SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT TRIỆU SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LÀM VĂN TẢ NGƯỜI
CHO HỌC SINH LỚP 5
Người thực hiện: Lê Thị Bắc
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Triệu Thành
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt
THANH HOÁ NĂM 2019
MỤC LỤC
TT
1
1.1
1.2
1.3
1.4
2
2.1
2.2
2.3
2.4
3
3.1
9
9
9
1. MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Chúng ta biết rằng: Mục tiêu của Giáo dục Tiểu học hiện nay đặt ra là:
“Giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và
lâu dài về đạo đức, trí tuệ, phẩm chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh
tiếp tục học trung học cơ sở”. [1]
Trong đó, ở chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là môn học có chức năng
“kép” (vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ) và là môn học chiếm nhiều
thời lượng nhất.[2] Môn Tiếng Việt cung cấp một khối lượng kiến thức cơ bản
cho mỗi học sinh trước khi bước vào đời. Đồng thời, nó giúp học sinh rèn luyện,
nâng cao trình độ sử dụng một phương tiện học tập và lĩnh hội tri thức khoa học,
nâng cao kỹ năng sử dụng Tiếng Việt. Học Tiếng Việt và sử dụng thành thạo các
kỹ năng của Tiếng Việt mới là mục tiêu cần hướng tới.
Để đạt được mục tiêu trên, phân môn Tập làm văn đã góp phần không
nhỏ, phân môn Tập làm văn góp phần rèn luyện tư duy hình tượng, từ óc quan
sát đến trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được đến
khả năng nhào nặn các chất liệu trong đời sống thực để xây dựng nhân vật, cốt
truyện. Khả năng tư duy logic của học sinh cũng được phát triển qua quá trình
phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn,….
Để giao tiếp phải có thái độ đúng đắn với đối tượng giao tiếp. Phân môn
Tập làm văn khi dạy các nghi thức cũng đồng thời dạy cách cư xử đối với mọi
người như sự lễ phép, lịch sự trong nói năng. Để viết văn cần có những hiểu biết
và tình cảm với đối tượng được viết, vì vậy phân môn Tập làm văn đã tạo cho
học sinh có sự hiểu biết và tình cảm yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với con
người và vạn vật xung quanh: từ một cơn mưa, một buổi sáng đẹp trời, một em
diễn đạt cho học sinh, tạo điều kiện vững chắc cho các em học tốt môn Tiếng
Việt ở lớp 5 và các lớp sau.
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp giúp học sinh lớp 5 nắm chắc được cấu tạo của bài văn tả
người và có kỹ năng sử dụng biện pháp nghệ thuật, tạo hứng thú trong giờ học
Tập làm văn .
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
1. Phương pháp điều tra, phân tích tổng hợp.
2. Phương pháp nghiên cứu lý luận (đọc, nghiên cứu tài liệu)
3. Phương pháp tổng kết, rút kinh nghiệm
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
a) Mục đích của việc dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 5 là:
- Trang bị kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làm văn
- Góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy
logic, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ và hình thành
nhân cách cho học sinh.
b) Các kiến thức làm văn miêu tả ở lớp 5:
- Tả cảnh
- Tả người
c) Các kĩ năng làm văn miêu tả được rèn luyện ở lớp 5:
- Phân tích đề bài
- Xác định dàn ý của bài văn đã cho sẵn
- Quan sát đối tượng, tìm và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả
- Xây dựng đoạn văn
- Liên kết các đoạn trong bài
- Sửa lỗi nội dung và hình thức diễn đạt.
d) Dạy Tập làm văn giúp mở rộng vốn sống, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc
thẩm mĩ và hình thành nhân cách cho học sinh.
Việc giúp các em nắm chắc được cấu tạo của bài văn tả người, viết được
cũng còn nghèo nàn, chưa đáp ứng được nhu cầu truyền thụ kiến thức cho học
sinh trong khi đó, tài liệu tham khảo dành cho giáo viên và học sinh chưa nhiều.
Giáo viên hầu như chưa kết hợp lồng ghép dạy tích hợp kiến thức Luyện từ và
câu với kiến thức Tập làm văn.
2. Về phía học sinh
Học sinh thường thiếu kỹ năng quan sát đối tượng được miêu tả (chỉ bắt
chước được bài văn mẫu). Khi miêu tả không trung thực, không sát thực tế, chỉ
thấy hình ảnh ở bài văn mẫu hay thì bê nguyên vào bài của mình mà không chý ý
xem các chi tiết được miêu tả ấy có đúng với người mình đang tả hay không (ví dụ:
mẹ em có nước da trắng như trứng gà bóc, đôi mắt bồ câu.). Cách sắp xếp các ý
còn lộn xộn. Đa số học sinh mới chỉ nắm được cấu tạo của một bài tập làm văn tả
người gồm có 3 phần nhưng khi viết có những học sinh chưa phân biệt rõ 3 phần,
có những em viết được đủ 3 phần nhưng mở bài chưa hay, tả thường sa vào liệt kê
sự vật, chưa biết cách tả - chưa lồng ghép được các biện pháp nghệ thuật, kết bài
chưa hấp dẫn, …
Vì nội dung dạy học về bài văn tả người ở lớp 5 nằm gọn trong chương
trình học kì 1 nên hết học kì 1 năm học 2018 – 2019, tôi đã tiến hành khảo sát
trình độ học sinh .
Đề bài: Em hãy tả một người mà em yêu quý .
Kết quả thu được như sau:
Học sinh có kĩ năng Học sinh có kĩ năng Học sinh chưa có kĩ
viết tốt
viết được
năng cơ bản về viết
Lớp Sĩ số
văn tả người
SL
TL
SL
TL
dạng văn tả người cũng như trong phân môn Tập làm văn. Nếu chúng ta không
nghiên cứu kỹ kiến thức và kỹ năng về dạng văn tả người thì sẽ không có định
hướng cụ thể, rõ ràng khi dạy dạng văn tả người cho các em.
Do đó, tôi đã tiến hành nghiên cứu, bồi dưỡng về kiến thức, kỹ năng về
dạng văn tả người như sau:
- Nghiên cứu, bồi dưỡng về kiến thức
Bản thân tôi luôn tự nghiên cứu để nắm vững nội dung kiến thức làm văn
tả người trong Tiếng việt 5 được sắp xếp xen kẽ từ tuần 12 đến tuần 21 với các
bài về luyện tập tả người (dựng đoạn mở bài, dựng đoạn kết bài…) và các bài có
liên quan khác. Đồng thời tìm ra cách thức và phương pháp hướng dẫn các em
dễ hiểu, làm được và vận dụng một cách linh hoạt vào dạng tập làm văn tả
người.
Ngoài ra tôi tham khảo từ các đồng nghiệp có kinh nghiệm lâu năm về
cách dạy các đối tượng học sinh gặp khó khăn về kĩ năng làm văn tả người để
tôi chọn lọc phù hợp vào dạy đối tượng học sinh lớp của mình.
- Bồi dưỡng kĩ năng
Tôi luôn học hỏi và tự mình phải làm và sử dụng được các kĩ năng làm
tập làm văn một cách thuần thục để tránh việc lúng túng khi hướng dẫn học sinh,
luôn chủ động và tự tin với bài giảng.
Học hỏi, tham khảo các biện pháp rèn kĩ năng viết tập làm văn tốt, kĩ năng
viết dạng văn “tả người” từ đồng nghiệp.
Bản thân phải làm tốt các bài văn tả người, sử dụng thuần thục từng bước
từ đó tự tin, mạnh dạn hơn trong khi hướng dẫn từng đối tượng học sinh trong
lớp. Là một giáo viên chủ nhiệm lớp, tôi luôn tìm hiểu và nắm bắt được hoàn
cảnh của từng đối tượng học sinh trong lớp; đồng thời luôn hoà mình với học
sinh tạo sự gần gũi, thân thiện với học sinh.
Lựa chọn cách dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh của lớp. Tổ
chức lồng ghép các trò chơi học tập với nội dung học phù hợp với lứa tuổi học
4
sát được về người đó. Khi quan sát, phải hình thành những nhận xét về người
định tả. Quan sát phải tìm ý gắn với tìm lời (từ ngữ, hình ảnh, cách diễn đạt để
diễn tả điều quan sát được. Nhằm giúp các em có thể tả thực, cụ thể tôi đã tiến
hành rèn cho học sinh kỹ năng quan sát khi miêu tả người như sau:
- Đưa ra một hình mẫu, một người thực… để học sinh tiến hành quan sát.
- Hướng dẫn học sinh quan sát theo trình tự từ xa đến gần, từ hình dáng
đến hoạt động, đến tính tình của người đó. … Ghi chép những điều đã quan sát
được. Tổ chức cho học sinh quan sát cụ thể đối tượng được tả. Có thể hướng dẫn
học sinh quan sát theo nhiều hình thức: quan sát trực tiếp đối tượng, quan sát ở
nhà rồi ghi chép…Nói lại những điều quan sát được trong nhóm, trước lớp…
- Khi quan sát lần lượt từng học sinh tự mình nói ra những gì mình quan
sát được, sau đó bạn nhận xét, giáo viên nhận xét và chốt lại những điều đã quan
sát;
Ví dụ: Khi quan sát 1 bạn học sinh trong lớp
5
Khi tả về khuôn mặt: có bạn nói là “khuôn mặt bạn ấy tròn, da trắng như
tuyết” mà thực tế da bạn ấy không trắng, giáo viên phải sửa luôn: nước da ngăm
ngăm; hơi đen; không trắng lắm….
- Dành một khoảng thời gian để học sinh nhớ lại những gì mình đã quan
sát được và ghi lại vào vở thành đoạn văn.
- Điều kiện tiến hành giải pháp: hình ảnh, người cần quan sát để tả, học
sinh.
Biện pháp 4: Làm giàu vốn từ cho học sinh và kỹ năng sử dụng biện
pháp “nhân hóa”, “so sánh” khi làm văn tả người.
Nếu học kiểu bài kể chuyện học sinh chỉ tái hiện lại nội dung câu chuyện
đã nghe, đã đọc là có thể đạt được yêu cầu cơ bản của đề bài thi văn tả người đòi
hỏi phải có một vốn từ phong phú mới có thể làm bài. Thế giới quanh ta rất
Tả làn da: trắng hồng, trắng trẻo, ngăm đen, da bánh mật, làn da nâu,
mịn màng, …
6
Tả nụ cười: tươi rói, rạng rỡ, tủm tỉm, tươi tắn, chúm chím, đẹp, xấu,
hiền, tươi, xinh,…
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh lựa chọn từ ngữ, hình ảnh khi miêu
tả, sử dụng câu văn cho phù hợp. Khi trình bày kết quả quan sát hoặc khi học sinh
luyện viết đoạn, giáo viên cần uốn nắn, chỉ chỗ sai cho học sinh ngay khi phát hiện
học sinh dùng từ chưa đúng và yêu cầu viết lại đoạn đó
- Điều kiện tiến hành giải pháp: cung cấp nhiều vốn từ, HS ghi vào sổ tay
ghi chép.
Biện pháp 5: Rèn học sinh kỹ năng viết đoạn văn tả người.
Việc hướng dẫn cho học sinh có được kĩ năng viết đoạn văn là một việc làm
không đơn thuần chỉ trong ngày một ngày hai là làm được mà đó là cả một quá
trình lâu dài từ bài này qua bài khác mới được. Đòi hỏi sự sáng tạo nhất, chúng
yêu cầu học sinh phải vận dụng một cách tổng hợp sự hiểu biết, cảm xúc về cuộc
sống, về các đối tượng được tả, kể và các kỹ năng ngôn ngữ đã được hình thành
trước đó để tạo lập được đoạn, bài. Đây là một quá trình chuyển từ ý đến lời. Ý
và lời có sự thống nhất nhưng không đồng nhất. Chính vì thế tôi đã tiến hành
như sau:
- Trước hết, giáo viên phải luyện cho học sinh diễn đạt đúng những điều
muốn nói, viết. Tiếp đó một ý có thể diễn tả thành những lời khác nhau. Học
sinh phải biết lựa chọn cách diễn đạt nào hiệu quả giao tiếp nhất. Khi viết giáo
viên cần chú ý rèn kĩ năng viết được câu mở đoạn cho học sinh, từ câu mở đoạn
mới có thể triển khai viết thành một đoạn văn. Trong đoạn văn cần chú ý cho
học sinh cách tả theo trình tự lô gic nhất định, tránh tình trạng tả đi tả lại chỉ một
vấn đề. Mỗi lần học sinh viết giáo viên nên gợi ý cho học sinh thấy đâu là câu
mở đoạn trong đoạn văn. Từ câu mở đoạn đó triển khai viết từ câu mở đoạn đó.
Giáo viên là người cuối cùng đưa ra nhận xét và kết luận.
*Thân bài:
Phần thân bài cũng có thể hướng cho học sinh viết thành nhiều đoạn, mỗi
đoạn là một ý khác nhau, tả hình dáng bên ngoài và chi tiết từng bộ phận. Trong mỗi đoạn khi miêu tả cần chú ý cho học sinh về sử dụng các hình ảnh so
sánh, nhân hóa trong văn miêu tả. Hướng cho học sinh vận dụng các giác quan
tham gia vào tả như thị giác, thính giác, xúc giác, …
Ví dụ: A Cháng trông như một con ngựa tơ hai tuổi, chân chạy qua chín
núi mười khe không biết mệt, khỏe quá! Đẹp quá!
A Cháng đẹp người thật. Mười tám tuổi, ngực nở vòng cung, da đỏ như
lim, bắp tay bắp chân rắn như trắc, gụ. Vóc cao, vai rộng, người đứng thẳng như
cái cột đá trời trồng…..
- Giáo viên cho học sinh viết phần thân bài sau đó đọc cho cả lớp cùng
nghe rồi nhận xét, đánh giá các ý mà học sinh viết. Những bài đạt chất lượng là
những bài có cách viết trôi chảy, các ý diễn ra một cách tự nhiên. Học sinh biết
sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hóa, liên tưởng một cách phù hợp. Bài viết
có vận dụng các giác quan vào việc miêu tả một cách linh hoạt và khoa học. Bài
viết phải có hồn khi đọc bài lên thì hình ảnh phải được hiện lên trước mắt người
đọc. Nếu đạt được như thế thì đó là bài văn thành công.
- Nếu bài viết chưa đạt đạt các ý trên, thì giáo viên phải động viên các em
đó viết lại, có thể tham khảo những bạn có bài văn hay. Nếu như học sinh viết
vẫn chưa được tốt lắm thì giáo viên nên đưa ra các hình ảnh, tranh ảnh minh họa
hay một đoạn video về người được tả và chỉ dẫn cho học sinh miêu tả từng bước
một. (Về hình ảnh, video giáo viên có thể sử dụng trình chiếu).
* Kết bài:
- Đây cũng là một phần rất quan trọng trong bài văn, nó đóng góp một
phần thành công hay thất bại của bài văn mà mình đã làm.
- Giáo viên nên hướng cho học sinh cách kết bài mở rộng, cũng tập cho
học sinh cách kết bài mở rộng. Cũng tương tự như phần trên giáo viên nên cố
gắng rèn cho học sinh viết bằng được phần này. Khi học sinh viết tốt thì giáo
viên nên động viên khích lệ tinh thần học sinh.
TL
5A
22/31
71%
31/31
100%
0
0%
Kết quả trên cho thấy: Có100% số học sinh lớp tôi đã có kỹ năng viết
được các dạng văn tả người, thậm chí còn có nhiều em có kỹ năng viết văn tả
người tốt. Trong giờ học, các em tập trung hơn, say sưa cùng bạn bè quan sát đối
tượng cần miêu tả. Có thể nói rằng một số học sinh trước đây còn gặp khó khăn
khi viết đến bây giờ không còn ngại khi viết văn nữa.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Qua quá trình nghiên cứu tài liệu và thực tế giảng dạy tôi thấy việc dạy
cho các em tìm hiểu về văn tả người là cả một quá trình thường xuyên, liên tục
và dần dần đạt được kết quả ở nhiều mức độ. Điều cơ bản để làm được việc đó
là giáo viên cần định hướng hướng dẫn cho các em kỹ năng quan sát thực tế, làm
giàu vốn từ cho học sinh. Sau đó giáo viên cần nhấn mạnh, chốt lại kiến thức sau
khi học sinh học xong bài học. Suốt quá trình áp dụng các biện pháp, tôi thấy
được tính hiệu quả của SKKN như sau:
- Các em dùng từ chính xác hơn, sử dụng từ hay biết viết thành câu, kĩ
năng viết văn có tiến bộ, nhiều em viết hay được chọn làm bài mẫu để đọc trước
lớp. Đồng thời học sinh có tinh thần hợp tác, biết tôn trọng lắng nghe ý kiến của
bạn bè mình và mạnh dạn nhận xét về bài làm của bạn. Nhờ vậy mà chất lượng
phân môn Tập làm văn cũng như môn Tiếng Việt đã nâng lên rõ rệt.
3.2. Kiến nghị
* Về phía nhà trường:
- Tổ chức nhiều buổi chuyên đề hơn nữa để cho giáo viên chúng tôi được
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả: Lê Thị Bắc
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường Tiểu học Triệu Thành
STT
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá
xếp loại
Kết quả
đánh giá,
xếp loại
Năm học
đánh giá,
xếp loại
Phòng GD&ĐT
Triệu Sơn
C
2009 - 2010
Phòng GD&ĐT