và sử dụng các phương pháp trên. Các phương pháp giảng
dạy TDTT khi được sử dụng đúng lúc và hợp lý là yếu tố có tác động trực tiếp
tới việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và trình độ vận động của học
sinh nói riêng.

3. Hiệu quả
3.1 Thời gian áp dụng giải pháp
Trong suốt năm học 2015 - 2016 và học kì I năm học 2016-2017,

3.2. Hiệu quả đạt được
BIỂU THỐNG KÊ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ THỂ LỰC CUỐI NĂM
Nằm
Năm

Tổng

học

số HS

Tuổi

Phân

ngửa gập

Bật xa tại

- Đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm cho học sinh khối 5 trường Tiểu học
Trường Sơn. Áp dụng các phương pháp dạy học đó vào tập luyện đã thu hút
được học sinh luyện tập và gây được tính tích cực cho học sinh, một số nhận
thức chậm nay đó có sự tiến bộ nhất định, góp phần khích lệ học sinh đảm bảo
và tăng cường số lượng học sinh đến lớp.
- Kết quả cụ thể đạt được và kinh nghiệm rút ra khi áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm:
+ Qua việc rèn kĩ năng phát triển thể lực cho ở khối 5 giúp học sinh tự
tin khi trong tập luyện và phát huy tố chất tập luyện TDTT của mình.
17


+ Học sinh yêu cuộc sống, hưng phấn, thoải mái tiếp tục học các môn
học khác sau khi học tiết học Thể dục.

3.4. Kinh nghiệm thực tiễn khi áp dụng giải pháp
- Có khả năng ứng dụng và triển khai cho tất cả các trường Tiểu học có
giáo viên dạy chuyên môn Thể dục.
- Hướng phát triển của sáng kiến kinh nghiệm là nhằm:
+ Nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên và tạo hứng thú yêu thích
học tập môn Thể dục cho học sinh.
+ Học sinh hiểu được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc học Thể dục.
+ Bồi dưỡng những học sinh có tố chất về Thể dục.
- Giúp học sinh phát huy được khả năng phát triển thể lực tốt nhất của
bản thân. Các em biết được ý nghĩa của việc rèn luyện Thể dục thể thao.
- Giúp học sinh thêm yêu cuộc sống , yêu quê hương , đất nước và hưng
phấn , thoải mái tiếp tục học các môn học khác sau khi học tiết học Thể dục.
- Góp phần đào tạo ra những con người mới có đủ đức- trí -thể- mĩ, xây
dựng môi trường học tập thân thiện.
- Thúc đẩy công tác tự học tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực dạy học

Phước Nguyên, ngày 01 tháng 01 năm 2017
Tác giả

Nguyễn Văn Tấn

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Đồng Lâm - Đặng Đức Thao - Trần Đình Thuận - Vũ Thị Thư,
sách giáo viên Thể dục Lớp 5, Nhà xuất bản giáo dục, 176 trang.
2. PGS. TS. Phạm Khắc Học, 2004, Giáo trình điền kinh, Nhà xuất bản
Thể dục thể thao Hà Nội, 452 trang.
3. Phạm Nguyên Phùng - Hoàng Thị Thuận, Giáo trình Thể dục, Nhà
xuất bản Thể dục thể thao Hà Nội, 144 trang.
4. Sách hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức kĩ năng các môn ở tiểu học
lớp. Nhà xuất bản giáo dục.
5. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy lớp 5. Nhà xuất bản giáo dục

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status