S¸ng kiÕn kinh nghiƯm: Mét sè biƯn ph¸p rÌn kÜ n¨ng miªu t¶ cho häc sinh líp N¨m
============================================================================
S¸ng kiÕn kinh nghiƯm:
Một số biện pháp
rèn kó năng làm văn miêu
tả cho học sinh lớp Năm
A. PhÇn më ®Çu
I. LÝ do ®Ị xt s¸ng kiÕn kinh nghiƯm
iÕng ViƯt lµ tiÕng phỉ th«ng cđa d©n téc ViƯt. Trong nhµ trêng tiĨu häc,
tiÕng ViƯt lµ ®èi tỵng mµ häc sinh cÇn chiÕm lÜnh. §ång thêi, TiÕng ViƯt
còng lµ mét m«n häc: m«n TiÕng ViƯt. M«n TiÕng ViƯt ë bËc TiĨu häc cã
nhiƯm vơ h×nh thµnh vµ ph¸t triĨn cho häc sinh c¸c kÜ n¨ng sư dơng tiÕng ViƯt
nh nghe, nãi, ®äc, viÕt ®Ĩ häc tËp vµ giao tiÕp trong c¸c m«i trêng ho¹t ®éng løa
ti, gãp phÇn rÌn lun c¸c thao t¸c t duy. M«n TiÕng ViƯt cßn cung cÊp cho
häc sinh nh÷ng kiÕn thøc s¬ gi¶n vỊ tiÕng ViƯt. Häc tiÕng ViƯt, häc sinh cßn ®-
ỵc båi dìng t×nh yªu tiÕng ViƯt, h×nh thµnh thãi quen gi÷ g×n sù trong s¸ng cđa
tiÕng ViƯt, gãp phÇn h×nh thµnh nh©n c¸ch con ngêi ViƯt Nam x· héi chđ nghÜa.
T
Trong ch¬ng tr×nh TiĨu häc míi, m«n TiÕng ViƯt ®ỵc chia thµnh c¸c ph©n
m«n, mçi m«n cã nhiƯm vơ rÌn cho häc sinh mét sè kÜ n¨ng nhÊt ®Þnh. Ph©n
m«n TËp lµm v¨n lµ ph©n m«n mang tÝnh tỉng hỵp cao nhÊt. Ph©n m«n TËp lµm
v¨n rÌn cho häc sinh c¶ bèn kÜ n¨ng, trong ®ã chó träng vµo c¸c kÜ n¨ng nghe,
nãi, viÕt. §èi víi ph©n m«n nµy, häc sinh ph¶i ®ỵc h×nh thµnh vµ rÌn lun
n¨ng lùc tr×nh bµy v¨n b¶n (nãi vµ viÕt) ë nhiỊu thĨ lo¹i kh¸c nhau.
Qua thùc tÕ gi¶ng d¹y t¹i trêng TiĨu häc Ngun B¸ Ngäc, t«i nhËn thÊy
ph©n m«n TËp lµm v¨n lµ ph©n m«n khã trong c¸c ph©n m«n cđa m«n TiÕng
ViƯt. §Ĩ thùc hiƯn ®ỵc mơc tiªu cđa ph©n m«n TËp lµm v¨n lµ x©y dùng c¸c v¨n
b¶n (nãi vµ viÕt), häc sinh cÇn huy ®éng tÊt c¶ c¸c kiÕn thøc tiÕng ViƯt tiÕp thu
®ỵc qua viƯc häc TËp ®äc, ChÝnh t¶, Lun tõ vµ c©u, KĨ chun Trong khi…
®ã, häc sinh nhµ trêng víi gÇn ba phÇn t lµ häc sinh DTTS nªn viƯc gióp c¸c em
1. Phạm vi nghiên cứu
Nhằm đi sâu vào một vấn đề và chỉ dừng ở mức độ sáng kiến kinh nghiệm
nên tôi chỉ giới hạn đề tài trong phạm vi nghiên cứu việc dạy học kiểu bài miêu
tả cho học sinh lớp Năm. Với phạm vi nghiên cứu hẹp nh vậy, tôi hi vọng sẽ thu
đợc nhiều kết quả khả quan, góp phần thực hiện nhiệm vụ giáo dục của một nhà
giáo trong giai đoạn mới.
2. Đối tợng nghiên cứu:
Học sinh lớp 5A và 5B trờng Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc, thị xã Kon Tum,
tỉnh Kon Tum. Trong quá trình áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, tôi có chú ý
phân loại đối tợng học sinh theo trình độ và đối tợng học sinh dân tộc thiểu số.
Tổng số Dân tộc Nữ Nữ dân tộc Ghi chú
Lớp 5A 24 13 15 9
Lớp 5B 23 12 14 5
Tổng số 47 25 29 14
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kĩ năng miêu tả cho học sinh lớp Năm
============================================================================
Chọn đề tài này để nghiên cứu, tôi đề ra những nhiệm vụ cho từng giai
đoạn nh sau:
1. Giai đoạn 1: (Năm học 2007 2008):
+ Điều tra phân loại đối tợng học sinh lớp Năm của nhà trờng. Từ đó mạnh
dạn áp dụng những biện pháp nhằm giúp học sinh yêu thích và học tốt kiểu bài
miêu tả trong chơng trình Tiếng Việt lớp Năm.
+ Trên cơ sở các giải pháp đã áp dụng, tôi sẽ rút ra những bài học kinh
nghiệm trong dạy học kiểu bài miêu tả cho học sinh lớp Năm.
2. Giai đoạn 2: (Năm học 2008-2009)
Trang 3
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kĩ năng miêu tả cho học sinh lớp Năm
============================================================================
- Học sinh của nhà trờng đa số là học sinh dân tộc thiểu số (DTTS). Với
đối tợng này, việc học tập của các em gặp một số khó khăn sau:
+ Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của học sinh. Vốn tiếng Việt của các em
rất hạn chế. Trong khi đó, việc học kiểu bài miêu tả trong phân môn Tập làm
văn lớp Năm lại yêu cầu sử dụng vốn từ ngữ, năng lực t duy rất lớn.
+ Vốn từ của học sinh cha phong phú, các em cha hiểu hết nghĩa của từ
nên việc vận dụng vào bài làm còn nhiều sai sót.
+ Chơng trình tiếng Việt mới có rất nhiều u điểm trong việc phát huy sáng
tạo của học sinh nhng lại tơng đối nặng đối với đối tợng học sinh DTTS.
+ Đôi lúc, do nhiều nguyên nhân, một số giáo viên vẫn lạm dụng phơng
pháp làm mẫu đối với học sinh DTTS dẫn đến tình trạng học sinh nhìn nhau,
học thuộc bài văn mẫu.
+ Thời gian quy định đối với một tiết học cũng là một trong những nguyên
nhân ảnh hởng đến việc dạy Tập làm văn trong nhà trờng Tiểu học.
+ Trong các lớp vẫn còn rải rác một số học sinh học yếu, cá biệt có học
sinh đọc cha thông, viết cha thạo. Đây là một trở ngại lớn cho việc dạy học tập
làm văn cho học sinh. Với số học sinh này, yêu cầu đặt từng câu văn rời rạc còn
khó, nói gì đến việc hớng dẫn các em đặt một đoạn văn theo yêu cầu.
+ Hầu hết học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn, các em phải phụ giúp
với gia đình trong công việc đồng áng. Việc bảo đảm chuyên cần cho học sinh
DTTS rất khó. Các em rất hay nghỉ học vì nhiều lí do nh ở nhà giúp gia đình, đi
mót mủ cao su, mót mì, đi chăn bò dê hoặc nhiều khi chỉ vì không muốn
đến lớp. Đi học không đều, việc tiếp thu bài của các em chắc chắn sẽ bị ảnh h-
ởng rất nhiều.
+ Kĩ năng làm văn miêu tả của học sinh DTTS hầu nh không có. Các em
+ Một khó khăn nữa là nhiều học sinh viết chữ cha đẹp, nếu không nói là
rất xấu, sai chính tả. Nhiều bài văn có chữ viết lem nhem, đầy vết bẩn. Có bài
viết, số chữ sai chính tả nhiều hơn số chữ viết đúng. Với một bài văn đầy lỗi
chính tả, tẩy xóa thì việc đọc lại bài, trau chuốt câu văn, sửa ý, sửa từ quả là rất
khó.
c. Cha mẹ học sinh
+ Cha mẹ các em hầu nh không quan tâm đến các em do phải vất vả mu
sinh, do nhận thức cha đúng về giáo dục, do trình độ không có
II. Một số biện pháp đã áp dụng nhằm giúp
học sinh học tốt kiểu bài miêu tả trong phân
môn Tập làm văn lớp Năm.
1. Điều tra phân loại học sinh
Giáo viên điều tra phân loại học sinh, nắm chắc từng đối tợng học sinh:
học sinh năng khiếu, trung bình, học sinh yếu. Nắm chắc đợc đối tợng học sinh,
giáo viên sẽ đề ra đợc kế hoạch dạy học phù hợp, có những biện pháp dạy học
giúp vun xới, phát triển năng lực học văn của học sinh năng khiếu. Đồng thời,
giáo viên cũng có biện pháp phù hợp giúp học sinh yếu, học sinh DTTS biết làm
văn miêu tả, có thể vận dụng làm đợc một bài văn hoàn chỉnh.
2. Rèn cho học sinh kĩ năng quan sát.
Quan sát theo trình tự từ xa đến gần, từ trong ra ngoài, từ tổng quát đến cụ
thể Ghi chép những điều đã quan sát đ ợc. Tổ chức cho học sinh quan sát cụ
thể đối tợng tả. Có thể hớng dẫn quan sát theo nhiều hình thức: quan sát trực
tiếp đối tợng (sân trờng), quan sát ở nhà, ghi chép (ngôi nhà em đang ở), quan
sát qua phim ảnh (cảnh biển buổi sáng)
3. Chọn đề tài gần gũi, quen thuộc đối với học sinh
- Học sinh tiểu học vùng thuận lợi có thể viết đợc những bài văn miêu tả
chỉ bằng quan sát qua tranh ảnh, phim Nh ng đối với học sinh DTTS của tr-
ờng, những đề tài tơng đối xa lạ là điều cần tránh. Các em đến trờng học tập
bằng ngôn ngữ thứ hai với một vốn tiếng Việt tơng đối hạn chế mà giáo viên lại
yêu cầu học sinh hình dung, đặt câu, viết một bài văn miêu tả một đối tợng các
sự sáng tạo của các em, dù là rất nhỏ.
Dựa trên một đề văn cụ thể, giáo viên hớng dẫn học sinh vận dụng các kiến
thức kĩ năng đã học về đề văn đó để làm nhiều bài khác nhau, nhất là với đối t-
ợng học sinh trung bình, yếu. Ví dụ:
+ Học bài văn tả ngời thân, học sinh tả ông nội. Khi gặp một đề văn yêu
cầu tả một ngời hàng xóm, học sinh có thể sử dụng thứ tự miêu tả, bố cục, các
biện pháp nghệ thuật đã sử dụng ở đề bài trớc để thực hiện làm đề bài thứ hai.
Tất nhiên, giáo viên phải giúp học sinh tránh sự sao chép nguyên văn.
6. Cá thể hóa hoạt động dạy học
- Quan tâm đến đối tợng học sinh trung bình, yếu đồng thời vẫn đảm bảo
phát triển năng lực cảm thụ văn học đối với học sinh khá giỏi. Ví dụ:
+ Bài làm của một học sinh giỏi: Ngoài ngôi nhà thân yêu đã gắn bó với
tuổi thơ của em thì trờng em chính là ngôi nhà thứ hai. Trờng em mang tên tr-
ờng Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc. Đi đâu xa, em nhớ nhà và mỗi khi về nhà thì
em lại nhớ đến ngôi trờng thân yêu.
+ Bài của một học sinh trung bình: Trờng em mang tên trờng Tiểu học
Nguyễn Bá Ngọc thân yêu. Trờng nằm bên con đờng đất đỏ.
+ Bài của một học sinh yếu: Em học ở trờng Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc.
Trang 6
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kĩ năng miêu tả cho học sinh lớp Năm
============================================================================
- Khi học sinh đặt câu nêu cảm nghĩ của mình ở phần kết bài, giáo viên
phải quan tâm đến từng em. Đối với học sinh DTTS, học sinh yếu, giáo viên có
thể hớng dẫn cụ thể cho các em bằng những gợi ý nh:
Em hãy nói tình cảm của mình với ngôi trờng (Yêu, ghét)? (Em rất yêu
ngôi trờng.) Em thể hiện tình yêu đó bằng việc làm nh thế nào? (Em trồng cây,
chăm sóc bồn hoa để trờng em ngày càng đẹp hơn. Hay: Em không bao giờ phá
phách làm hỏng đồ đạc hay bẻ cây trong nhà trờng.)
mẹ em. Giống nhất là cả mẹ và cô đều mong em đạt danh hiệu học sinh Giỏi
vào cuối năm nay. Chỉ có khác là mẹ thì hứa thởng cho em về quê ngoại chơi
còn cô thì chẳng hứa thởng gì cả.
7. Chấm bài thờng xuyên.
Đồng thời với việc chấm bài là phải hớng dẫn học sinh sửa bài. Phải giúp
các em phát hiện ra những điểm hay, những điểm cha đạt trong bài văn của
Trang 7
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kĩ năng miêu tả cho học sinh lớp Năm
============================================================================
mình. Trên cơ sở đó, học sinh phải sửa lại bài làm của mình cho đúng hơn, hay
hơn.
Giáo viên cần tránh việc chê bai học sinh nhng cũng không đợc lạm dụng
lời khen, tạo sự thờ ơ của học sinh đối với lời khen do đợc khen quá nhiều, khen
không đúng lúc. Kiểu nh mỗi lần học sinh nói xong, nhiều lúc chỉ là nhận xét
bạn đã viết hoa đầu câu cha, giáo viên đều nhận xét Em giỏi lắm.
8. Làm giàu vốn từ cho học sinh
Nếu học kiểu bài kể chuyện học sinh chỉ tái hiện lại nội dung câu chuyện
đã nghe, đã đọc là có thể đạt đợc yêu cầu cơ bản của đề bài thì văn miêu tả đòi
hỏi phải có một vốn từ phong phú mới có thể làm bài. Thế giới quanh ta rất
phong phú đa dạng và không ngừng biến đổi. Ngời viết văn không thể vẽ đợc
một cảnh một ngời nếu bản thân ngời ấy thiếu vốn từ, vốn sống.
Làm giàu vốn từ cho học sinh có nghĩa là giúp cho các em nắm một số từ
gợi tả để có thể dùng trong miêu tả. Ví dụ: Giáo viên yêu cầu học sinh tìm các
từ ngữ gợi tả mái tóc (vàng hoe, đen nhánh, bạc phơ, hoe vàng, cháy nắng, óng
ả, rễ tre, xoăn tít ), khuôn mặt (bầu bĩnh, vuông chữ điền, trái xoan, khắc
khổ ), n ớc da (trắng trẻo, trắng hồng, ngăm ngăm, bánh mật, đen sạm ),
dáng ngời (nhỏ nhắn, gầy gò, đẫy đà, to khỏe, cao cao ), nụ c ời (khành khạch,
mủm mỉm, ha hả, toe toét ).
mùi nắng.
- Biết dùng dấu câu đúng, nhất là dấu chấm và dấu phẩy. Ngắt câu đúng sẽ
diễn đạt rõ ràng, ngời đọc, ngời nghe dễ dàng tiếp nhận thông tin. Việc dạy cho
học sinh sử dụng dấu câu đã đợc tiến hành từ các lớp dới và phải đợc thờng
xuyên ôn luyện cho học sinh. Giáo viên đa ra các trờng hợp sử dụng dấu câu ch-
a đúng để cả lớp nhận xét:
Trong lớp em ai cũng mến bạn Hoa.
Cột cờ cao chót vót lá cờ đỏ sao vàng phất phới bay
Sân trờng mát rợi bởi bóng của những cây bàng cây sữa
Học sinh trao đổi sửa chữa:
Trong lớp em, ai cũng mến bạn Hoa.
Cột cờ cao chót vót. Trên đỉnh cột cờ, lá cờ đỏ sao vàng phất phới bay.
Sân trờng mát rợi bởi bóng của những cây bàng, cây sữa.
10. Hớng dẫn học sinh tích lũy vốn kiến thức văn học
- Tích lũy văn học là điều kiện tối thiểu để có thể học tốt môn tiếng Việt,
nhất là phân môn Tập làm văn. Giáo viên đã cho học sinh sử dụng sổ tay chính
tả để ghi chép những tiếng khó, ghi những trờng hợp mắc lỗi chính tả đã đợc
sửa chữa. Trong môn Tập làm văn, đây cũng là một biện pháp tích cực để giúp
học sinh trau dồi vốn kiến thức văn học. Sổ tay văn học để cho học sinh ghi
chép các ý hay, câu đoạn văn hay. Việc ghi chép này không nhất thiết để cho
học sinh khi làm văn sẽ mở ra sử dụng nhng trớc hết, mỗi lần ghi chép, các em
sẽ đợc một lần đọc, ghi nhớ, bắt chớc, lâu dần thành thói quen. Khi làm bài,
những từ ngữ, hình ảnh, ý văn sẽ tự động tái hiện, giúp học sinh có thể vận dụng
làm văn.
11. Hớng dẫn học sinh tìm hiểu, cảm nhận cái hay, cái đẹp của một
đoạn văn
- Hớng dẫn học sinh tìm hiểu để cảm nhận cái hay, cái đẹp qua việc đọc
một đoạn văn đợc giáo viên tiến hành qua nhiều tiết học. Cảm nhận đợc cái hay,
cái đẹp, các em sẽ hình thành những cảm xúc thẩm mĩ, giúp cho việc học tập
+ Thuyết viết chữ rất đẹp. Bạn đã đợc chọn dự thi viết chữ đẹp cấp cụm,
cấp thị và đã đạt giải khuyến khích.
+ Cô giáo hay lấy bạn làm gơng cho chúng em noi theo để rèn chữ.
+ Mỗi khi bạn cời, hai lúm đồng tiền hiện rõ trên khuôn mạt ngăm đen.
+ Bạn không kình lộn với ai bao giờ.
Sau khi tìm ý, học sinh sẽ sắp xếp ý thành các đoạn mở bài, thân bài, kết
bài:
*Đoạn mở bài:
Em và Y Thuyết chơi thân với nhau từ năm lớp Ba. Chúng em rất thân
nhau, đi đâu chúng em cũng cặp kè bên nhau.
*Đoạn thân bài:
Bằng tuổi em nhng bạn Y Thuyết đứng chỉ đến vai em. Bạn có nớc da
ngăm ngăm của một ngời miền núi quen dãi dầu nắng ma. Nhiều lúc, đi chăn
dê, Y Thuyết để đầu trần, đi chân không nên mái tóc bạn không đen nh tóc em
mà vàng hoe, khen khét mùi nắng. Bạn rất hay cời. Mỗi khi bạn cời, hai lúm
đồng tiền hiện rõ trên khuôn mặt ngăm đen. Y Thuyết có đôi mắt to rất đẹp với
hàng lông mi dài, cong. Đôi mắt luôn ánh lên những tia nhìn hồn nhiên, chất
phác. Thuyết viết chữ rất đẹp. Bạn đã đợc chọn dự thi viết chữ đẹp cấp cụm,
cấp thị và đã đạt giải khuyến khích. Cô giáo hay lấy bạn làm gơng cho chúng
em noi theo để rèn chữ. Mấy hôm nay, cô Huệ đi công tác, thầy Hải dạy thay.
Thầy giáo rất hay khen Y Thuyết vì bạn hiểu bài rất nhanh và hay phát biểu.
Em cha bao giờ thấy Y Thuyết cãi nhau với ai.
*Đoạn kết bài:
Mỗi khi vắng Y Thuyết, em cứ cảm thấy nhớ nhớ. Em sẽ cố gắng chân
thành với Y Thuyết để tình bạn của chúng em mãi mãi bền lâu. Và nhất là em
phải cố gắng rèn chữ viết để có những trang chữ đẹp giống nh bạn.
Trang 10
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kĩ năng miêu tả cho học sinh lớp Năm
17.39
3
13.0
4
Tổng số 47 9 23
48.94
16
34.04
4
8.51
4
8.51
Kết quả bài kiểm tra viết của học sinh trong tháng 03/2008
Đề bài: Em hãy tả một ngời bạn của em.
Số HS
làm bài
Điểm
Yếu Trung Bình Khá Giỏi
TS % TS % TS % TS %
Lớp 5A 24 9
37.50
11
45.83
3
12.50
1
4.17
Lớp 5B 23 7
30.43
2. Nhiệm vụ quan trong bậc nhất của ngời giáo viên tiểu học là phải nắm
vững đối tợng học sinh, hiểu rõ trình độ và năng lực, hoàn cảnh và sở thích của
từng em cũng nh tâm sinh lí lứa tuổi học sinh. Phân loại đợc học sinh, ngời giáo
viên mới có thể áp dụng những pháp dạy học phù hợp với từng nhóm đối tợng
học sinh, với từng cá thể học sinh.
3. Giáo viên phải thờng xuyên nghiên cứu, dự giờ đồng nghiệp, tham dự
đầy đủ các lớp tập huấn chuyên môn để nắm bắt những thông tin về nội
dung, phơng pháp của chơng trình môn Tiếng Việt. Từ đó, giáo viên mới có thể
lập kế hoạch dạy học và kế hoạch bài học một cách khoa học, có sự tích hợp
giữa kiến thức các môn học và các lớp học với nhau.
4. Dạy Tập làm văn theo quan điểm tích hợp kiến thức, kĩ năng giữa bài tr-
ớc với bài sau, giữa các phân môn Tiếng Việt với nhau, giữa lớp dới với lớp
trên.
5. Sử dụng phối hợp nhiều phơng pháp nhằm khuyến khích học sinh bộc lộ
trí tuệ và cảm xúc của mình trong các ngôn bản mà các em tạo lập:
+ Phơng pháp phân tích ngôn ngữ: Trên cơ sở các văn bản mẫu, học sinh
khai thác, nhận biết kết cấu bài văn, trình tự miêu tả.
+ Phơng pháp trực quan: Học sinh phải đợc quan sát đối tợng miêu tả. Các
em có thể quan sát đối tợng tả trên thực tế ở lớp hoặc ở nhà, quan sát qua phim
ảnh. Vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học, tạo điều kiện cho học sinh
quan sát những đối tợng miêu tả không có ở địa phơng để mở rộng hiểu biết cho
các em.
+ Phơng pháp rèn luyện theo mẫu: Dựa vào văn bản mẫu, học sinh tạo lập
các văn bản mới theo nét riêng của các em.
+ Phơng pháp thực hành giao tiếp: Tạo điều kiện cho mọi đối tợng học
sinh đợc trình bày sản phẩm của mình, đợc tranh luận để tìm ra cái mới.
II. Kiến nghị
Với những kết quả ban đầu thu đợc sau một thời gian áp dụng sáng kiến
kinh nghiệm Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp
Năm, tôi đề nghị Nhà trờng tổ chức khảo nghiệm và có ý kiến góp ý, chỉ đạo
Trang 13
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: Mét sè biÖn ph¸p rÌn kÜ n¨ng miªu t¶ cho häc sinh líp N¨m
============================================================================ Trang 14
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kĩ năng miêu tả cho học sinh lớp Năm
============================================================================
1. Quỏ trỡnh thc hin : ( Nhng vic ó lm, thi gian, iu kin thc hin,
phng phỏp, bin phỏp thc hin)
2. Kt qu : ( Lu ý cú i chng vi tỡnh hỡnh trc khi cú SKKN hoc i
chng song song vi i tng tng ng trong cỏc hon cnh tng t)
1. Nờu mc , phm vi tỏc dng ca SKKN
2. Kin ngh v vic ỏp dng, trin khai SKKN
Trang 15
phân môn nh: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập viết, Tập làm
văn Trong đó, phân môn Tập làm văn là phân môn có tính chất tích hợp của
các phân môn khác. Qua tiết Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một
văn bản, đó là bài nói, bài viết. Nói và viết là những hình thức giao tiếp rất quan
trọng, thông qua đó con ngời thực hiện quá trình t duy-chiếm lĩnh tri thức, trao
đổi t tởng, tình cảm, quan điểm, giúp mọi ngời hiểu nhau, cùng hợp tác trong
cuộc sống lao động.
Ngôn ngữ (dới dạng nói-ngôn bản, và dới dạng viết-văn bản) giữ vai trò
quan trọng trong sự tồn tại và phát triển xã hội. Chính vì vậy, hớng dẫn cho học
sinh nói đúng và viết đúng là hết sức cần thiết. Nhiệm vụ nặng nề đó phụ
thuộc phần lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập
làm văn lớp 3 nói rêng. Vấn đề đặt ra là: ngời giáo viên dạy tập làm văn theo h-
ớng đổi mới nh thế nào để đáp ứng đợc khả năng tiếp thu của học sinh? Cách
thức tổ chức, tiến hành tiết dạy Tập làm văn ra sao để đạt hiệu quả nh mong
muốn.
Qua thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy phân môn Tập làm văn là phân
môn khó trong các phân môn của môn Tiếng Việt. Do đặc trng phân môn Tập
làm văn với mục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng
trình bày văn bản (nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau nh: miêu tả, kể
chuyện, viết th, tờng thuật, kể lại bản tin, tập tổ chức cuộc họp giới thiệu về
mình và những ngời xung quanh.Trong quá trình tham gia vào các hoạt động
học tập này, học sinh với vốn kiến thức còn hạn chế nên thờng ngại nói. Nếu
bắt buộc phải nói, các em thờng đọc lại bài viết đã chuẩn bị trớc. Do đó, giờ
dạy cha đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ thực tiễn đó, Ban giám hiệu trờng Tiểu học Đằng Hải chỉ đạo
giáo viên chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm chuyên đề Dạy Tập
làm văn lớp 3 nh thế nào để đáp ứng yêu cầu đổi mới .
Trang 17
S¸ng kiÕn kinh nghiÖm: Mét sè biÖn ph¸p rÌn kÜ n¨ng miªu t¶ cho häc sinh líp N¨m
dụng kiến thức đã học vào cuộc sống hoặc ngược lại.
- Qua các tiết học Tập làm văn, học sinh có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp
của con người, thiên nhiên từ đó giáo dục và phát huy lòng yêu nước, yêu cái
đẹp, cái thiện ở học sinh.
Trang 18
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kĩ năng miêu tả cho học sinh lớp Năm
============================================================================
1. Khú khn:
1. i vi Giỏo viờn:
* Ngi Giỏo viờn cú vai trũ rt quan trngv nh hng vụ cựng to ln i
vi HS vỡ h l nhng ngi ch o t chc vic hc ca HS, chớnh vỡ th bn
thõn ngi Giỏo viờn cn phi:
Luụn hc hi ng nghip v t hc nõng cỏo trỡnh bn thõn v
nõng cao tay ngh.
Phi u t tht k bi dy trc khi lờn lp.
Phi ht sc nhy bộn v ng x kp thi cỏc tỡnh hung phỏt sinh khi
ging dy bng cỏch chỳ ý lng nghe ý kin ca HS khi biu tim ra u khuyt
im chớnh ca hc sinh nhn xột t chc sa cha , gúp ý ỏnh giỏ.
GV cng cn rn cho HS k nng nhn xột bi bn t ú nhn bit
c nhng ch hay hoc cha hay khi lm bi ca mỡnh. Vớ d ch cn rừ bi
ban hay l vỡ ban bit dựng t ng liờn kt cõu, ban bit s dng cỏc hỡnh nh so
sỏnh, nhõn húa , bn bit lng cm xỳc ca mỡnh vo bi vit v iu quan
trng l GV cn phi giỳp HS ch rừ ra nhng t ng, cõu hay cho lp tham
kho. iu ny va ng viờn c nhng em lm bi hay, va khi dy chop
đoạn hay, bài làm hay của bạn, từ sách báo tham khảo và được tạo thói quen ghi
chép lại trong sổ tay văn học của mình.
2. Các giải pháp cụ thể:
a. Dạy Tập làm văn qua giờ Luyện từ & câu.
- Các em ít tham gia phát biểu trong giờ học TLV là do không biết thể hiện
ý tưởng của mình bằng những câu như thế nào bởi lẽ vốn từ của các em quá ít.
- Phạm vi vốn từ cần cung cấp cho học sinh ở tiểu học chủ yếu xoay quanh
các chủ đề về thế giớ xung quanh công việc của học sinh ở trường và ở nhà, tình
cảm gia đình và vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người chúng ta cần làm
giàu nhận thức, mở rông tầm mắt cho HS, giúp em nhận thấy vẻ đẹp của quê
hương, đất nước, con người, dạy các em biết yêu quí và trân trọng tình cảm đó.
- Ở chương trình SGK mới này không cung cấp sẵn vốn từ mới cho các em
mà thông qua hệ thống bài tập học sinh phải cùng suy luận và cùng nhau tìm tòi,
bổ sung và làm giàu vống từ cho mình. Sau đó GV có thể cung cấp thêm tư liệu
cho HS ( tư liệu cung capấ cần thực tế và gần gũi nằm trong sự hiểu biết của các
Trang 20
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kĩ năng miêu tả cho học sinh lớp Năm
============================================================================
em ). Sau ú GV cng cn giỳp cỏc em HS lm rừ mt s t cn thit, ú l
nhim v sng cũn trong s phỏt trin ngụn ng ca tr. Vic dy ngha t c
tin hnh trờn tt c cỏc gi hc, bt c õu cng cung cp t ng thỡ ú cú
dy ngha ca t ũi hi GV phi nm rừ ngha ca t v gii thớch cho phự hp
vi ng cnh, vi ni dung bi hc vi hon cnh thc t vi i tng hc sinh.
Tuy nhiờn vic gii ngha ht tt c cỏc t l khụng th v khong cn thit, GV
phi cú s chn lc t gii ngha. Nhng t c chn lc phi l nhng t
trung tõm cú vai trũ quan trng trong hot ng núi ca HS trờn mt ti ó
xỏc nh, phi cho cỏc em gii ngha ly ( kớch thớch t duy HS lm cho HS
lỳc no cng cm thy mi l To hng thỳ cho HS trong hc tp ) cng cn
ca mt ngi.
-
Gii ngha bng nh ngha: l bin phỏp gii ngha bng
cỏch nờu ni dung ngha, bng mt nh ngha:
VD : Quờ hng l ni sinh mỡnh ra v ln lờn.
b. Dy tp lm vn qua gi tp c:
Trong gi tp c, GV phi lm cho HS hiu ngha mt s t cn thit
trong bi. Hiu c ngha en, ngha búng, ngha vn chng ca t ng,
iu ny s cú ớch cho HS khi võn dng t. GV cú th kt hp vi nhng bi tp
in t thớch hp.
VD : chn t nỏo nc hay t rn rng in vo ch trng cho thớch
hp:
Chỳng em cho ún ngy khai trng.
Trong phn tỡm hiu bi, GV gi ý khuyn khớch HS tr li cõu hi theo ý
mỡnh, hn ch dn cỏch tr li rp khuụn cõu vn trong SGK. Nht l i vi
nhng bi hc dóng th, nờn cho HS sinh din t thnh li vn hon chnh
( nu khụng yờu cu tỡm cõu th ). iu ny to iu kin cho HS vn dng
ti a vn t sn cú ca mỡnh, ng thi giỳp GV lm c lng t cú c
mi HS t ú cú bin phỏp thớch hp cung cp t mi cho cỏc em.
c. Dy Tp Lm Vn qua gi Chớnh T
vit ỳng chớnh t HS phi nm c ngha ca t.
Hc sinh phi phõn bit c ngha ca t lng v ln
-
Ln : bay ln, ln l
-
Lng : trng lng, khi lng, cht lng
Giỏo viờn nờn vn dng nhng bi tp m rng vn t cho HS. Vớ d
bi tp ghộp t.
Trang 22
Tng cỏnh Thõn sn sựi bc
Trang 23
Cõy
ph
ng
Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp rèn kĩ năng miêu tả cho học sinh lớp Năm
============================================================================
hoa rc la phch theo thỏng nm
- S dng s khung trong vit on : Thng c dựng trong miờu t cõy
ci (t bphn hay t tng giai on phỏt trin). S khung s giỳp cho hc
sinh d nhn ra cu trỳc ca mi kiu bi.
- Dựng th t phi hp vi tranh nh : Thng c s dng khi hc sinh
la chn nhng ch cha tn mt thy hay cha tng c quan sỏt.
- Trong bi Cu to bi vn miờu t vt thay vỡ tr li n thun cỏc
cõu hi:
+ Tỡm cỏc phn m bi, kt bi. Mi phn y núi iu gỡ?
+ Phn thõn bi t cỏi ci theo trỡnh t no?
Giỏo viờn s dựng nhng th t cho HS ghi vo ú nhng t ch c
im ca tng phn trc khi nờu ý ngha ca cỏc phn ú.
- Giỏo viờn cú th kt hp s khung xỏc nh bi vn miờu t vt.
- Chỳng ta thng t cõu hi Vỡ sao li cú nhng bi vn ging
nhau? õy chỳng ta khụng bn n vn GV bt hc sinh hc thuc m
chỳng ta s phõn tớch theo hai s di õy :
+ GV nờu t
Gi ý t cõu mu
Sn phm ca hc sinh a phn s ging
hay) để cả lớp cùng tham khảo.
- Rèn cho học sinh kỹ năng nó trong Tập Làm Văn rất quan trọng. Giáo
viên cần khuyến khích HS “tự do nói”, nghĩ được điều gì thoải mái diễn đạt ra
điều ấy, điều này giúp HS mạnh dạn phát biểu đưa ra ý kiến của mình. Thường
thì các em mang nặng tâm lý đứng lên lỡ nói sai sẽ bị cô mắng hoặc các bạn chê
cười. Để giải tỏa gánh nặng tâm lý này, tôi thường để các em tự do đưa ra ý kiến
của mình dù cho ý kiến đó chưa sát với yêu cầu của câu hỏi đặt ra. Đừng bao
giờ phủ nhận sạch trơn những suy nghĩ của các em mà nên động viên để các em
tự tin hơn khi phát biểu.
Việc thực hiện “Sổ tay văn học” hay tạo “Thư viện nhỏ cho lớp” là rất cần
và thiết thực. Nó còn giúp các em hạn chế việc mắc lỗi chính tả khi làm bài. Có
nhiều giáo viên đặt ra câu hỏi tại sao có những em khi viết chính tả không hề
mắc lỗi nào nhưng khi viết bài văn lại sai nhiều lỗi như thế ? Nguyên nhân chính
là do khi viết bài văn các em không được nghe cô giáo phát âm từng tiếng như
khi viết chính tả mà bản thân các em phải vận dụng tư duy để diễn đạt lại thành
ý (Đối với lứa tuổi của các em, nhất là HS lớp 2, 3 cùng một lúc các em khó có
thể tập trung làm tốt được nhiều việc), do đó, đa số các em thường viết theo
những ngôn ngữ phát âm giao tiếp hằng ngày, hoặc cũng có khi do viết vội, viết
câu dài gặp những từ khó thì lười đánh vần từ đó viết sai chính tả. Nếu được
Trang 25