MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn sáng kiến:
Trang 2
2. Mục đích nghiên cứu:
Trang 2
3. Đối tượng nghiên cứu:
Trang 3
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trang 3
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1 Cơ sở lý luận.
Trang 4
2. Thực trạng nghiên cứu:
Trang 4
3. Một số các giải pháp thực hiện:
Trang 4
nhiên thực tế hiện nay, hiện tượng học sinh viết sai lỗi chính tả còn rất phổ biến.
cần phải tự độc lập suy nghĩ, tự nghiên cứu, sáng tạo trong quá trình dạy học.
Đối với học sinh lớp 5, tuy các em đã được rèn luyện về chính tả ở các lớp dưới
nhưng nếu không duy trì được việc rèn chính tả liên tục thì sẽ dẫn đến tình trạng
các em viết sai, đọc sai, hiểu sai
Để khắc phục tình trạng học sinh viết sai lỗi chính tả, chúng ta đang cố gắng
sử dụng nhiều biện pháp, nhiều hình thức dạy chính tả nhằm giúp học sinh Tiểu
học hình thành, phát triển và hoàn thiện kĩ năng viết đúng Tiếng Việt văn hóa.
Là một giáo viên dạy lớp 5 nhiều năm liền, tôi luôn chú trọng và quan tâm
rèn cho học sinh viết đúng chính tả. Thấy các em viết sai lỗi chính tả nhiều, tôi
rất buồn lòng. Đặc biệt là khi chấm bài tập làm văn của các em thì thật là khổ sở.
Các em viết thì không dài nhưng để đọc và sữa lỗi cho các em thì thật là vất vả.
Chất lượng học tập, tỉ lệ các em lên lớp cao hay thấp phần lớn là dựa vào việc
viết đúng chính tả. Có viết đúng chính tả thì các em mới học tốt môn Tiếng Việt
cũng như các môn học khác. Việc dạy học sinh viết đúng chính tả là một việc
làm vô cùng khó khăn, nó đòi hỏi sự kết hợp vận dụng linh hoạt và sáng tạo
nhiều yếu tố, nhiều biện pháp, phương pháp và hình thức dạy học. Nhưng việc
gì càng khó khăn thì nó lại càng quan trọng. Mà đã là quan trọng thì chúng ta lại
càng phải làm và quyết tâm làm bằng được. Cũng vì những lí do trên mà tôi đã
chọn đề tài Sáng kiến kinh nghiệm là: Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng
chính tả cho học sinh lớp 5. Mong rằng những biện pháp mà tôi đã làm và đã
thành công sẽ được nhiều thầy cô biết đến và cùng chia sẻ.
2. Mục đích nghiên cứu:
Tôi viết Sáng kiến kinh nghiệm này nhằm:
2
1. Giải quyết những khó khăn trong việc dạy chính tả, rèn cho học sinh ý
thức, thói quen và hoàn thiện kĩ năng viết đúng chính tả, nhằm nâng cao chất
triển toàn diện.
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Để có biện pháp phương pháp dạy -học tốt môn chính tả chúng ta hãy nhìn
lại và đánh giá hiện trạng năm học.
1.2 Thuận lợi :
-Trong chương trình và sách giáo khoa cải cách giáo dục, chính tả được tách
thành phân môn độc lập, có tiết dạy riêng. Trong chương trình và sách giáo khoa
tiểu học, nhiệm vụ phân môn Chính tả là giúp học sinh nắm vững các quy tắc
chính tả và hình thành các kĩ năng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói
quen viết đúng tiếng Việt văn hóa, tiếng Việt chuẩn cơ sở . Học sinh tiến hành
luyện tập qua 2 tiết/ tuần trong vở ô li và các kiểu bài tập như điền từ,điền âm,
3
vần…trong “Vở bài tập Tiếng việt” .Tóm lại, có thể nói chính tả được tổ chức
dạy riêng, trong khuôn khổ của một phân môn Tiếng việt là một bước tiến đáng
kể của chương trình và sách giáo khoa cải cách giáo dục.
Trong năm học, các trường đều được học về vấn đề “Đổi mới SGK Tiếng
việt” và từ đó đến nay, chúng ta đã thực hiện nhiều chuyên đề dạy Tiếng việt
theo phương pháp mới “Lấy học sinh làm trung tâm”, các chuyên đề “Đổi mới
phương pháp dạy học Tiếng việt ở tiểu học”.
Hiện nay, nhà trường đã trang bị hệ thống máy chiếu ở tất cả các phòng học
tạo điều kiện để giáo viên có thể đổi mới phương pháp dạy học giúp học sinh
chủ động chiếm lĩnh kiến thức.
Đội ngũ giáo viên phần lớn đạt trình độ đại học, có tâm huyết với nghề, luôn
không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn .
Một số phụ huynh rất quan tâm, sát sao việc học của con và mua sắm đầy đủ
sách vở và đồ dùng học tập cho con.
Tất cả các điều trên tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên dạy tốt phân môn
chính tả.
2. Học sinh đọc còn yếu, nhiều tiếng phải dừng lại đánh vần. Vì thế các em
không nhớ chữ ghi âm, tiếng và từ, dẫn đến việc thông hiểu nội dung còn hạn
chế.Và việc biến hình thức âm thanh thành chữ viết sẽ rất khó khăn.
3.Học sinh không nắm vững các qui tắc chính tả đã học nên viết tùy tiện, nghĩ
sao viết vậy
4.Vốn từ vựng của các em còn rất hạn chế .Các em chưa hiểu được nghĩa từ
nên hay viết lẫn lộn các âm đầu, âm cuối, vần và thanh.
5.Hiện nay, với sự phát triển nhanh về kinh tế, văn hóa và xã hội; việc nghe,
nói, đọc xem của học sinh thì rất nhiều nhưng viết thì ngày càng giảm. Học sinh
chịu sự tác động của kênh hình trong học tập nhiều hơn kênh chữ và việc lạm
dụng các vở bài tập, các câu hỏi trắc nghiệm trong kiểm tra, trong thi cử làm cho
học sinh rất ít có cơ hội được viết, được rèn chính tả.
Căn cứ vào các nguyên nhân trên, tôi đề ra các biện pháp thực hiện sau đây:
* Phát động phong trào: “ Nói chuẩn –Viết chuẩn” trong giao tiếp.
* Rèn kĩ năng đọc đi đôi với luyện viết chính tả.
* Vận dụng qui tắc dạy chính tả theo khu vực.
* Kết hợp ghi nhớ hình thức chữ viết của từ và nghĩa của từ
* Hướng dẫn học sinh làm bài tập chính tả âm,
* Hướng dẫn học sinh tự phát hiện lỗi và sửa lỗi.
* Tuyên dương khen thưởng kịp thời những học sinh có nhiều tiến bộ trong
học tập.
3.2 Phát động phong trào “Nói chuẩn -Viết chuẩn” trong giao tiếp
Trong năm học 2015-2016 hưởng ứng phong trào “Nói chuẩn-Viết chuẩn” của
phòng Giáo dục thành phố Thanh Hóa, tôi đã có cuộc nói chuyện với học sinh
lớp 5B. Tôi hỏi các em :
- Các con đã bao giờ ăn cơm mà gặp phải hạt sạn chưa ?
- Rồi a.
- Vậy cảm giác như thế nào?
- Rất khó chịu và ăn cơm mất ngon.
- Cách phát âm sai và cách viết sai lỗi chính tả cũng “chướng tai” “gai mắt”
- Vũ Nhật Minh.
- Hàng ngày trên lớp, tôi chú ý rèn đọc cho các em bằng cách:
- Gọi các em đọc bài nhiều lần không chỉ ở phân môn tập đọc mà cả ở các môn
học khác, kiên trì sửa lỗi cho từng em.
-Tổ chức cho các em đọc bài trong nhóm trong 15 phút đầu giờ ( 4 lần/
tuần).Phân công học sinh tốt đọc bài cùng các em khi luyện đọc trong nhóm.
- Giáo viên đọc một đoạn văn cho học sinh viết cá nhân .Sau đó, tôi kiểm tra và
nhận xét chỉ cho em thấy lỗi và hướng khắc phục.
- Khuyến khích các em học thuộc lòng một đoạn văn hay một vài khổ thơ, rồi
nhớ- viết đoạn văn hay khổ thơ đã thuộc.
- Ngoài ra, mỗi tuần, tôi giành một buổi chiều (chiều thứ năm nghỉ) để tổ chức
cho các em luyện đọc, luyện viết.
3.4 Dạy chính tả theo khu vực
Cách phát âm theo phương ngữ có ảnh hưởng trực tiếp đến việc viết đúng
chính tả của học sinh Tiểu học.Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc học sinh
viết sai lỗi chính tả nhiều. Cùng với việc luyện cho các em đọc đúng chính âm
chúng ta có thể khắc phục lỗi chính tả cho học sinh ở mỗi vùng miền khác nhau
bằng cách“ Dạy chính tả theo khu vực”. Nghĩa là, chúng ta phải xác định được
“trọng điểm chính tả’’ cần dạy cho học sinh, nội dung về giảng dạy chính tả
phải sát hợp với tình hình thức tế mắc lỗi chính tả của học sinh ở địa phương đó.
Hiện nay, SGK Tiếng Việt đã có những bài tập chính tả cho giáo viên lựa chọn
hoặc giáo viên có thể tự soạn nội dung bài tập sao cho phù hợp với học sinh
thuộc vùng miền mình đang dạy. Đó là điều kiện thuận lợi cho giáo viên, nhưng
cũng là những khó khăn đòi hỏi sự sáng tạo, sự đầu tư nhiều cho bài dạy ở mỗi
giáo viên.
Để dạy chính tả theo khu vực, tôi tiến hành như sau
+. Điều tra, phát hiện và tổng hợp những lỗi chính tả cơ bản của học sinh
*Lỗi mà đa số học sinh lớp tôi mắc phải chủ yếu là lỗi do ảnh hưởng của
6
- in/ iên
- ui/ uôi
- êu/ iêu
Ví dụ
Viết đúng
rộn ràng, gia cảnh
xôn xao, xinh xắn
trung thực, chung thủy
- cái kẹo, kêu gọi,…
Viết sai
dộn dàng, da cảnh
sôn sao, sinh sắn
chung thực , chung
thủy
- cái cẹo, cêu gọi
- dịu dàng líu lo
- diệu dàng, líu lo
-tin tưởng , mít tinh
-tinh tưởng, mít tin
- chín chắn, đàn kiến
- chính chắn, đàn
- sống mũi, chuối chín kín
cùng
- sống muỗi, chúi
- đều đặn, kêu gọi,…
vỉ đại, vĩ thuốc,
mảnh liệt, mãnh
vải,nổi buồn, nỗi
trôi, cái mủi, mũi
lòng,…
5. Lỗi riêng biệt
Ở hàng ngang thứ sáu, em nào mắc lỗi, tôi mới ghi vào. Mặt sau của bảng tổng
hợp này, tôi lập bảng theo dõi việc sữa lối của học sinh trong nửa học kì I ( một
năm 4 lần ).
BẢNG THEO DÕI VIỆC SỬA LỖI
Số Tên
bài Tổng
TT chính tả
số lỗi
1
2
3
Sửa lỗi
……………………..
………………………
……………………….
………………………..
………………………..
6
7
8
9
……………………….
Anh bộ đội ……. ……………………….
Cụ Hồ gốc
……………………….
Bỉ
……………………….
Một chuyên ……. ………………………
gia máy xúc
……………………….
………………………..
………………………...
………………………..
………………………..
……………………….
………………………..
……………………….
………………………..
Dòng kinh ……. ……………………….
quê hương
……………………….
Sau khi trả bài chính tả, tôi hướng dẫn các em cách ghi các lỗi và sửa lại cho
đúng (ghi từ chứa tiếng sai để hiểu nghĩa rồi viết lại đúng chính tả), sửa trong vở
chính tả, sau đó ghi vào bảng tổng hợp. Mấy tuần đầu, những em viết sai nhiều,
tôi nhắc nhở và khuyến khích các em về nhà chép lại bài cho đẹp và đúng chính
tả. Hết nửa kì, tôi thu bảng tổng hợp và vở chính tả của học sinh để kiểm trađánh giá, chọn ra 7 học sinh tiến bộ nhất để khen thưởng. Nhờ có bảng tổng hợp
này, các em có ý thức hơn trong việc rèn luyện chữ viết, thi đua viết đúng chính
tả.
3.5 Kết hợp ghi nhớ hình thức chữ viết của từ và nghĩa của từ
Việc nắm nghĩa từ rất quan trọng. Hiểu nghĩa của từ là một trong những cơ sở
giúp học sinh viết đúng chính tả. Đó là đặc trưng quan trọng về phương diện
ngôn ngữ của chính tả Tiếng Việt, nó sẽ giúp học sinh giải quyết được những lỗi
chính tả do ảnh hưởng cách phát âm theo phương ngữ. Vì vậy có thể nói rằng
chính tả Tiếng Việt còn gọi là chính tả ngữ nghĩa.
9
Học sinh lớp tôi viết sai chính tả, một phần lớn là do các em không nắm
được nghĩa của từ. Vì thế, khi dạy chính tả hoặc dạy các phân môn học khác của
môn Tiếng Việt, tôi luôn chú ý giúp các em:
- Hiểu nghĩa của từ, phân biệt từ này với từ khác để các em ghi nhớ cách viết
của mỗi từ.
Ví dụ: Nếu tôi đọc một từ có hình thức ngữ âm là “ trung“ thì học sinh sẽ
lúng túng trong việc xác định hình thức chữ viết của từ này. Nhưng nếu tôi đặt
nó vào một ngữ cảnh hay gắn cho nó một nghĩa xác định như : Em vui tết trung
thu cùng các bạn../Chung tay góp sức xây dựng quê hương./ . Như vậy học sinh
sẽ dễ dàng viết đúng chính tả.
- Khi đọc chính tả cho học sinh viết, tôi đọc từng cụm từ ( diễn đạt một ý
nhỏ); tôi luôn nhắc nhở các em chú ý lắng nghe , hiểu nghĩa từ để viết đúng
chính tả
Mẫu : sóng biển
……………………………….
………………………………
……………………………….
Các từ có tiếng chứa ô
Mẫu: cuộc sống
……………………………….
………………………………
……………………………….
Đối với những bài tập dạng này, tôi thường tổ chức cho các em thi đua ‘ Tìm
đúng, tìm nhanh “ trong nhóm. Trong cùng một thời gian, nhóm nào tìm được
nhiều và đúng là thắng cuộc.
3.6 Hướng dẫn học sinh làm bài tập chính tả âm,
Tôi đã áp dụng một số biện pháp như :
- Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập bằng cách cho học sinh đọc
thầm rồi trình bày lại yêu cầu bài tập, giáo viên giải thích thêm cho rõ nếu thấy
cần thiết. Tổ chức cho học sinh thực hiện làm mẫu một phần của bài tập để cả
lớp nắm được yêu cầu của bài tập đó.
Ví dụ :
a) Mỗi cột trong bảng dưới đây ghi một cặp tiếng chỉ khác nhau ở âm cuối n
hay ng. Hãy tìm những từ ngữ chứa các tiếng đó.
Trăn
Trăng
dân
dâng
răn
tổ chức để học sinh góp ý cho nhau, đánh giá nhau trong quá trình làm bài. Cuối
cùng giáo viên sơ kết, tổng kết ý kiến học sinh.
- Bài tập trắc nghiệm : Vừa để tạo hứng thú cho các em, vừa để giúp các em
nâng cao chất lượng học tập. Nội dung các bài tập trắc nghiệm bám sát các yêu
cầu của từng bài học trong sách Tiếng Việt 5 song hình thức bài tập thì rất đa
dạng. Qua việc thực hành các bài trắc nghiệm này, học sinh có thể tự luyện tập
nhiều nội dung học tập nhằm hiểu kiến thức và thành thạo hơn các thao tác
thuộc một kĩ năng đã học tự luyện tập được khả năng giải thích, nhận xét, sắp
xếp ý trong một câu, hoặc một đoạn, một bài ngắn.
Ví dụ :
* Khoanh tròn vào chữ cái trước những chữ viết đúng chính tả:
a. Chim sẽ
b. Chim sẻ
c. Giải lụa
d. Dải lụa
e. Ngộ ngĩnh
g. Ngộ nghĩnh
* Điền chữ Đ vào ô trống trước những chữ viết đúng chính tả và chữ S vào ô
trống trước những chữ viết sai chính tả:
Rau muốn
Rau muống
Chải chuốc
Chải chuốt
Giặc quần áo
Giặt quần áo
* Nối tiếng ở cột A với tiếng ở cột B để tạo thành những từ viết đúng chính tả:
A
B
bênh
trái
Các qui tắc chính tả
Cách viết
Qui tắc ghi phụ âm
đầu
a) Qui tắc viết k/ c/ q
-Trước i, e, ê, đượ viết là k,
Trước âm đệm u được viết là
b) Qui tắc viết g / gh và q.
ng / ngh
- Trước i, e, ê được viết là
gh hay ngh. Viết là g hay ng
trong các trường hợp còn lại.
Qui tắc ghi âm i ,y
- Viết i sau âm đầu
- Viết y sau âm đệm
- Khi nguyên âm này đứng
một mình thì viết là i đối với
từ thuần Việt ; viết là y đối
với từ gốc Hán.
3
4
Qui tắc ghi dấu - Có âm cuối thì đặt dấu
thanh các tiếng có thanh ở chữ cái thứ hai của
nguyên âm đôi
y tá, y hệt, y
phục, y tế, lương
y, y dược,…
- lượn , vườn,
chuồn
chuồn,
suối, tuổi
- lúa, tía,cửa,
vửa, , cứa, đĩa,
…
-TrầnMai Ninh,
Lê Vă Tám, Lê
Viết Tạo,…
- Trường Tiểu
học
Hoằng
Đại, ..
13
5
Qui tắc viết tên riêng
nước ngoài:
a) Trường hợp phiên
âm qua âm Hán Việt.
b) trường hợp không
phiên âm qua âm Hán
Việt.
- Với nh ( nhớ) : nhẫn nại, nhiễm bệnh, truyền nhiễm, tham nhũng, thổ
nhưỡng,..
- Với d ( dấu) : dưỡng sinh, nuôi dưỡng, dũng cảm, dã thú, dã man, diễm phúc,
…
- Với ng ( ngã) : té ngã, ngỡ ngàng, ngưỡng mộ, ngôn ngữ, ngữ nghĩa, đội ngũ,
…
- Với l (là) : lữ khách,lễ độ,thành lũy,..
-Với v (viết) : uy vũ, vĩ độ, vãng lai, viễn thị,…
- Còn các từ không được bắt đầu bằng 7 âm trên sẽ được viết với dấu hỏi.
3. Mẹo nhóm nghĩa tr- ch:
- Những từ chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình thì viết là ch chứ không viết
là tr: cha, chú, chị, cháu, chắt, chồng,…
- Những từ chỉ đồ vật trong gia đình thì viết là ch chứ không viết là tr: chai,
chum, chạn, chén, chổi, chão, chõng, chiếu,..( ngoại trừ cái tráp, đồ vật này giờ
ít dùng).
14
- Tr không bao giờ đi với các vần oa, oă, oe, uê,..chỉ có ch có khả năng đi với
các vần này.: choáng váng, choảng nhau, loắt choắt, …
- Ch láy với các phụ âm đứng trước hoặc đứng sau tr không láy với phụ âm
khác: chót vót, chơi bời, cheo leo, chộn rộn, chơi vơi
- Những từ Hán-Việt mang dấu nặng và dấu huyềnđều chỉ đi với tr chứ không đi
với ch:
Ví dụ: trịnh trọng, trụ sở, trù bị,…
4. Mẹo nhóm nghĩa s- x:
- S không kết hơp với 4 vần oa, oă,oe, uê,..do vậy chỉ có thể viết x với 4vần
này
- Chỉ có x mới láy âm với các phụ âm đầu khác còn s không có khả năng này:
lao xao, liêu xiêu, xoi mói, xớ rớ,..
+ ra ( sự di chuyển) : ra vào, ra ngoài, ra sân, ra chơi,…
15
Nhờ có bảng tổng hợp các qui tắc và mẹo luật chính tả này mà học sinh lớp
tôi trở nên sôi nổi học tập, em nào cũng thuộc những câu thơ về mẹo luật chính
tả, lỗi chính tả đã giảm đi đáng kể. Nhưng chỉ nắm các qui tắc và các“ mẹo”
chính tả thì vẫn chưa khắc phục được triệt để các lỗi chính tả. Vì vậy, khi dạy
chính tả , tôi phải phối hợp vận dụng cả qui tắc “ Kết hợp chính tả có ý thức
với chính tả không ý thức”. Phương pháp có ý thức giữ vị trí quan trọng trong
việc giúp học sinh nắm vững các quy tắc chính tả, các mẹo chính tả, là cơ sở
hình thành kĩ xảo chính tả. Nhưng trong một số trường hợp ghi nhớ các hiện
tượng chính tả có tính chất võ đoán, không gắn với một qui luật, qui tắc nào thì
tôi dạy các em cách “ nhớ từng chữ một” ( cách không óc ý thức), đây cũng là
giải pháp hữu hiệu, hợp lí. Bởi vì, phần lớn những người viết đúng chính tả hiện
nay đều dựa vào cách nhớ từng từ một.Theo cách này, tôi hướng dẫn học sinh
chỉ cần tập trung nhớ mặt chữ của những từ dễ viết sai. Những từ dễ viết sai này
chiếm tỉ lệ không nhiều, do đó học sinh có thể ghi nhớ được.
Chẳng hạn như: rượu, hươu, khướu, ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, xoong, quần
xoóc, xe goòng, …hoặc từ những chỉ viết ngã chứ không viết hỏi, từ để chỉ viết
hỏi chứ không viết ngã, từ kể chỉ viết hỏi chứ không viết ngã, …
3.8 Hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi
Song song với việc ôn tập giúp học sinh nắm vững các qui tắc và mẹo chính
tả, việc hướng dẫn học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi trong bài viết cũng rất quan
trọng. Đây là một thói quen mà giáo viên cần phải rèn cho học sinh , không chỉ
ở chính tả mà ở tất cả các môn học khác.
* Đối với bài chính tả Đoạn bài, sau khi học sinh viết xong, tôi tổ chức cho
học sinh đổi vở và soát lỗi lẫn nhau. Tôi qui định lỗi cụ thể, yêu cầu các em soát
lỗi bài viết của bạn, dùng bút chì gạch dưới chữ viết sai, tổng hợp số lỗi rồi trả
về cho bạn tự sửa ( ghi từ chứa tiếng sai rồi sửa lại đúng chính tả).
viết sai lỗi nhiều (11 em đạt loại C )nhưng đến cuối học kì I, các em đã có sự
tiến bộ rõ rệt, hơn 1/3 đạt loại A ; 1/3 đạt loại B ; chỉ còn 2 em viết sai nhiều, có
bài vẫn phải chép lại. Nhưng so với đầu năm, các em vẫn có tiến bộ rất nhiều.
Các em không chỉ có ý thức viết đúng chính tả mà còn có ý thức rèn luyện chữ
viết, về nhà các em tự luyện viết thêm, rồi mang đến lớp khoe với tôi. Điều đó
làm tôi rất mừng. Sang học kì II, các em càng tiến bộ hơn. Những em đầu năm
viết sai những lỗi riêng biệt đều đã khắc phục được. Em Nguyễn Thị Hà không
còn viết nhẹn thành thẹn nữa; Em Nguyễn Văn Đức không còn lẫn lộn thanh
hỏi và thanh ngã nữa; em Lê Văn Dũng đã viêt đúng vần ây; em Nguyễn Văn
Nam không còn lẫn lộn âm nh thành âm ng nữa.Ngày 25 tháng 3 năm 2016,
đoàn Thanh tra vở sạch chữ đẹp của phòng Giáo dục thành phố Thanh Hóa đã
kiểm tra vở chính tả và kiểm tra trực tiếp chữ viết trên lớp của các em.Kết quả
như sau: Lớp5B : Sĩ số:27 em có 15 em xếp loại A, 12 em xếp loại B, không còn
em nào xếp loại C.Xếp loại chung: Loại 1.
III. PHẦN KẾT LUẬN, KIẾN NGHI.
1. Kết luận:
- Dạy chính tả cho học sinh thì phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi
chính tả của học sinh để hình thành nội dung giảng dạy chính tả.Mỗi vùng
miền,mỗi địa phương có một “trọng điểm chính tả”riêng.Vì vậy,giáo viên cần
chú ý vận dụng nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực.Song song với dạy chính
tả theo khu vực, giáo viên phải phát huy tính có ý thức trong dạy chính tả, coi
nguyên tắc kết hợp chính tả có ý thức với chính tả không có ý thức là nguyên tắc
cơ bản,chủ đạo trong việc dạy chính tả cho học sinh Tiểu học. Biết vận dụng
những kiến thức về ngữ âm học Tiếng Việt vào việc phân loại lỗi chính tả, phát
hiện đặc điểm của từng loại lỗi, nhất là việc xây dựng các qui tắc chính tả các “
mẹo” chính tả, giúp học sinh ghi nhớ cách viết một cách khái quát, có hệ
thống.Tận tình dạy bảo, ân cần hướng dẫn và giúp đỡ những học sinh viết chưa
đạt. Thường xuyên kiểm tra vở, nhắc nhở các em cách trình bày, cách sửa lỗi
trong vở. Động viên, tuyên dương và khen thưởng những học sinh có nhiều tiến
bộ.
18
Tài liệu tham khảo:
1. Sổ tay chính tả.
2. Giáo trình Tiếng Việt.
3. Sách giáo khoa Tiếng Việ lớp 5.
4. Chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ.
19