Một số biện pháp rèn kỹ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 trường tiểu học nga yên - Pdf 44

MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
1.2. Mục đính nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận
2.2. Thực trạng
2.3. Các giải pháp đã thực hiện
2.3.1. Giải pháp 1: Tìm hiểu mục tiêu, nội dung chương trình SGK
2.3.2. Giải pháp 2: Rèn kĩ năng phân tích đề, tìm ý và lựa chọn ý, kĩ
năng lặp dàn ý, viết đoạn văn và liên kết đoạn
2.3.3. Giải pháp 3: Giúp học sinh có kỹ năng quan sát chọn lựa, chắt
lọc từ ngữ, hình ảnh miêu tả
2.3.4. Giải pháp 4: Rèn cho học sinh kỹ năng lựa chọn, sử dụng từ
ngữ giàu tính gợi tả, gợi cảm, nói, viết văn có dùng phép so sánh,
nhân hóa phù hợp với đối tượng miêu tả
2.3.5. Giải pháp 5: Rèn kỹ năng học tập từ ngữ, ý văn, hình ảnh hay
khi làm văn
2.3.6. Giải pháp 6: Trang bị cho học sinh những kiến thưc kĩ năng
làm bài
2.3.7. Giải pháp 7: Rèn kĩ năng viết đoạn văn, bài văn từ dàn ý đã lập
2.4. Hiệu quả của SKKN
3. Kết luận và kiến nghị
- Kết luận
- Kiến nghị

TRANG
1

có sự lồng ghép của tả đồ vật, tả cây cối, … vào trong một bài tả cảnh.
Thông qua việc dạy văn miêu tả ở Tiểu học, mục đích giúp học sinh biết
cách và có thói quen quan sát, phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới
xung quanh, biết truyền tình cảm của mình vào đối tượng miêu tả. Bước đầu
giúp các em biết sử dụng những từ ngữ có giá trị để biểu cảm. Đồng thời qua bài
văn tả cảnh, giúp các em có dịp quan sát kĩ cảnh vật xung quanh, giúp các em
có cái nhìn mới về mọi vật xung quanh, giúp các em có tình cảm yêu thiên
nhiên, gần gũi, gắn bó với cảnh vật xung quanh,…
Với mục tiêu đặt ra là lớn lao như vậy nhưng trong thực tế để làm được
điều đó là vô cùng khó, không những khó với các em mà khó cả với giáo viên.
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển, nhiều em đã không tự giác trong
việc học bài và làm bài nhất là các bài văn. Các em ngại suy nghĩ, ngại viết, nên
một số em thường sao chép, copy một cách máy móc. Nhưng sợ cô giáo và các
bạn phát hiện thì các em khôn khéo thay đổi hoặc đã cắt xén, chắp vá…. Một số
em thì không biết viết cái gì, một số khác thì không dựa vào dàn ý đã lập để
triển khai thành bài văn mà nghĩ đến đâu viết đến đó, nhớ được cái gì thì viết cái
đó,…nên bài viết thường có những dạng lỗi như:
- Bài viết quá ngắn, sơ sài.
- Trình tự miêu tả lộn xộn.
- Thiếu sự liên kết giữa các ý, các đoạn…
Lên lớp 4, các em phải hiểu thế nào là văn miêu tả, biết cách quan sát, tìm
ý, lập dàn ý, viết đoạn văn và liên kết đoạn văn thành một bài văn miêu tả đồ
vật, cây cối hoặc con vật- những đối tượng gần gũi và thân thiết của các em. Để
hoàn thành bài văn miêu tả đối với học sinh lớp 4 thường rất khó khăn. Do đặc
điểm tâm lí, học sinh tiểu học còn ham chơi, khả năng tập trung chú ý quan sát
chưa tinh tế, năng lực sử dụng ngôn ngữ chưa phát triển tốt, dẫn đến khi viết văn
miêu tả, học sinh còn thiếu vốn hiểu biết về đối tượng miêu tả,…hoặc không
biết cách diễn đạt điều muốn tả. Việc tìm tòi phương pháp để hướng dẫn học
sinh quan sát, tìm ý, lập dàn ý, tưởng tượng,…còn nhiều hạn chế. Với mong
muốn giúp các em biết diễn đạt trôi chảy, trình bày những câu văn, ý văn giàu

miêu tả.
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tiến hành đồng thời với phương
pháp kiểm tra toán học và phương pháp tổng hợp số liệu. Khi kiểm tra đánh giá
chất lượng bài văn miêu tả của từng học sinh, tôi mô tả và thống kê chất lượng
ấy bằng những số liệu cụ thể, sau đó tổng hợp các số liệu đã thu được nhằm rút
ra kinh nghiệm giảng dạy cho bản thân.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Dạy tiết Luyện tập miêu tả cây cối

3


2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lí luận.
Miêu tả là lấy nét vẽ hay câu văn để biểu hiện các chân tướng của sự vật,
giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy. Văn miêu tả mang
tính thông báo thẩm mỹ, giúp người đọc hình dung một cách cụ thể hình ảnh của
sự vật thông qua những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc thể hiện cảm
xúc thẩm mỹ của người viết.
Với học sinh tiểu học, nhất là học sinh các lớp 4, việc hình thành và phát
triển các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết là vô cùng quan trọng, được thực hiện ở tất
cả các môn học và nổi bật nhất là ở môn Tiếng Việt. Do đó, việc dạy Tập làm
văn ở tiểu học góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ,
tạo điều kiện cho các em giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày và học tốt các
môn học khác. Chính những văn bản viết các em có được từ phân môn Tập làm
văn đã thể hiện những hiểu biết thực tế, những kỹ năng sử dụng Tiếng Việt mà
các em được học ở môn Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập làm văn nói riêng
và các môn học khác. [1]
2.2. Thực trạng của việc rèn kĩ năng làm văn miêu tả cho học sinh lớp 4 tại
Trường Tiểu học Nga Yên.

ngăn em để vở, một ngăn để sách. Hoặc bài văn tả cây bàng: - Cây bàng cao đến
mái nhà. Thân nó to, xù xì. Cây bàng có nhiều cành, tán rộng. Lá màu xanh.
Quả ăn có vị chát. Đoạn văn như vậy được coi là tạm được vì đúng ý. Câu văn
rõ nghĩa. Nhưng miêu tả như vậy chỉ cần vài câu là tả xong một đồ vật, một cây
và nó cũng rất chung chung, không làm nổi bật được nét riêng của đồ vật đó, cây
đó.
* Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên:
- Giáo viên chưa đổi mới phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm;
nhiều giáo viên ngại đổi mới nên vẫn chủ yếu là thầy giảng, trò nghe. Mặt khác
nhiều giáo viên chưa đầu tư thời gian để nghiên cứu bài dạy, chưa thực sự bồi
dưỡng vốn từ, khả năng cảm thụ văn của mình vào quá trình dạy học.
- Học sinh ngại học văn vì các em nghèo vốn từ. Hơn nữa, các em chưa hiểu rõ
đặc điểm cơ bản của văn miêu tả, chưa phân biệt được sự khác biệt giữa văn bản
miêu tả với các kiểu bài văn khác. Khả năng quan sát và lựa chọn hình ảnh để
quan sát và miêu tả chưa tinh tế. Vốn từ miêu tả còn nghèo nàn. Chưa có thói
quen tích luỹ các từ ngữ gợi tả. Kĩ năng lựa chọn từ ngữ, dùng từ, đặt câu, viết
đoạn văn, kĩ năng diễn đạt,…còn hạn chế. Các em chưa biết cách sắp xếp ý khi
viết bài, bố cục thiếu rõ ràng, chưa khoa học. Không có thói quen sử dụng các
biện pháp so sánh, nhân hoá khi viết văn. Khả năng giao cảm với đối tượng
miêu tả còn hạn chế; cảm xúc, tình cảm không tự nhiên, có sự gượng ép. Trong
tiết trả bài, học sinh chưa được sửa lỗi và tự sửa lỗi kĩ càng, đầy đủ; các em cảm
thấy nặng nề, thất vọng về bài viết của mình. Các em chưa thực sự cảm thấy yêu
môn học.
2.2.2. Kết quả của thực trạng:
Khảo sát thực tế khả năng viết văn miêu tả của học sinh lớp 4B cuối
năm học 2015-2016 khi chưa áp dụng biện pháp trên như sau: Với đề bài: “Tả
con vật nuôi trong nhà mà em thích”.
Tổng số HS
22 HS


Từ thực tế trên, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp rèn kĩ năng làm văn
miêu tả cho học sinh lớp 4.
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Giải pháp 1. Tìm hiểu mục tiêu, nội dung chương trình Sách giáo
khoa
Việc nắm vững mục tiêu, nội dung của phân môn Tập làm văn lớp 4, giúp
giáo viên nắm vững yêu cầu cần đạt theo chuẩn kiến thức kĩ năng để từ đó giáo
viên có sự hiểu biết một cách có hệ thống các mạch kiến thức liên quan trong
giai đoạn, trong môn học và của phân môn. Làm tốt điều này giúp giáo viên khai
thác có hiệu quả các mạch kiến thức, giúp các em phát huy, kế thừa và phát triển
những kiến thức đã học. Vì vậy, trước hết người giáo viên cần:
a. Nắm các kiểu bài văn miêu tả trong chương trình lớp 4.
- Miêu tả đồ vật
- Miêu tả cây cối
- Miêu tả con vật
b. Hiểu thế nào là miêu tả ?
Miêu tả là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người, của
vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy.
c. Nắm được cấu tạo chung của đoạn văn trong bài văn miêu tả.
Mỗi đoạn văn miêu tả có một nội dung nhất định, khi viết hết mỗi đoạn cần
xuống dòng. Cấu tạo văn bản miêu tả gồm có 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài.
Như vậy, người giáo viên phải nắm rõ: Loại văn miêu tả được dạy ở lớp 4
trong 30 tiết (7 tiết ở HK1, 23 tiết ở HK2). Sau bài mở đầu Thế nào là miêu tả?
(tuần 14, giúp HS có khái niệm về miêu tả nói chung, các em lần lượt đi sâu vào
kiểu bài cụ thể: miêu tả đồ vật, miêu tả cây cối, miêu tả con vật ( Lên lớp 5 sẽ
học tiếp về tả cảnh, tả người). So với các bài tập về miêu tả đơn giản ở lớp 2, 3
(nói, viết thành đoạn văn ngắn), HS lớp 4 đã bắt đầu được học một cách tương
đối có hệ thống về kỹ năng xây dựng văn bản hoàn chỉnh( gồm 3 phần: mở bài,
thân bài, kết bài). Do đó, để dạy tốt loại văn miêu tả, GV vừa phải giúp đỡ HS
thực hiện những yêu cầu làm văn miêu tả nói chung vừa phải chú ý những đặc

như trong sách giáo khoa, tôi sẽ chủ động bám vào nội dung phần ghi nhớ, dùng
câu hỏi gợi ý, dẫn dắt cho các em nêu để xây dựng dàn bài chung cho bài văn
miêu tả con vật:
Mở bài: Giới thiệu con vật sẽ tả.
- Để giới thiệu con vật sẽ tả, em cần giới thiệu những gì?
Tên con vật, nơi nó ở, lí do em thích nó,…
Thân bài:
a) Tả hình dáng.
- Mỗi con vật thường đều có những bộ phận nào?
+ Đầu: Mắt, mũi, miệng (mõm, mỏ), tai, …;
+ Mình: thân, lưng, bụng, ngực,…; móng vuốt, cựa,…;
+ Đuôi, cánh, …., ...
b) Tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật.
- Thói quen sinh hoạt là những thói quen nào? (ăn, ngủ, …)
- Những hoạt động chính của con vật là gì? Ví dụ? (con mèo: bắt chuột; con chó:
giữ nhà, …)
Kết luận: Nêu cảm nghĩ đối với con vật.
+ Cảm nghĩ của em đối với con vật có thể là gì? (yêu, thích, thấy thiếu vắng khi
đi đâu về mà không trông thấy nó, …); Em làm gì để thể hiện tình cảm của em
đối với nó? (chăm sóc, bảo vệ, …)
Hoặc, khi hướng dẫn học sinh làm bài tập 3 (Hãy viết một đoạn văn có
chứa câu mở đoạn như sau: Chú gà nhà em đã ra dáng một chú gà trống đẹp.)
của bài Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật (sách lớp Bốn, tập hai,
trang 130), tôi sử dụng Dàn bài chung cho bài văn miêu tả con vật đã xây dựng,
7


gợi ý cho các em có thể dựa vào nội dung Tả hình dáng ở phần thân bài trong
dàn bài để hoàn thành bài tập. Như thế, các em sẽ dễ dàng chọn lựa những bộ
phận nổi bật của con gà trống để miêu tả như: cái đầu, cái mào, cái mỏ, cặp mắt,

+ Kết hợp quan sát là ghi chép (ghi chép những điều quan sát được) và
liên tưởng (liên tưởng để so sánh, nhân hóa sự vật).
* Ví dụ: Khi miêu tả cây cối, đồ vật, con vật giáo viên phải cho học sinh tìm ra
những từ ngữ, hình ảnh đặc trưng của cây cối, đồ vật, con vật để tả.
+ Các từ thường dùng trong miêu tả cây cối: xanh mướt, mơn mởn; khẳng
khiu; xum xuê; rực rỡ; đo đỏ;…
+ Các từ thường dùng trong miêu tả đồ vật: tròn xoe, nhỏ nhắn,…
8


+ Các từ thường dùng trong miêu tả con vật: tinh nhanh, rón rén, oai vệ,…
- Các từ miêu tả đó thường là những từ láy, gợi lên hình ảnh, âm thanh,…
để miêu tả cho sinh động.
Hoặc chẳng hạn, để giúp học sinh làm tốt bài tập 3 (Hãy viết một đoạn văn có
chứa câu mở đoạn như sau: Chú gà nhà em đã ra dáng một chú gà trống đẹp.)
của bài Luyện tập xây dựng đoạn văn miêu tả con vật (sách lớp Bốn, tập hai,
trang 130), thì ở tiết học trước đó, tôi yêu cầu các em:
+ Chọn hoặc nhớ lại một con gà trống mà em đã gặp.
+ Quan sát (hoặc nhớ lại) và ghi lại các đặc điểm của từng bộ phận của
nó. Chú ý ghi thật chi tiết những bộ phận nổi bật của con gà đó.
Với cách làm trên học sinh đã biết lựa chọn từ ngữ giàu hình ảnh, biết bộc lộ
cảm xúc khi viết văn để bài văn thêm sinh động.
2.3.4. Giải pháp 4: Rèn cho học sinh kỹ năng chọn lựa, sử dụng từ ngữ giàu
tính gợi tả, gợi cảm, nói-viết câu văn có dùng phép so sánh, nhân hóa phù
hợp với đối tượng miêu tả:
Việc dùng từ ngữ giàu hình ảnh, gợi tả, gợi cảm, các biện pháp so sánh,
nhân hóa khi viết văn sẽ giúp cho câu văn, bài văn trở nên sinh động hơn, mượt
mà hơn, ý tứ hơn và thu hút người đọc, người nghe hơn.
Như vậy, việc giúp các em biết tìm từ ngữ, ý văn hay, hình ảnh đẹp, phù
hợp để miêu tả sự vật cụ thể là vừa giúp phát huy tốt năng lực của mỗi học sinh,

miêu tả, rồi tìm những từ ngữ, ý văn, câu văn, hình ảnh so sánh, nhân hóa mà
mình cảm thấy phù hợp, hay có thể sử dụng để miêu tả chi tiết đó của đối tượng.
Lớp nhận xét, bình và chọn những từ ngữ, ý văn hay, hình ảnh đẹp, phù hợp. Vận
dụng chính những từ ngữ, câu văn, ý văn được lớp đánh giá cao theo ý thích của
riêng mình đưa vào bài của mình, tạo ra nét riêng trong chính bài làm của mình.
Ví dụ : Khi làm một bài văn tả con mèo có học sinh tả:
- Chú ta có cái đuôi thon dài như một cái măng ngọc.
GV hỏi: Em nào nhận xét cách đặt câu của bạn?
HS có thể nhận xét: Bạn đã sử dụng biện pháp so sánh để so sánh cái đuôi con
mèo như một cái măng ngọc.
GV cho học sinh thảo luận nhóm đôi tìm câu khác để miêu tả cái đuôi của chú
mèo sao cho sinh động hơn:
- Lúc chú ngồi, hai chân sau xếp lại, hai chân trước chống lên, đăm chiêu nhìn
và nghe ngóng, cái đuôi mềm mại, phe phẩy như làm duyên.
Hay: Cái đuôi dài trắng điểm đen phe phất thướt tha cùng với tấm thân thon dài
mềm mại, uyển chuyển trông thật đáng yêu.
Như vậy, cùng là miêu tả về cái đuôi của chú mèo nhưng những câu văn
sử dụng biện pháp so sánh, nhân hóa, có dùng những từ gợi tả, gợi cảm như các
câu trên thì hiệu quả khác hẳn. Ta thấy miêu tả như vậy vừa sinh động, tinh tế
vừa rất tình cảm và sẽ cuốn hút người đọc, người nghe.
2.3.5. Giải pháp 5: Rèn kỹ năng học tập từ ngữ, ý văn, hình ảnh hay khi làm
văn:
Biện pháp này cũng rất hữu ích đối với học sinh. Đây chính là khâu giúp
các em biết tích lũy thêm nhiều vốn kiến thức cho mình, nhất là tranh thủ đọc
sách trong tiết Đọc sách thư viện. Các em biết học tập, “trộm” những câu văn, ý
văn mà mình đọc được của bạn bè, thầy cô hay ở đâu đó rồi biến nó thành ý
riêng trong câu văn, bài văn của mình. Tôi khuyến khích các em tích cực đọc
sách, báo hoặc những bài văn hay (văn mẫu) và ghi chép lại những chi tiết, hình
ảnh mình thích vào một cuốn sổ tay. Sau đó sẽ chọn lựa một số câu và ghi ra
giấy dán vào mục “Lời hay ý đẹp” ở lớp để giới thiệu cho các bạn khác cùng

Ví dụ đề bài : Tả một đồ chơi mà em thích - Tiếng Việt 4- Tập 1- Trang 162. Với
đề này, các em phải xác định được chỉ tả một đồ vật. Khi tả Xác định cụ thể và
chọn một đối tượng cần quan sát (đó là vật gì?). Quan sát sự vật bằng các giác
quan như thị giác, thính giác, khứu giác và cả xúc giác. Trước tiên là quan sát
bao quát đối tượng và cảm nhận (nó đẹp, dễ thương,..), rồi quan sát từng bộ
phận của đối tượng theo một trình tự nhất định (từ trên xuống dưới, từ trước ra
sau, …) Quan sát thật kĩ những bộ phận của sự vật mà em thích thú, ấn tượng.
Khi quan sát sự vật, các em cũng có thể trao đổi theo nhóm với nhau để tìm ra
những đặc điểm của đối tượng một cách tốt nhất.
Để làm tốt điều này, giáo viên yêu cầu học sinh xây dựng thói quen đọc
đề nhiều lần, gạch chân những từ ngữ quan trọng.
Bước 2 : Quan sát cảnh sẽ tả, ghi chép lại những gì quan sát được.
Sau khi xác định được cảnh sẽ tả cả về thời gian, không gian thì các em
phải có sự bố trí quan sát cảnh đó một cách trực tiếp. Nhưng không phải với đề
bài nào cũng có dịp quan sát trực tiếp mà nhiều đề bài các em phải nhớ lại hoặc
tái hiện lại để ghi chép.
Để học sinh có nguồn tư liệu phong phú, đầy đủ phục vụ cho lập dàn ý
của bài văn tả cảnh, việc định hướng quan sát, phương pháp quan sát, rèn thói
quen quan sát và ghi chép kết quả quan sát cho học sinh là hết sức cần thiết.
11


Kết hợp với kiến thức về quan sát một đồ vật, một cái cây, một con vật,
…. thông qua đó, học sinh rút ra được phương pháp quan sát và lập dàn ý:
- Quan sát tổng thể trước, quan sát từng phần sau; Quan sát từ một số góc
nhìn khác nhau (chọn góc nhìn thấy rõ sự vật).
- Quan sát đúng trình tự: từ xa đến gần hoặc từ gần đến xa; từ cao xuống
thấp (trên xuống dưới) hoặc ngược lại; hay quan sát từ ngoài vào trong (không
nên quan sát từ trong ra ngoài), … Chọn trình tự quan sát nào thì phải tuân thủ
đúng theo trình tự đó trong suốt quá trình quan sát.

văn tả cảnh ở học sinh Tiểu học cũng vậy. Vậy một dàn ý cho bài văn tả cây cối
của học sinh lớp 4 cần đảm bảo những yêu cầu nào? Qua nghiên cứu tài liệu và
sử dụng kinh nghiệm của bản thân, tôi đã đưa ra những yêu cầu cụ thể như sau:
12


* Yêu cầu tổng quát:
- Bố cục đủ ba phần: Mở bài, thân bài, kết bài.
- Nội dung cơ bản của mỗi phần:
+ Mở bài: Giới thiệu về cây sẽ tả.
+ Thân bài: Miêu tả cảnh vật theo từng phần của cây hoặc miêu tả sự thay
đổi của cây theo thời gian hoặc kết hợp cả hai trình tự trên.
+ Kết bài: Nêu nhận xét hoặc cảm nghĩ của học sinh về cây vừa tả.
* Yêu cầu cụ thể:
- Hình thức thể hiện: Là những ý ngắn gọn, rõ ràng.
- Các ý được sắp xếp theo thứ tự: Ý chính trước, sau đó là các ý nhỏ làm
rõ cho ý chính. Mỗi ý chính và các ý nhỏ kèm theo sẽ được dùng để phát triển
thành một đoạn văn tả cảnh.
- Mỗi ý chính thể hiện một hình ảnh chính, tiêu biểu, nổi bật của cảnh cần
tả và sẽ dùng để viết câu mở đoạn hoặc kết đoạn. Một dàn ý chỉ nên có 3 đến 4 ý
chính. Các ý chính được sắp xếp theo trình tự (không gian hoặc thời gian) hợp lí.
- Các ý nhỏ đi kèm một ý chính có tác dụng làm sáng tỏ cho ý chính đó.
Mỗi ý nhỏ được dùng để phát triển thành một hoặc một số câu văn miêu tả. Các
ý nhỏ cũng được sắp xếp theo trình tự (không gian hoặc thời gian) hợp lí.
- Ý chính quan trọng hơn sẽ có nhiều ý nhỏ hơn.
- Những từ ngữ quan trọng mang tính phát hiện mới hoặc có giá trị gợi tả,
gợi cảm cao có thể được đặt ngay trong hoặc sau mỗi ý.
Tôi đã căn cứ vào những yêu cầu trên để hướng dẫn học sinh phương
pháp lập dàn ý cho bài văn tả cảnh. Đồng thời tôi đã hướng dẫn học sinh phải
chọn lọc những ý chính, những chi tiết được cho là chủ đạo làm nổi bật cảnh

những bạn biết dựa vào dàn ý với những đoạn văn, bài văn của những bạn chưa
biết dựa vào dàn ý. Ngoài ra, các bài viết biết dựa vào dàn ý còn tránh được các
lỗi viết dài lan man, trình tự miêu tả lộn xộn. Qua đó, các em đã thấy được
những nhược điểm, hạn chế của những đoạn văn, bài văn viết không dựa vào
dàn ý. Từ đó, học sinh sẽ nghiêm túc hơn, có trách nhiệm hơn trong lập dàn ý,
đồng thời có thói quen dựa vào dàn ư để viết đoạn văn, bài văn tả cảnh nói riêng,
các bài văn nói chung.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó vẫn chưa đủ, vẫn còn có những học sinh
chưa biết cách phát triển dàn ý thành đoạn, bài văn tả cảnh. Nếu lập ra một dàn ý
rồi mà không biết cách phát triển dàn ý đó thành bài viết hoàn chỉnh thì dần dần,
các em sẽ nản lòng và tất nhiên sẽ không quan tâm đến lập dàn ý nữa, kĩ năng
lập dàn ý của các em sẽ kém đi là điều không thể tránh khỏi. Chính vì thế cần
phải hướng dẫn, giúp các em biết phát triển dàn ý để có một đoạn văn, bài văn
hoàn chỉnh dựa trên các từ ngữ, các biện pháp tu từ đã chọn lọc ở phần quan
sát...
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Qua thời gian áp dụng các biện pháp rèn kỹ năng viết văn miêu tả cho học
sinh như đã nêu ở trên, Học sinh lớp 4B do tôi chủ nhiệm đã tự tin, chủ động
hơn trong các tiết học tập làm văn (văn miêu tả). Các giờ Tập làm văn cũng trở
nên nhẹ nhàng, sinh động hơn. Các em đã biết miêu tả một số đặc điểm của một
sự vật cụ thể theo yêu cầu, biết viết câu văn đúng ngữ pháp, rõ ý; biết sử dụng
những từ ngữ sát nghĩa, có tác dụng gợi tả, gợi cảm; bước đầu biết sử dụng biện
pháp tu từ đơn giản khi viết văn. Lời văn, ý văn của các em không còn nặng tính
liệt kê hay kể lể nữa.
- Kết quả cụ thể:
Tổng số HS
22 HS

Điểm 9-10
SL TL

cao mà người tổ chức dạy học cần vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học
cho phù hợp với đối tượng học sinh, với từng dạng bài học. Trong quá trình tổ
chức dạy học cần tạo ra một không gian mở kích thích sự sáng tạo hoạt động của
học sinh. Với hệ thống đề tài phong phú, mở ra nhiều hướng suy nghĩ, nhiều
cách cảm thụ cho học sinh, đặc biệt gần gũi và phù hợp với cuộc sống học sinh,
giúp học sinh có vốn kiến thức nhất định về kĩ năng quan sát, hồi tưởng, tưởng
tượng, kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn,…để tiÕp tôc cho việc rèn kĩ năng
viết văn miêu tả với yêu cầu cao hơn ở lớp 5.
Dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy phân môn tập làm văn nói riêng là
khó. Không những khó với người dạy mà khó cả với người học. Bởi không như
dạy - học toán, chỉ cần nhớ quy tắc, công thức là có thể áp dụng giải cho tất cả
các dạng bài. Mà dạy - học Tiếng Việt là thể hiện khả năng ghi nhớ vốn từ, khả
năng tái hiện kiến thức Tiếng Việt một cách tổng hợp,…Vì vậy để dạy tốt môn
Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn lớp 4 nói riêng, người giáo viên
phải :
- Không ngừng tích cực học hỏi để đổi mới phương pháp, phát huy tính
tích cực chủ động của học sinh. Xây dựng các hình thức học tập mới để lôi cuốn
học sinh hăng say học tập.
- Từ ngữ và ngữ pháp Tiếng Việt vô cùng phong phú, đa dạng. Vì vậy
người giáo viên luôn trau dồi kinh nghiệm, vốn hiểu biết về từ ngữ, các biện
pháp tu từ. Liên tục trang bị cho mình giàu vốn từ ngữ, cách hành văn, đoạn văn
hay có như vậy mới làm tốt việc định hướng, sửa sai cho học sinh, giúp các em
hành văn trôi chảy hơn, đồng thời cung cấp thêm cho các em nguồn tư liệu.
- Xây dựng cho học cách học khoa học, tuân thủ các tiến trình thực hành
nhiệm vụ theo yêu cầu: như Viết đoạn văn, bài văn phải dựa vào dàn ý đã lập.
- Tổ chức dạy lồng ghép các mạch kiến thức, nhất là các phân mônTiếng
Việt trong phân môn tập làm văn. Thông qua nội dung yêu cầu bài giáo dục các
em tình cảm yêu mến gắn bó với cảnh vật, quê hương đất nước.
Trên đây chỉ là một vài ý kiến của bản thân tôi với mong muốn là khắc
phục những vướng mắc trong quá trình giảng dạy văn miêu tả trong phân môn

5.
6.
7.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phương pháp dạy học Môn Tiếng Việt của Lê Phương Nga .
Nhập môn Giáo dục Tiểu học.
Tiếng Việt 4.Tập 1,2 sách giáo viên
Vở bài tập Tiếng Việt 4. Tập 1,2.
Tiếng Việt 4.Tập 1,2 Sách giáo
Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ III.
Chuẩn kiến thức kỹ năng lớp 4.

17


DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Nguyễn Thị Hiền
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Nga Yên.
STT

1
2

TÊN ĐỀ TÀI SKKN

CẤP

Ngành cho đến thời điểm hiện tại.
----------------------------------------------------

18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status