DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
GV
HS
: Giáo viên
: Học sinh
SGK
: Sách giáo khoa
SGV
: Sách giáo viên
NXB
: Nhà xuất bản
VD
: Ví dụ
TLV
: Tập làm văn
Page 1
đầu đúng đắn, vững chắc để làm cơ sở cho những bậc học cao hơn, góp phần
phát triển đạo đức, trí tuệ, hình thành nhân cách con người mới.
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 2
Trong chương trình tiểu học, môn Tiếng Việt là một trong hai môn chính có
vai trò rất quan trọng. Dạy tiếng Việt ở tiểu học tạo cho học sinh (HS) kỹ năng
sử dụng tiếng Việt thành thạo để sử dụng trong học tập, giao tiếp; cung cấp cho
HS những hiểu biết phong phú về tiếng Việt, mở mang kiến thức về tự nhiên, xã
hội, văn hóa của dân tộc Việt Nam và nước ngoài. Môn Tiếng Việtgồm có bảy
phân môn, mỗi phân môn có một vai trò và nhiệm vụ khác nhau nhưng có mối
quan hệ chặt chẽ, tích hợp với nhau.
Phân môn Tập Làm Văn (TLV) có nhiệm vụ rèn cho HS các kỹ năng sản
sinh ngôn bản; sử dụng và hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kĩ
năng tiếng Việt mà các phân môn Tiếng Việt khác đã hình thành. Đây là phân
môn mang tính chất tổng hợp, sáng tạo, thực hành, thể hiện đậm dấu ấn cá nhân.
TLV, viết văn, hành văn là cái đích cuối cùng cao nhất của việc học môn Tiếng
Việt. Đối với HS tiểu học, biết nói đúng, viết đúng, diễn đạt mạch lạc đã khó. Để
nói, viết hay, có cảm xúc, giàu hình ảnh lại khó hơn nhiều. Cái khó ấy chính là
cái đích của phân môn TLV đòi hỏi người học cần diễn đạt tới. Từ đó, các em
được mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, thẩm
mỹ, hình thành nhân cách.
Chương trình TLV ở tiểu học chủ yếu là dạy văn miêu tả. Ngay từ lớp 2 -3,
các em đã được làm quen với loại văn này khi được tập quan sát và trả lời câu
hỏi. Lên lớp 4, 5 các em phải hiểu thế nào là văn miêu tả, biết quan sát, tìm ý,
lập dàn ý, viết đoạn văn và liên kết đoạn văn thành một bài văn với các loại văn
như: miêu tả đồ vật, cây cối, con vật, tả người, tả cảnh - những đối tượng gần
- Đối tượng nghiên cứu: một số biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho
HS lớp 5.
4. Giả thiết khoa học
- Tìm hiểu biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho HS lớp 5 là một vấn
đề còn nhiều khó khăn được GV tiểu học quan tâm. Nếu các biện pháp chúng tôi
đề xuất chứng minh được tính khả thi sẽ góp phần rèn luyện kỹ năng làm văn
miêu tả cho HS lớp 5 nói riêng và góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn
Tiếng Việt nói chung. Đề tài mong muốn sẽ là tài liệu cho sinh viên khoa Tiểu
học - Mầm non trong quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện nghiệp vụ sư
phạm.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ đề tài hướng tới là:
- Tìm hiểu mục tiêu, nội dung dạy - học văn miêu tả lớp 5
- Thực trạng dạy - học văn miêu tả ở lớp 5
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 4
- Một số biện pháp dạy học văn miêu tả lớp 5
6. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài được nghiên cứu trong các giờ dạy tập làm văn, các buổi phụ dạo
học sinh yếu.
7. Cơ sở phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu
7.1 Đọc và phân tích các tài liệu dạy học
Chúng tôi đã đọc và phân tích các tài liệu sau: đọc và phân tích sách giáo
khoa, sách giáo viên, vở bài tập Tiếng Việt, các tài liệu chỉ đạo dạy học phan
môn tập làm văn, đọc và phân ích sách tham khảo, các bài báo cáo nội dung liên
quan đến đề ài như : tạp cvhis giáo dục, tạp chí thế giới trong ta…
Thời gian thực hiện đề tài keo dài trong vòng 1 năm . Từ tháng 9 năm 2018
đến tháng 9 năm 2019
10. Kết cấu đề tài, bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục,tài liệu tham khảo, phần nội dung
thì đề tài của tôi gồm có 3 chương;
+ Chương 1:Cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
+ chương 2: một số biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh
lớp 4, 5 trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch
+ Chương 3: Thể nghiệm sư phạm
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 6
NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
NGHIÊN CỨU
1.1.
Cơ sở lý luận
1.1.1. Một số khái niệm cần xác định
1.1.1.1.Văn miêu tả
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Miêu tả là dùng
ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể
hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người.”
Nhà văn Phạm Hổ:" Miêu tả là khi đọc những gì chúng ta biết, người đọc
như thấy cái đó hiện ra trước mắt mình: một con người, con vật, một dòng sông,
người đọc có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếng nước chảy, thậm chí
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 8
+ Quan sát đối tượng tìm và xắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả
-
Kỹ năng thực hiện hoá hoạt động giao tiếp
+ Xây dựng đọan văn
+ Liên kết các đoạn văn thành bài văn
-
Kỹ năng kiểm tra, đánh giá hoạt động giao tiếp
+ Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân với mục đích giao tiếp và yêu
cầu diễn đạt.
+ Sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy học tập làm văn
Tập làm văn là môn học mang tính tổng hợp. Nó dựa trên kết quả nghiên
cứu của nhiều khoa học khác nhau như: Tâm lý học, ngôn ngữ học, lý luận văn
học...Sau đây, chúng tôi đi vào phân tích một số cơ sở khoa học chi phối một
cách trực tiếp đến dạy học TLV.
1.1.2.1.Cơ sở tâm lý học
* Dạy tập làm văn là dạy một hoạt động
Thành tựu to lớn của Tâm lý học Xô Viết đã xác định bản chất của tâm lý
là hoạt động và chỉ ra năng lực của con người chỉ được hình thành và phát triển
trong hoạt động. Nói năng cũng là một hoạt động, hoạt động lời nói. Hoạt động
Động cơ mục đích chung
thể
Hành động
↔
Mục đích cụ thể
Thao tác
↔
Điều kiện phương tiện
Lý thuyết hoạt động lời nói, vận dụng thành tựu của tâm lý học hành
động, đi sâu nghiên cứu các mối quan hệ qua lại, các giai đoạn của hoạt động lời
nói.
Theo A.N.Lê-ôn-chép “để giao tiếp được trọn vẹn về mặt nguyên tắc thì
con người phải nắm được hàng loạt các kỹ năng:
Một là: phải định hướng nhanh chóng và đúng đắn trong các điều kiện
giao tiếp.
Hai là: phải biết lập đúng chương trình lời nói của mình, lựa chọn nội
dung giao tiếp một cách đúng đắn.
Ba là: phải tìm được phương tiện hợp lý để truyền đạt những nội dung đó.
Bốn là: phải đảm bảo mối liên hệ qua lại.
Nếu như một mắt xích của hoạt động giao tiếp bị phá huỷ thì người nói
không thể đạt được kết quả giao tiếp như mong đợi, kết quả đó sẽ không hiệu
quả”
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các
thành viên trong cộng đồng người, đồng thời cũng là phương tiện để phát triển
tư duy. Khi có ngôn ngữ phong phú thì lời văn khi viết mới hay. Nói cách khác,
muốn viêt đúng, viết hay thì cần phải nói đúng, nói hay. Do vậy, trong quá trình
dạy học, GV phải coi ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng trong quá
trình giáo dục trẻ thơ thành con người phát triển toàn diện.
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 11
Trong giao tiếp, diễn ra hoạt động trau dồi các ngôn bản, sự trau dồi này
bao gồm hai loại hành động luôn gắn bó vào nhau: hành động sản sinh ngôn bản
(bao gồm hành động nói ra hoặc viết ra các nội dung giao tiếp) và hành động
lĩnh hội văn bản tiếp nhận được (bao gồm hành động hiểu ngôn bản, đọc được,
nghe được). Các hành động sản sinh và lĩnh hội ngôn bản đó được coi là hành
động ngôn ngữ.
Ngôn ngữ ở dạng nói là ngôn ngữ của âm thanh nên khả năng truyền cảm
lớn. Điểm khó khăn khi “nói” là phải đáp ứng lập tức, người nói không được
chuẩn bị trước, không có thời gian suy nghĩ để lập ý, chọn từ. Người nói phải
ứng xử nhanh, sử dụng cú pháp đơn giản hơn khi viết. Ngoài ra, người nói
không thể diễn đạt hết ý mà nhờ ngữ cảnh cảnh hoặc những yếu tố ngoài lời để
làm cho người nghe hiểu được.
Lời nói miệng có hai dạng: hội thoại và độc thoại. Vì vậy, các dạng bài tập
luyện nói trong giờ TLV lại sẽ được chia ra: nói trong hội thoại và độc thoại.
Sự phát triển mạnh mẽ của ngữ dụng học trong những năm gần đây đã đặt
hội thoại vào một vị thế mới. Trong những kết quả nghiên cứu về hội thoại có
nhiều ứng dụng thực tế trong dạy học luyện nói. Các quy tắc hội thoại thường
gặp như: quy tắc thương lượng, quy tắc luôn phiên lượt lời, quy tắc tôn trọng,
1.1.3. Mục tiêu và nội dung chương trình Tập làm văn miêu tả lớp 5
1.1.3.1. Mục tiêu
a. Kiến thức
- HS nắm được cấu tạo các dạng văn miêu tả.
- Trang bị kiến thức và rèn luyện các kỹ năng làm văn.
- Góp phần cùng với các môn học khác cung cấp cho HS các kiến thức tổng
hợp về văn hóa, tự nhiên và xã hội.
b. Kỹ năng
- Rèn luyện kỹ năng làm văn làm văn cho HS.
- Rèn kỹ năng quan sát, óc tưởng tượng, tư duy, sáng tạo cho HS.
- Kỹ năng tổng hợp, phân tích các sự vật, sự việc.
c. Thái độ
- Góp phần bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách
cho HS.
- Bồi dưỡng cho HS thêm yêu thích môn học.
1.1.3.2. Nội dung chương trình TLV lớp 5
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 13
*Chương trình TLV lớp 5 được thiết kế tổng cộng 62 tiết/ năm. Trong đó,
văn miêu tả (gồm tả cảnh, tả người) có 35 tiết (ôn tập cả tả cây cối,con vật,đổ
vật ở lớp 4) được phân bố như sau:
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 14
Tuần 21
Tuần 24
Tuần 25
Tuần 16
Tuần 27
2. Kiểm tra viết (tả cảnh)
Trả bài văn tả cảnh
Luyện tập tả cảnh (sông nước)
Luyện tập tả cảnh (sông nước – 2 tiết)
Luyện tả cảnh địa phương
Trả bài văn tả cảnh
Luyện tập tả người
Luyện tập tả người (tả hoạt động – 2 tiết)
Kiểm tra viết (tả người)
Trả bài văn tả người
Luyện tập tả người (2 tiết)
Viết bài văn tả người
Trả bài văn tả người
Ôn tập về tả đồ vật (2 tiết)
Viết bài văn tả đồ vật
Trả bài văn tả đồ vật
1. Ôn tập về tả cây cối
Tuần 29
Tuần 30
2. Viết bài văn tả cây cối
Trả bài văn tả cây cối
1. Ôn tập về tả con vật
miêu tả lớp 5 theo chương trình mới, việc áp dụng phương pháp dạy học theo
định hướng của GV. Từ đó xác định những khó khăn mà GV gặp phải khi dạy
văn miêu tả và các biện pháp khắc phục.
Mặt khác chúng tôi tìm hiểu tâm lý của học sinh lớp 5 và khảo sát thực
trạng học tập để thấy được những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, chúng tôi
đưa ra một số biện pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả cho
học sinh lớp 5
1.2.1.2.Nội dung khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát trên những nội dung sau:
- Tìm hiểu SGK, SGV và các đồ dùng dạy học phân môn TLV dạng văn
miêu tả.
- Hoạt động dạy và học văn miêu tả của học sinh lớp 5.
- Thái độ của học sinh khi tham gia học phân môn TLV.
1.2.1.3.Phương pháp khảo sát
- Phương pháp dự giờ trực tiếp.
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh.
- Phương pháp trắc nghiệm.
1.2.1.4.Thời gian và địa bàn khảo sát
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 16
- Thời gian tiến hành khảo sát: từ tháng 9 năm 2018 đến tháng 9 năm
2019
- Địa bàn khảo sát tại: Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch
1.2.1.5.
Kết quả khảo sát
13,3%
0%
Bảng 2: Mức độ sử dụng các đồ dùng dạy học
Đồ dùng
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không sử dụng
Tranh ảnh
5/15
10/15
0/15
Biểu bảng
3/15
12/15
0/15
Rèn luyện kỹ năng quan sát
15/15
0/15
Trau dồi vốn từ
10/15
5/15
8/15
7/15
Tạo động cơ, hứng thú học tập
cho học sinh
Bảng 4: Mức độ đặt những đề văn gây hứng thú cho học sinh
Mức độ
Có
Thỉnh thoảng
Không bao giờ
Số lượng
17/ 116
Tỷ lệ
43,1%
43,1%
13,7%
Bảng 2: Tài liệu khi học phân môn TLV
Các tài liệu
Số lượng
Tỷ lệ
Sách giáo khoa
116/ 116
100%
Vở bài tập tiếng Việt
110/ 116
94,8%
43,1%
37,9%
18,9%
Câu 4: Mức độ luyện viết văn ở nhà
Mức độ
Có
Thỉnh thoảng
Không
Số lượng
43/ 116
54/ 116
19/ 116
Tỷ lệ
37%
46,5%
a. Về phía giáo viên
Để nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn
TLV nói riêng, GV là người giữ vai trò quan trọng khi hướng dẫn HS trong quá
trình học tập. Qua khảo sát thực tế ở Trường Tiểu học số 1 Phúc Trạch. Chúng
tôi thấy rằng các GV tham gia dạy học khối lớp 5, hầu hết đều có quá trình
giảng dạy lâu năm nên tích lũy được kiến thức và kinh nghiệm tương đối vững
chắc. Tuy vậy, để dạy tốt phân môn TLV hay bất cứ phân môn nào, việc nhận
thức được tầm quan trọng của phân môn đó là cần thiết. Vì vậy, chúng tôi đã đưa
ra câu hỏi: “Theo thầy cô Tập làm văn là phân môn có vai trò như thế nào?” và
đã được 86,6% GV trả lời là rất quan trọng, còn 13,3% GV trả lời là bình
thường. Điều này cho thấy mỗi GV có nhận thức khác nhau về phân môn TLV.
Tuy nhiên, chúng ta phải khẳng định rằng, phân môn TLV giúp các em rèn khả
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 19
năng quan sát, miêu tả, tư duy trừu tượng. Vì vậy, GV không thể xem nhẹ hay lơ
là quá trình dạy học.
Đối với HS, việc học TLV đôi khi không dễ dàng. Bên cạnh những thuận
lợi các em vẫn gặp không ít những khó khăn. Tư duy của các em còn mangtính
cụ thể, những gì các em nhìn thấy sẽ giúp các em ghi nhớ tốt hơn và hứng thú
hơn.
Do đó, đồ dùng trực quan là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong giờ
học. Để biết các thầy cô sử dụng đồ dùng trực quan thế nào trong giờ TLV
chúng tôi có câu hỏi: “Khi dạy Tập làm văn thầy cô thường sử dụng đồ dùng
trực quan nào?” thì thu được mức độ sử dụng đồ dùng dạy học thường xuyên là
thấp. Như vậy việc đầu tư thiết bị, phương tiện dạy học còn rất hạn chế.
khơi gợi cho các em những cảm xúc miêu tả thú vị, bất ngờ…
- Khó khăn:
+ Lên lớp 5, HS mới bắt đầu học cách lập dàn ý, dựng đoạn và viết thành
bài văn hoàn chỉnh. Hơn nữa, khả năng ngôn ngữ của các em còn hạn chế.
Mỗi bài văn miêu tả hay lại đòi hỏi khả năng tưởng tượng và sử dụng ngôn
ngữ diễn đạt thật sinh động. Thực tế cho thấy, đa số HS lớp 5 viết văn miêu tả
chưa hay, sắp xếp ý còn lộn xộn, lủng củng, hình ảnh trong bài văn còn chưa gợi
tả, ít liên tưởng hoặc chỉ là sao chép một cách sống sượng bài văn mẫu.
+ TLV là phân môn khó dạy, khó học và khó đạt hiệu quả cao đã là nhận
thức chung của nhiều thầy cô giáo dạy lớp 5.
+ Việc sử dụng đồ dùng dạy học chưa phổ biến vì trình độ của HS không
đồng đều nên đôi khi sử dụng tốn nhiều thời gian.
+ Về phía nhà trường, dù đã được đầu tư một hệ thống cơ sở vật chất, trang
thiết bị đầy đủ đặc biệt là có giáo án giảng bằng điện tử nhưng do trình độ tin
học, tiếng Anh còn hạn chế nên việc sử dụng phần mềm powerpoint vào giảng
dạy chương trình tiếng Việt nói chung và phân môn TLV nói riêng chưa phổ
biến dẫn đến chưa phát huy hết được năng lực của GV và HS.
b. Về phía học sinh
Nhìn chung, HS khối 5 trong nhà trường đã có hứng thú học tập đối với
phân môn TLV, phần lớn các em tỏ ra yêu thích môn này. Vì vậy, khi chúng tôi
đưa ra câu hỏi: “Em có thích học phân môn Tập làm văn không?” thì có đến
43,1% HS trả lời là có, 45,6% trả lời bình thường, 13,7% là không thích.
Điều đó chứng tỏ rằng, các em đã ý thức được phần nào tầm quan trọng của
phân môn TLV nhưng chưa thực sự yêu thích phân môn này.
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 21
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 22
hưởng tới hiệu quả dạy học phân môn TLV nói riêng, các phân môn khác trong
chương trình tiếng Việt nói chung. Bởi vậy, giáo dục ý thức tự giác trong dạy
học dạng viết văn miêu tả cho các em cũng gặp phải không ít những khó khăn
đó là:
Sự phân hóa giữa các HS trong một lớp và giữa các lớp về khả năng nhận
thức. Có em học tốt và vận dụng những hiểu biết vào học tập rất hiệu quả. Tuy
nhiên, số lượng này không nhiều, còn rất nhiều em khả năng hiểu biết và vận
dụng còn yếu. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy và sáng tạo của các
em trong quá trình viết văn.
1.2.2. Thực trạng về kết quả viết văn miêu tả cho học sinh 5 trường
tiểu học số 1 Phúc Trạch
Để tìm hiểu thực trạng về kết quả viết văn miêu tả cho HS lớp 5 Trường
Tiểu học số 1 Phúc Trạch. Chúng tôi đã tiến hành điều tra 116 HS lớp 5 bằng
phiếu điều tra.
Chúng tôi đã tiến dựa trên chương trình SGK lớp 5 để thiết kế phiếu điều
tra, với nội dung phiếu điều tra như sau:
Đề bài: Em hãy tả một con vật nuôi trong gia đình mà em yêu thích nhất.
Sau quá trình điều tra, chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân tích bài làm của
HS và thu được những nhận xét sau đây:
Đa số các em có tinh thần học tập, hứng thú khi thực hiện bài nhưng trong
quá trình làm bài các em chưa có kỹ năng quan sát, hồi tưởng nhanh nên thời
gian tiết học không đủ cho các em hoàn thiện bài văn nên chất lượng bài viết
chưa cao. HS mắc lỗi trong khi viết văn còn nhiều. Cụ thể các lỗi như sau:
Thứ nhất, về viết câu và dùng từ
quên xuống dòng để viết thân bài nên dẫn tới bài văn của các em không đẹp về
bố cục, về cách trình bày. Nguyên nhân của tình trạng trên đó là, HS chưa nắm
chắc được bố cục của một bài văn miêu tả.
Thứ tư, về lỗi chính tả
Đa số HS trong trường là HS dân tộc nên vốn ngôn ngữ của các em còn hạn
chế, HS thường giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ địa phương cho nên tình trạng
HS nói sai phương ngữ phổ thông dẫn đến tình trạng viết sai chính tả rất nhiều,
chủ yếu là l/ n, v/ b, tr/ ch.
Như vậy, qua việc khảo sát thực trạng về kết quả viết văn miêu tả của HS
lớp 5 ở trường tiểu học. Chúng tôi thấy rằng: HS đã chú ý và có hứng thú song
hiệu quả còn chưa cao vì còn mắc một số lỗi phổ biến như:
SVTH: Anh Lung Quảng Bình
Page 24
- HS viết sai lỗi chính tả.
- Chưa hiểu rõ được đặc điểm cơ bản của bài văn miêu tả, chưa phân biệt
được sự khác biệt giữa văn bản miêu tả với các kiểu bài khác.
- Lạc đề, chưa xác định rõ mục đích, yêu cầu của đầu bài.
- Chưa xác định được trọng tâm đề bài cần miêu tả.
- Kỹ năng lựa chọn từ ngữ, dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn, kỹ năng diễn
đạt còn hạn chế.
- Chưa biết cách sắp xếp ý khi viết bài, bố cục thiếu rõ ràng chưa khoa học.
- Vốn từ ngữ còn nghèo nàn, khuôn sáo, quan sát sự vật còn hời hợt.
- HS chưa biết cách sử dụng các biện pháp nghệ thuật khi miêu tả.
- Trong tiết trả bài, HS chưa được sửa lỗi và tự sửa lỗi kỹ càng, đầy đủ, các
em cảm thấy nặng nề, thất vọng về bài viết của mình.
- HS chưa thực sự cảm thấy yêu môn học.