SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
******************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIÊN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN
MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 5
Người thực hiện: Lương Thị Thoa
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác:Trường Tiểu học Điện Biên 2
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU ............................................................................................................. - 1 1. Lí do chọn đề tài................................................................................................. - 1 2. Mục đích nghiên cứu.......................................................................................... - 2 3. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................... - 2 4. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................... - 2 II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM..................................................... - 2 1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.............................................................. - 2 2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm................................ - 3 3. Một số biện pháp rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp Năm.................. - 4 3.1. Điều tra phân loại học sinh............................................................................... - 4 3.2. Hướng dẫn học sinh đọc sách, nâng cao năng lực cảm thụ văn học, tích luỹ tư liệu
văn học................................................................................................................... - 4 3.3. Hướng dẫn các em làm giàu vốn từ ngữ............................................................ - 4 3.4. Bồi dưỡng tình cảm, mĩ cảm............................................................................ - 5 3.5. Cá thể hoá hoạt động dạy học........................................................................... - 6 3.6. Xác định yêu cầu trọng tâm đề bài.................................................................... - 63.7. Hướng dẫn học sinh biết cách quan sát, tìm ý, sắp xếp, diễn đạt ý..................... - 73.8. Giúp học sinh luyện viết câu văn có hình ảnh.................................................. - 103.9. Chấm bài và trả bài viết.................................................................................. - 114. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục với bản thân, đồng
nghiệp và nhà trường............................................................................................ -12III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.............................................................................. - 131. Kết luận............................................................................................................ - 132.Kiến nghị........................................................................................................... - 14TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................... - 15-
I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Tiếng Việt là tiếng phổ thông của dân tộc Việt Nam. Trong nhà trường
Tiểu học. Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học có nhiệm vụ hình thành và phát triển
cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong môi
trường hoạt động, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy.
Trong chương trình Tiểu học , Tiếng Việt được chia thành các phân môn,
Để làm tốt vai trò người tổ chức và hướng dẫn, tôi đã tìm tòi, phân tích
thực trạng và lựa chọn một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 học tập có hiệu quả
Tập làm văn miêu tả. Bởi vì đối với học sinh lớp 5, việc rèn kĩ năng làm văn
miêu tả cho các em là rất cần thiết. Học sinh học tốt văn miêu tả sẽ là điều kiện
thuận lợi để các em học tốt các môn học khác ở Tiểu học và tạo đà cho các em
học tiếp lên các lớp trên. Để góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất
1
lượng dạy học trong nhà trường nói chung, nâng cao chất lượng phân môn Tập
làm văn cho học sinh lớp 5 nói riêng, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp rèn
kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp Năm”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn được đóng góp một phần công sức
của mình vào công tác giáo dục của nhà trường. Trước hết là góp phần nâng cao
chất lượng phân môn Tập làm văn cho lớp tôi trực tiếp giảng dạy. Sau đó, mục
tiêu quan trọng hơn là góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt
của trường Tiểu học Điện Biên 2.
3. Đối tượng nghiên cứu
Kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 5.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Điều tra phân loại đối tượng học sinh .
- Phương pháp nghiên cứu xây dưng cơ sở lí thuyết.
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM 1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Tập làm văn là một phân môn mang tính tổng hợp và sáng tạo cao. Tổng hợp
các kiến thức, kĩ năng từ Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu,... để
viết nên một bài Tập làm văn. Tập làm văn la phân môn hoc sang tao chư không
phai sao chép,…La phân môn hoc tông hơp kiên thưc cua cac môn hoc khac va
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Năm học :2016 – 2017, tôi được phân công giảng dạy Tiếng Việt ở lớp 5A3
& 5A4 với 42 & 46 học sinh. Hầu hết học sinh của lớp 5A3 & 5A4 tôi trực tiếp
giảng dạy còn rất hạn chế khi làm bài Tập làm văn.Qua khảo sát chất lương đầu
năm học của môn Tiếng Việt bài viết Tập làm văn được thống kê với kết quả
như sau:
Lớp 5A3: 42 học sinh
Lớp 5A4: 46 học sinh
Hoàn thành
Tốt
Số
lượng
Khảo
sát
chất
lương
đầu
năm
6
Tỉ lệ
%
14,3
Hoàn thành
Chưa
hoàn thành
Hoàn thành
Số
lượng
29
Tỉ lệ
%
63
Chưa
hoàn thành
Số
lượng
12
Tỉ lệ
%
26,2
Từ thực trạng trên, tôi đã tìm hiểu kĩ thực tế bài khảo sát chất lượng của học
sinh. Đa số bài viết của các em còn bị điểm thấp là do các nguyên nhân sau:
- Do các em còn nghèo vốn từ, không biết sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa.
- Các em chưa biết vận dụng kết quả quan sát thực tế vào bài làm,
- Học sinh chưa xác định được trọng tâm đề bài cần miêu tả.
Để hướng dẫn học sinh lớp Năm viết văn miêu tả có hiệu quả tôi đã tiến
hành một số biện pháp như sau:
3.1. Điều tra phân loại học sinh
Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành điều tra, phân loại, nắm chắc từng
đối tượng học sinh: năng khiếu, tiếp thu được, tiếp thu chậm. Nắm chắc được
đối tượng học sinh, tôi đã đề ra được những biện pháp dạy học phù hợp với từng
đối tượng học sinh. Đồng thời, tạo điều kiện tốt nhất góp phần giúp học sinh
chưa biết làm văn miêu tả, có thể vận dụng làm được một bài văn hoàn chỉnh.
3.2. Hướng dẫn học sinh đọc sách, nâng cao năng lực cảm thụ văn học, tích
luỹ tư liệu văn học.
- Tôi đã hướng dẫn học sinh đọc sách không phải chỉ để biết cốt truyện
mà phải ngẫm nghĩ nội dung, bố cục, ý nghĩa của tác phẩm, cách viết của tác giả
để giúp các em cảm thụ sâu tác phẩm, học được cái gì trong cách viết của tac
giả.
- Hướng dẫn học sinh biết cách tích luỹ dần các tư liệu văn học bằng cách
có cuốn sỗ tay văn học khi đọc những bài thơ, bài văn có đoạn miêu tả hay hoặc
những từ ngữ gợi tả hay, hình ảnh sinh động thì ghi lại. Tích luỹ vốn văn học,
ghi chéé́p các câu văn, câu thơ, câu ca dao hay không phải là để học vẹt, để bê
nguyên xi vào bài văn mà là để tham khảo, làm giàu thêm vốn ngôn ngữ, vận
dụng sáng tạo trong bài viết của mình.Việc hướng dẫn học sinh đọc sách, nâng
cao năng lực cảm thụ văn học, tích luỹ dần các tư liệu văn học đã đóng góp một
phần vào việc viết văn hay của học sinh.
3.3. Hướng dẫn các em làm giàu vốn từ ngữ.
- Giáo viên cần có biện pháp làm giàu vốn từ ngữ cho học sinh qua từng
bài đọc, từng bài tập ở các môn Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ- câu cùng chủ
điểm. Tạo cho học sinh thói quen quan sát, đánh giá, nhìn nhận một sự vật, một
cảnh vật hay một con người nào đó và thể hiện những điều đã quan sát và đánh
giá được bằng vốn từ ngữ, ngôn ngữ của mình, kịp thời điều chỉnh những lỗi về
dùng từ, viết câu, làm văn...
4
Ví dụ 2: Hãy chọn từ ngữ thích hợp trong ngoặc điền vào chỗ trống để được các
câu văn có hình ảnh so sánh phù hợp nhất (tiếng chuông, chùm sao, thuỷ tinh,
dải lụa, giọng bà tiên).
- Hoa xoan nở từng chùm trông giống như... ( những chùm sao )
- Nắng cứ như...xối xuống mặt đất.
( thuỷ tinh )
- Giọng bà trầm ấm ngân nga như...
( tiếng chuông )
Ở ví dụ 1 và ví dụ 2, cho số từ nhiều hơn số chỗ trống cần điền, buộc HS
phải suy nghĩ kĩ hơn khi chọn từ.
3.4. Bồi dưỡng tình cảm, mĩ cảm.
Việc bồi dưỡng tình cảm, mĩ cảm rất cần thiết để học sinh viết được bài văn
hay, nếu không có tình cảm đúng thì khó có thể viết được bài văn hay. Tả một
hàng cây bên đường nếu học sinh không yêu hàng cây ấy, chưa thấy đó là kết
quả của bao nhiêu công sức thì bài văn tả hàng cây không có hồn. Nếu các em
yêu hàng cây ấy thì khi quan sát các em sẽ thấy nhiều néé́t đẹp. Các em sẽ vui
mừng khi thấy hàng cây nảy nhiều chồi non, cành lá xum xuê…Đối với giáo
5
viên khi dạy các bài văn, bài thơ miêu tả về cảnh đẹp quê hương, đất nước và
con người cần phải hướng dẫn, phân tích tỉ mỉ cách tả, cách sử dụng tà ngữ, hình
ảnh… để tăng vốn hiểu biết cho các em; để các em biết nhìn cái đẹp, các em sẽ
thêm yêu quê hương, đất nước, yêu những danh lam thắng cảnh.
3.5. Cá thể hoá hoạt động dạy học
- Tôi luôn quan tâm đến đối tượng học sinh tiếp thu chậm đồng thời vẫn
đảm bảo phát triển năng lực cảm thụ văn học đối với học sinh có năng khiếu.
Ví dụ : Khi học sinh đặt câu nêu cảm nghĩ của mình ở phần kết bài, giáo
viên phải quan tâm đến từng em. Đối với học sinh tiếp thu chậm, giáo viên phải
hướng dẫn cụ thể cho các em bằng những gợi ý như:
sinh hiểu được rằng việc viết đúng yêu cầu của đề bài là yếu tố quyết định nội
dung bài viết:
Với đề bài trên, ẩn chứa 3 yêu cầu sau:
6
a. Yêu cầu về thể loại của đề là: Miêu tả (thể hiện ở từ “Tả”).
b. Yêu cầu về nội dung là: Buổi sáng (hoặc trưa, chiều) thể hiện ở cụm từ
“cảnh một buổi sáng (hoặc trưa, chiều)”.
c. Yêu cầu về trọng tâm là: Ở trong một vườn cây (hay trong công viên….).
Trong thực tế, không phải đề bài nào cũng xác định đủ 3 yêu cầu. Như đề
bài “Tả một cơn mưa” chỉ có yêu cầu về thể loại và nội dung. Với đề bài này,
giáo viên cần giúp học sinh tự xác định thêm yêu cầu về trọng tâm của bài viết.
Chẳng hạn “Tả một cơn mưa khi em đang trên đường đi học”...
Việc xác định đúng trọng tâm của đề sẽ giúp cho bài viết được thu hẹp nên
các em có được ý cụ thể, chính xác, tránh việc viết tràn lan, chung chung,...
3.7. Hướng dẫn học sinh biết cách quan sát, tìm ý, sắp xếp, diễn đạt ý.
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người để
giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy (Tiếng Việt 4 tập
1, trang 140), tức là lấy câu văn để biểu hiện các đặc tính, chân tướng sự vật,
giúp người đọc như được nhìn tận mắt, sờ tận tay vào sự vật miêu tả. Vì vậy, khi
dạy văn miêu tả, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh quan sát và miêu tả
theo các trình tự hợp lý :
a. Tả theo trình tự không gian:
Quan sát toàn bộ trước rồi đến quan sát từng bộ phận, tả từ xa đến gần, từ
ngoài vào trong, từ trái qua phải,... (hoặc ngược lại). Ở lớp 4, lớp 5 trình tự này
được vận dụng khi miêu tả loài vật, đồ vật, cảnh vật,...
Ví dụ 1:
Tả từ ngoài vào trong: “ Đền Thượng nằm chót vót trên đỉnh núi Nghĩa
Lĩnh. Trước đền, những khóm hải đường đâm bông rực đỏ, những cánh bướm
Ví dụ 1:
“ Bà tôi ngồi cạnh tôi chải đầu. Tóc bà đen và dày kì lạ, phủ kín cả hai vai,
xoã xuống ngực, xuống đầu gối. Một tay khẽ nâng mớ tóc lên và ướm trên tay,
bà đưa một cách khó khăn chiếc lược thưa bằng gỗ vào mớ tóc dày.
Giọng bà trầm bỗng, ngân nga như tiếng chuông. Nó khắc sâu vào trí nhớ
tôi dễ dàng, và như những đoá hoa, cũng dịu dàng, rực rỡ, đầy nhựa sống. Khi
bà mỉm cười, hai con ngươi đen sẫm nở ra long lanh, dịu hiền khó tả,...” (Bà Tôi
- Tiếng Việt 5 tập 1).
Tác giả đã quan sát và tập trung tả mái tóc, giọng nói rồi đến ánh mắt, mái
tóc “dày kì lạ”.
Ví dụ 2:
“Sầu riêng là loại trái quý ở miền Nam. Hương vị của nó hết sức đặc biệt,
mùi thơm đậm, bay rất xa... Hoa sầu riêng trổ vào cuối năm... Hoa đậu từng
chùm màu trắng ngà. Đứng ngắm cây sầu riêng, tôi cứ nghĩ mãi về dáng cây kì
lạ này. Thân nó khẳng khiu, cao vút, cành ngay thẳng đuột...” (Sầu riêng - Tiếng
Việt 4).
Tác giả đã tả néé́t đặc sắc nhất của quả, hoa và dáng cây sầu riêng. Ngoài
các trình tự miêu tả trên, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện cho học sinh kĩ
năng sử dụng các giác quan (thính giác, thị giác, xúc giác, vị giác,...) để quan
sát, cảm nhận sự vật, hiện tượng miêu tả.
Ví dụ 3:
Phân tích bài “Mưa rào” (Tiếng Việt 5- Tập 1- Trang 33) ta thấy tác giả đã
quan sát bằng các giác quan như sau:
- Thị giác: Thấy những đám mây biến đổi trước cơn mưa, thấy mưa rơi.
- Xúc giác: Gió bỗng thấy mát lạnh, nhuốm hơi nước.
- Khứu giác: Biết được mùi nồng ngai ngái, xa lạ man mác của những trận
mưa đầu mùa.
- Thính giác: Nghe thấy tiếng gió thổi, tiếng mưa rơi, tiếng sấm, tiếng hót
của chào mào.
Bên cạnh việc quan sát là việc tìm ý và sắp xếp ý, một trong những
khen ngợi.
+ Bạn rất hay cười.
+ Mái tóc bạn không đen như tóc em mà hoe vàng.
+ Bằng tuổi với em nhưng bạn cao hơn em một cái đầu.
+ Nga viết chữ rất đẹp nên bạn luôn được côkhen ngợi.
+ Mỗi khi bạn cười, hai lúm đồng tiền trên má hiện rõ trên khuôn mặt dễ
thương.
+ Bạn không gây gỗ, xích mích với ai bao giờ.
+ Thầy, cô thường lấy bạn để làm gương.
Sau khi tìm ý, cho các em chọn và sắp xếp ý thành các đoạn mở bài, thân
bài, kết bài phù hợp.
Ví dụ:
*Đoạn mở bài
Em và bạn Thu Nga chơi với nhau từ năm lớp Một. Chúng em rất thân
nhau. Mỗi lúc rãnh rỗi, em thường nô đùa với bạn.
* Đoạn thân bài
Bằng tuổi em nhưng bạn cao hơn em một cái đầu. Bạn có nước da trắng
hồng, mịn màng. Bạn rất hay cười, mỗi khi bạn cười, hai lúm đồng tiền trên má
hiện rõ trên khuôn mặt dễ thương. Thu Nga có đôi mắt to rất hợp với hàng lông
mi dài, cong. Đôi mắt bạn luôn ánh lên vẻ hồn nhiên, trong sáng. Mái tóc bạn
9
không đen như tóc em mà hoe vàng. Nga viết chữ rất đẹp, bạn luôn được cô
khen ngợi là cô bé có đôi bàn tay “diệu kì.”Cô thường lấy bạn ra làm gương
cho chúng em noi theo để rèn chữ đẹp. Không những viết đẹp mà bạn còn thông
minh hiểu bài rất nhanh. Bạn luôn là trung tâm đoàn kết của tập thể lớp 5A3….
* Đoạn kết bài:
Mỗi khi vắng Thu Nga, nhất là những ngày bạn nghỉ học, em cảm thấy
rất nhớ. Em sẽ cố gắng học những điểm tốt từ bạn để tình bạn của chúng em
Ví dụ1: Bài tập 3 trang 88 Tiếng Việt 5 tập 1
Tôi gợi ý như sau:
+ Em chọn từ ngữ nào trong mẫu chuyện trên?
+ Quê em có hình ảnh gì đẹp? ( học sinh kể: dòng sông, lũy tre, con đê,
cảnh đồng…)
10
+ Em hãy đặt câu có sử dụng biên pháp so sánh, nhân hóa và phải biết bộc
lộ tình cảm của mình về quê hương trong câu văn.
Ví dụ 2: Miêu tả mái tóc của một bạn:
+ Với học sinh chậm tôi giúp các em viết câu đúngngữ pháp: Tóc bạn
Loan đen nhánh.
+ Với học sinh có năng khiêu tôi hướng dẫn các em viết câu có hình ảnh:
Loan có mái tóc đen nhánh, óng ả, xoã ngang vai mà không thể lẫn lộn với bất
cứ bạn nào trong lớp được.
3.9. Chấm bài và trả bài viết
Chương trình Tập làm văn lớp 5 có 3 tiết trả bài tả cảnh, 3 tiết trả bài tả
người, 4 tiết trả bài kể chuyện, đồ vật, cây cối, con vật. Ta nhận thấy rằng có
chấm bài chu đáo thì mới có tiết trả bài đạt hiệu quả.
a. Chấm bài
Khi chấm bài Tập làm văn cho học sinh, mỗi bài tôi đọc qua một lượt để có
cái nhìn chung về bố cục, về diễn đạt của học sinh, xem thử học sinh đã làm bài
đúng thể loại, nội dung và trọng tâm bài viết chưa. Tôi ghi ra sổ chấm bài những
chỗ hay, chưa hay hoặc sai những lỗi gì...của từng HS.
Khi chấm điểm xong cho cả lớp, tôi đánh giá chung kết quả bài làm của
học sinh và rút ra những tiến bộ cần phát huy, và những thiếu sót cần sửa chữa
bổ sung để chuẩn bị cho tiết trả bài sắp tới…..
b. Trả bài viết
Nội dung, phương pháp lên lớp một tiết trả bài Tập làm văn viết lớp 5, theo
Bước 1: Tham gia chữa lỗi chung cho cả lớp:
Ví dụ:
Tiết trả bài viết số 1(tả cảnh, tuần 5) : Trọng tâm sửa lỗi là dùng từ, đặt
câu và thực trạng viết câu.
Bước 2: Học sinh đọc lại bài làm của mình, chú ý những chỗ mực đỏ ghi
lời khen, chê của cô giáo. ( Ví dụ : câu hay, đoạn hay, hoặc lỗi dùng từ, lỗi viết
câu, lỗi chính tả…)
Bước 3: Học sinh tự chữa bài vào vở tập làm văn.
Hoạt động 3: Đọc tham khảo một số đoạn, hoặc vài bài văn hay của một số em
cho cả lớp nghe để học tập và rút kinh nghiệm.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Qua những biện pháp tôi đã áp dụng được nêu ở trên, đến giữa học kì 2
năm học 2016 – 2017 các em đã nắm được một số kĩ năng nhất định để học có
hiệu quả phân môn Tập làm văn. Cả lớp đều ham thích môn học, không sợ sệt
khi đến tiết Tập làm văn như đầu năm học nữa. Bài làm của các em đa số đã có
tiến bộ, học sinh nắm được cách sắp xếp ý, bố cục chặt chẽ, dùng từ chính xác,
viết câu văn trôi chảy, mạch lạc, bước đầu có hình ảnh, cảm xúc, hiểu và vận
dụng khá tốt các biện pháp tu từ trong các bài tập làm văn của mình. Các em
cảm thụ được bài văn, đọc bài trôi chảy, hiểu đúng nội dung bài, nhất là rất tự tin
khi đến tiết học Tập làm văn.
Năm học 2016- 2017: Sĩ số lớp là 42 học sinh & 46 học sinh
Diễn biến chất lượng phân môn Tập làm văn (Điểm kiểm tra)
Lớp 5A3: 42 học sinh
Giữa
HKI
Cuối
HKI
Giữa
%
lượng
%
7 16,7
10 21,7
25 54,3
Chưa
hoàn thành
Số
Tỉ lệ
lượng
%
11
24
20
47,6
18
42,8
4
9,6
19
0
0
Diễn biến chất lượng môn Tiếng Việt sau khi áp dụng đề tài này thật đáng
phấn khởi, đây là kết quả của một quá trình phấn đấu của cô giáo và học sinh
12
lớp 5A3 & 5A4 trường Tiểu học Điện Biên 2. Điểm của phân môn Tập làm văn
đi lên rõ rệt đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng môn Tiếng
Việt của lớp tôi trực tiếp giảng dạy và của tổ chuyên môn.
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Sau một thời gian áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào giảng dạy, tôi nhận
thấy để nâng cao chất lượng học phân môn tập làm văn người giáo viên cần làm
tốt các việc sau:
- Tìm hiểu kỹ đối tượng học sinh, đặc điểm tâm lý của học sinh, hiểu và
nắm chắc đặc điểm, chức năng của văn miêu tả. Giáo viên cần giúp các em hiểu
rõ các đặc điểm ấy ngay từ tiết đầu tiên của thể loại văn miêu tả.
- Hiểu rõ Tập làm văn là phân môn thực hành tổng hợp của tất cả các
phân môn.
thuộc môn Tiếng việt nên muốn học sinh học tốt phân môn này giáo viên
phải hướng dẫn các em học tốt các phân môn còn lại.
- Giáo viên cần chuẩn bị chu đáo trước khi lên lớp, để khi thực hiện kế
hoạch bài học trên lớp, giáo viên chủ động sử dụng linh hoạt các phương pháp
dạy học giúp học sinh tiếp thu bài nhẹ nhàng, mà hiệu quả.
- Trong giờ học giáo viên nên khéé́o léé́o lồng vào để đọc cho học sinh nghe
các câu văn, câu thơ có sử dụng các biện pháp nghệ thuật, cung cấp cho các em
những đoạn văn mẫu…giúp các em mở rộng vốn từ, vốn hiểu biết để từ đó các
đạo để tôi tiếp tục hoàn chỉnh đề tài, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng cho học sinh lớp Năm.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 12
tháng 4năm2017
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chéé́p nôi dung
của người khác.
Người viết
Lương Thị Thoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
14
STT
Tên tài liệu tham khảo
Tác giả
Nhà xuất bản
1
Sách giáo khoa, sách giáo
viên Tiếng Việt Lớp 5
GD&ĐT VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:
Lương Thị Thoa
Chức vụ và đơn vị công tác:Giáo viên Trường Tiểu học Điện Biên 2.
Cấp đánh
TT
1.
2.
giá xếp loại
(Phòng, Sở,
Tỉnh...)
Tên đề tài SKKN
Một vài biện pháp tạo
hứng thú Phòng giáo
học tập cho học sinh trong giờ
dục TPTH
luyện từ và câu lớp 5.
Một vài biên pháp tạo hứng
học tập cho học sinh trong
thú Sở giáo dục
giờ và đào tạo
luyện từ và câu lớp 5.
3.
2015 - 2016
và câu lớp 5.
4.
Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp
5 qua tiết tập đọc.
Phòng giáo
dục TPTH
16