A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môn tập làm văn là một môn học chính trong chương trình, bản thân tôi đang là
giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, nên bản thân cần phải nỗ lực phấn đấu đảm
nhiệm chức trách của mình đối với học sinh . Nhìn từ phía khoa học và công nghệ thì
đây là thời đại văn minh thông tin với nền kinh tế dựa trên tri thức. Thời đại văn minh
mới này là một bước phát triển vượt bậc so với thời đại văn minh nông nghiệp với nền
kinh tế dựa trên công nghệ là chính. Những đặc điểm chủ yếu của thời đại văn minh
thông tin có thể tóm tắt trong bốn yếu tố: Thông tin- Tri thức trở thành tài nguyên quan
____________________________________________________________________
____NGIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG TIỂU HOC – có tại o
1
trọng nhất. Khoa học- Công nghệ trở thành lực lượng sản xuất và trực tiếp. Hàm lượng
trí tuệ trong từng sản phẩm ngày càng tăng và cuối cùng là các loại máy tính và Internet
là phương tiện lao động phổ biến nhất và có hiệu quả nhất.
Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt: nghe, nói,
đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, thông qua
việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy. Cung cấp cho
học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự
nhiên, con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài. Đó là nhiemj vụ của
môn Tiếng Việt.
Học Tiếng Việt, học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản và tối thiểu cần
thiết giúp các em hòa nhập với cộng đồng và phát triển cùng với sự phát triển của xã
hội. Cùng với môn Toán và một số môn khác, những kiến thức của môn Tiếng Việt sẽ
là những hành trang trên bước đường đưa các em đi khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu thế
giới xung quanh và kho tàng tri thức vô tận của loài người. Trong đó phân môn Tập
làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp của tất cả các phân môn thuộc môn Tiếng
Việt. Chính vì thế, việc dạy và học Tập làm văn là vấn đề luôn cần có sự đổi mới.
Xuất phát từ mục đích, mục tiêu giáo dục cấp học, lớp học; từ vị trí, nhiệm vụ và
yêu cầu của phân môn Tập làm văn; từ một số tồn tại và vướng mắc trong quá trình dạy
Tập làm văn của cả giáo viên và học sinh; từ các chuyên đề, thực tế dự giờ, thăm lớp
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Chọn đề tài này để nghiên cứu, tôi đề ra những nhiệm vụ cho năm học 2013- 2014
như sau:
____________________________________________________________________
____NGIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG TIỂU HOC – có tại o
3
- Điều tra phân loại đối tượng học sinh lớp Năm của nhà trường. Từ đó mạnh dạn
áp dụng những biện pháp nhằm giúp học sinh yêu thích và học tốt kiểu bài miêu tả
trong chương trình Tiếng Việt lớp Năm.
- Trên cơ sở các giải pháp đã áp dụng, tôi sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm
trong dạy học kiểu bài miêu tả cho học sinh lớp Năm.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
Văn miêu tả là một trong những thể loại văn rất quen thuộc và phổ biến trong
cuộc sống cũng như trong các tác phẩm văn học. Đây là loại văn có tác dụng rất lớn
trong việc tái hiện đời sống, hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả
năng nhận xét, đánh giá của con người. Với đặc trưng của mình, những bài văn miêu tả
làm cho tâm hồn, trí tuệ người đọc thêm phong phú, giúp ta cảm nhận được văn học và
cuộc sống một cách tinh tế hơn, sâu sắc hơn.
Chính vì thế, văn miêu tả được đưa vào nhà trường từ rất lâu và ngay từ bậc Tiểu
học. Đề tài của văn miêu tả với các em là những gì gần gũi, thân quen với thế giới trẻ
thơ, các em có thể quan sát được một cách dễ dàng, cụ thể như: chiếc cặp, cái bàn,
những vườn cây ăn quả mình yêu thích, những con vật nuôi trong nhà. Với học sinh lớp
5, chủ yếu là các em viết được một bài văn miêu tả ngắn.
Qua thực tế giảng dạy tại trường Tiểu học Cẩm Long, tôi nhận thấy phân môn
Tập làm văn là phân môn khó trong các phân môn của môn Tiếng Việt. Để thực hiện
được mục tiêu của phân môn Tập làm văn là xây dựng các văn bản (nói và viết), học
sinh cần huy động tất cả các kiến thức tiếng Việt tiếp thu được qua việc họcTập đọc,
Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện… Trong khi đó, học sinh nhà trường với gần
____________________________________________________________________
5
b. Học sinh
- Học sinh chưa vận dụng được các kiến thức, kĩ năng đã học trong các phân môn
của Tiếng Việt, của các môn học khác, của các lớp dưới vào học tập môn tập làm văn.
Chẳng hạn khi dạy cho học sinh cấu tạo một bài văn tả cảnh, giáo viên phải hướng dẫn
học sinh tìm hiểu văn bản mẫu để rút ra nhận xét. Trong khi đó, nếu dựa trên kiến thức
đã học về văn miêu tả ở lớp Bốn để hình thành cho học sinh cấu tạo bài văn tả cảnh ở
lớp Năm rõ ràng là nhanh hơn.
- Học sinh của nhà trường đa số là học sinh dân tộc (DT) nên việc học tập của các
em gặp một số khó khăn sau:
+ Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh. Vốn tiếng Việt của các em rất hạn
chế. Trong khi đó, việc học kiểu bài miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp Năm lại
yêu cầu sử dụng vốn từ ngữ, năng lực tư duy rất lớn.
+ Vốn từ của học sinh chưa phong phú, các em chưa hiểu hết nghĩa của từ nên việc
vận dụng vào bài làm còn nhiều sai sót.
+ Chương trình tiếng Việt mới có rất nhiều ưu điểm trong việc phát huy sáng tạo
của học sinh nhưng lại tương đối nặng đối với đối tượng học sinh DT.
+ Đôi lúc, do nhiều nguyên nhân, một số giáo viên vẫn lạm dụng phương pháp làm
mẫu đối với học sinh DT dẫn đến tình trạng học sinh nhìn nhau, học thuộc bài văn mẫu.
+ Thời gian quy định đối với một tiết học cũng là một trong những nguyên nhân
ảnh hưởng đến việc dạy Tập làm văn trong nhà trường Tiểu học.
+ Trong các lớp vẫn còn rải rác một số học sinh học yếu, cá biệt có học sinh đọc
chưa thông, viết chưa thạo. Đây là một trở ngại lớn cho việc dạy học tập làm văn cho
học sinh. Với học sinh DT, yêu cầu đặt từng câu văn rời rạc còn khó, nói gì đến việc
hướng dẫn các em đặt một đoạn văn theo yêu cầu.
+ Hầu hết học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em phải phụ giúp với gia
đình trong công việc đồng áng. Việc bảo đảm chuyên cần cho học sinh DT rất khó. Các
em hay nghỉ học vì nhiều lí do như ở nhà giúp gia đình, đi chăn bò dê , đường xa( từ
khu Cao Long xuống trường khoảng 4 đến 6km hoặc nhiều khi chỉ vì “không muốn
____________________________________________________________________
7
triển năng lực học văn của học sinh năng khiếu. Đồng thời, giáo viên cũng có biện pháp
phù hợp giúp học sinh yếu, học sinh DT biết làm văn miêu tả, có thể vận dụng làm được
một bài văn hoàn chỉnh.
2. Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát.
Quan sát theo trình tự từ xa đến gần, từ trong ra ngoài, từ tổng quát đến cụ thể…
Ghi chép những điều đã quan sát được. Tổ chức cho học sinh quan sát cụ thể đối tượng
tả. Có thể hướng dẫn quan sát theo nhiều hình thức: quan sát trực tiếp đối tượng (sân
trường), quan sát ở nhà, ghi chép (ngôi nhà em đang ở), quan sát qua phim ảnh (cảnh
biển buổi sáng) …
3. Chọn đề tài gần gũi, quen thuộc đối với học sinh
- Học sinh tiểu học vùng thuận lợi có thể viết được những bài văn miêu tả chỉ bằng
quan sát qua tranh ảnh, phim… Nhưng đối với học sinh DT của trường, những đề tài
tương đối xa lạ là điều cần tránh. Các em đến trường học tập bằng ngôn ngữ thứ hai với
một vốn tiếng Việt tương đối hạn chế mà giáo viên lại yêu cầu học sinh hình dung, đặt
câu, viết một bài văn miêu tả một đối tượng các em chưa nhìn thấy bao giờ thì đúng là
điều quá sức các em.
- Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là không cho học sinh có cơ hội phát huy
trí tưởng tượng của mình. Trong một lớp học luôn có nhiều đối tượng học sinh (Như đã
nói ở phần đặc điểm tình hình học sinh). Khi ra đề cho học sinh, người thầy luôn tạo
cho các em quyền chọn lựa bằng cách ra nhiều đề (từ 2 đến 4 đề bài) để các đối tượng
học sinh trong lớp đều có thể tự do chọn đề bài, tránh sự áp đặt.
Với nhiều đề bài lựa chọn, các em học sinh có thể chọn đối tượng tả là một nhân
vật quen thuộc, gần gũi. Nhưng với một vài học sinh khác, các em cũng có thể chọn tả
ca sĩ đang biểu diễn với rất nhiều chi tiết sống động mà các em đã có dịp quan sát qua
các đêm xem biểu diễn ca nhạc.
____________________________________________________________________
____NGIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG TIỂU HOC – có tại o
8
tâm đến từng em. Đối với học sinh trung bình, học sinh yếu, giáo viên có thể hướng dẫn
cụ thể cho các em bằng những gợi ý như:
Em hãy nói tình cảm của mình với ngôi trường (Yêu, ghét)? (Em rất yêu ngôi
trường.) Em thể hiện tình yêu đó bằng việc làm như thế nào? (Em trồng cây, chăm sóc
bồn hoa để trường em ngày càng đẹp hơn. Hay: Em không bao giờ phá phách làm hỏng
đồ đạc hay bẻ cây trong nhà trường.)
- Tuyệt đối không được hướng dẫn học sinh một cách đồng loạt để các em có
những câu văn chung chung, vô cảm kiểu như: “Cô giáo em có mái tóc đen huyền,
mượt như nhung. Đôi mắt cô đen trong và sáng long lanh. Nước da cô trắng mịn như
sữa.” Cô giáo hay người mẫu? Và đây là cô giáo nào?
Hay “Trường em có 1 dãy nhà 2 tầng. 1 dãy nhà cho các thầy cô giáo. 1 dãy nhà
cho các em đọc sách. Giờ ra chơi, các bạn ùa ra khỏi sân trường như đàn ong vỡ tổ.”
Học sinh tả ngôi trường nào đây?
Phải hướng dẫn để học sinh tìm ra những nét đặc sắc của cảnh. Những nét đặc sắc
đó giúp người đọc hình dung được cảnh vật cụ thể mà không lẫn lộn với cảnh vật khác.
Ví dụ: Để hướng dẫn học sinh tả ngôi trường thân yêu, tôi cho học sinh quan sát, tìm ý
và chọn những chi tiết tả thực mà chỉ ở trường TH Cẩm Long mới có. Đó là những
đoạn văn của học sinh:
“Trường em nằm trên một khu đất rộng dưới chân một quả đồi thoai thoải. Trước
cổng trường dốc là ngã tư của làng Vân Long. Mùa nắng, sân trường mát rượi bóng
cây. Mùa xuân và mùa hè, cả khu trường ngập tràn mùi hương của thật nhiều loài hoa.
Mùa thu, lại ngập tràn mùi thơm của hương hoa sữa. Trong khuôn viên trường, có rất
nhiều ô để dành riêng cho những cây hoa, cây cảnh; đặc biệt có một ô được xây thành
hình ông sao năm cánh, mỗi ô là một loài hoa, ở giữa ông sao là một cây vạn tuế thật
____________________________________________________________________
____NGIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG TIỂU HOC – có tại o
10
lớn.Tung bay trong làn gió là hàng trăm lá cờ màu hồng được treo thành những dây
dài trông thật đẹp mắt, nó đã tặng cho sân trường một vẻ đẹp thật lớn ”
“Ngôi nhà em không giống bất cứ ngôi nhà nào của các bạn trong lớp. Đó là một
không ngừng biến đổi. Người viết văn không thể “vẽ” được một cảnh một người nếu
bản thân người ấy thiếu vốn từ, vốn sống.
Làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là giúp cho các em nắm một số từ gợi tả để
có thể dùng trong miêu tả. Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh tìm các từ ngữ gợi tả mái
tóc (vàng hoe, đen nhánh, bạc phơ, hoe vàng, cháy nắng, óng ả, rễ tre, xoăn tít…),
khuôn mặt (bầu bĩnh, vuông chữ điền, trái xoan, khắc khổ…), nước da (trắng trẻo, trắng
hồng, ngăm ngăm, bánh mật, đen sạm…), dáng người (nhỏ nhắn, gầy gò, đẫy đà, to
khỏe, cao cao…), nụ cười (khành khạch, mủm mỉm, ha hả, toe toét…).
Cho học sinh tìm từ bằng các hình thức như: quan sát thực tế (quan sát bạn), quan
sát tranh ảnh, xem phim, đọc sách truyện, nhất là qua các phân môn của Tiếng Việt
hoặc các môn học khác. Ví dụ: Dạy Luyện từ và câu bài từ đồng nghĩa, giáo viên gợi ý
cho học sinh tìm các từ gợi tả đồng nghĩa như bao la, mênh mông, bát ngát.
Qua hình thức trò chơi như: tìm từ láy âm gợi tả hình ảnh
Học sinh chia làm nhóm 4, từng nhóm lần lượt nêu một từ láy âm gợi tả hình ảnh
rồi chỉ nhóm khác:
Mênh mông - nho nhỏ - đủng đỉnh – lung linh – mượt mà - đẫy đà - cứng cáp –
thướt tha - mơn mởn – cuồn cuộn – nhanh nhẹn – nũng nịu…
Trên cơ sở những từ láy tìm được, giáo viên tiếp tục cho học sinh xác định những
từ láy chỉ dùng để tả người: nho nhỏ - đủng đỉnh – mượt mà - đẫy đà - cứng cáp – thướt
tha - nhanh nhẹn - nũng nịu…
9. Giúp học sinh luyện viết câu
- Trước hết, mọi học sinh phải viết được câu văn đúng ngữ pháp. Đây là yêu cầu
cơ bản vì câu là đơn vị của lời nói. Đối với học sinh giỏi, giáo viên yêu cầu học sinh đặt
____________________________________________________________________
____NGIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG TIỂU HOC – có tại o
12
câu đúng ngữ pháp, giàu hình ảnh, lột tả được sắc thái riêng của đối tượng miêu tả. Còn
đối với học sinh yếu, học sinh trung bình, giáo viên hướng dẫn học sinh đặt được câu
đúng, thể hiện được ý cần nói. Ví dụ:
Với học sinh yếu: Tóc bạn Mi hơi vàng.
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu để cảm nhận cái hay, cái đẹp qua việc đọc một đoạn
văn được giáo viên tiến hành qua nhiều tiết học. Cảm nhận được cái hay, cái đẹp, các
em sẽ hình thành những cảm xúc thẩm mĩ, giúp cho việc học tập làm văn tốt hơn, nhất
là văn miêu tả.
- Để hướng dẫn tìm hiểu cảm nhận cái hay, cái đẹp của đoạn văn, giáo viên hướng
dẫn học sinh hình thành thói quen suy nghĩ, tự đặt và ghi các câu hỏi xoay quanh nội
dung đoạn văn. Kết quả học sinh đặt ra các câu hỏi như:
Đoạn văn trên miêu tả đặc điểm gì của nhân vật?
Đoạn văn trên có những từ láy nào gợi tả hình ảnh của nhân vật?
Đoạn văn trên có những hình ảnh so sánh nào?
Em có suy nghĩ gì sau khi đọc đoạn văn trên? …
12. Rèn kĩ năng sắp xếp, diễn đạt ý
- Đề bài: Em hãy tả một người bạn thân của em.
Học sinh quan sát, viết nhanh ra giấy những điều đã quan sát được:
+ Thu Phương học chung lớp với em.
+ Bạn chơi thân với em từ năm lớp Ba.
+ Chúng em rất thân nhau.
+ Em sẽ cố gắng sống thật tốt với Thu Phương để tình bạn của chúng em mãi
mãi bền lâu.
+ Mỗi khi bạn nghỉ học, em cứ cảm thấy nhớ nhớ.
+ Bạn có nước da ngăm ngăm của một người đã quen dãi dầu nắng mưa.
____________________________________________________________________
____NGIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG TIỂU HOC – có tại o
14
+ Thầy giáo rất hay khen bạn vì bạn hay phát biểu và hiểu bài rất nhanh.
+ Nhiều lúc, đi chăn dê, Phương để đầu trần, đi chân không.
+ Bạn rất hay cười.
+ Bạn có đôi mắt to rất đẹp với hàng lông mi dài, cong.”
+ Bằng tuổi em nhưng bạn ấy đứng chỉ đến vai em.
+ Mái tóc bạn không đen như tóc em mà vàng hoe, khen khét mùi nắng.
chọn được những chi tiết đặc sắc, tiêu biểu ta mới vẽ được một nhân vật mang những cá
tính riêng. Bạn học sinh trong bài là một học sinh miền núi với những đặc điểm riêng,
cá tính riêng không lẫn với bất cứ một bạn học sinh nào khác. Đoạn kết bài mang đậm
dấu ấn cá nhân của người viết. Không thể có đoạn kết bài chung cho mọi học sinh. Giáo
viên cần hướng dẫn học sinh nêu được cảm xúc tự nhiên, chân thật, không sáo rỗng
kiểu như: Em rất yêu quý bạn…
IV. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN
Sau một thời gian thực hiện, theo nhận định của tôi, chất lượng học tập kiểu bài
miêu tả trong phân môn Tập làm văn lớp Năm có sự chuyển biến rõ rệt.
Kết quả khảo sát đầu năm - Môn Tiếng Việt - Năm học 2013 – 2014:
Tổng
số
Nữ
Dưới 5 Điểm 5-6 Điểm 7-8 Điểm 9-10
TS % TS % TS % TS %
Lớp 5A 22 15 7 31.8 8 36.4 6 27.3 1 4.5
Kết quả bài kiểm tra viết của học sinh trong tháng 10/2013
____________________________________________________________________
____NGIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG TIỂU HOC – có tại o
16
Đề bài:
Hãy tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em trong nhiều năm qua.
Số HS
làm bài
Điểm
Giỏi Khá Trung Bình Yếu
TS % TS % TS % TS %
Lớp 5A 22 3 13.7 6 27.2 11 50.00 2 9.1
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
tả không có ở địa phương để mở rộng hiểu biết cho các em.
+ Phương pháp rèn luyện theo mẫu: Dựa vào văn bản mẫu, học sinh tạo lập các
văn bản mới theo nét riêng của các em.
+ Phương pháp thực hành giao tiếp: Tạo điều kiện cho mọi đối tượng học sinh
được trình bày sản phẩm của mình, được tranh luận để tìm ra cái mới.
II. KIẾN NGHỊ
Với những kết quả ban đầu thu được sau một thời gian áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm “Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp Năm”, tôi đề
nghị Nhà trường tổ chức khảo nghiệm và có ý kiến góp ý, chỉ đạo để tôi tiếp tục hoàn
chỉnh đề tài.
Nếu được công nhận, đề nghị Nhà trường tạo điều kiện cho tôi tiếp tục triển khai
đề tài trong nhà trường để góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt nói riêng,
chất lượng dạy học cho học sinh lớp Năm nói chung.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN do chính tôi viết
Không sao chép nội dung của người khác
XÁC NHẬN CỦA BGH Cẩm Long, Ngày 05 tháng 11 năm 2013
____________________________________________________________________
____NGIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG TIỂU HOC – có tại o
18
NGƯỜI VIẾT
Nguyễn Khang Thông
Môn học:
Đạt giải:
Tác giả:
Trường :
Huyện
Tỉnh:
____________________________
Mời thầy cô và các bạn hãy vào o để có tất cả các Nghiên cứu
khoa học sư phạm ứng dụng tiểu học, các sáng kiến kinh nghiệm, giáo án tổng