SKKN tiếng việt: Một số biện pháp rèn kỹ năng nói trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 ở trường tiểu học Nga Liên 1 - Pdf 41

MỤC LỤC
NỘI DUNG
A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
II.Mục đích nghiên cứu.
III. Đối tượng nghiên cứu.
IV. Phương pháp nghiên cứu.
B. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.
II.Thực trạng của đề tài nghiên cứu.
III. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
C.KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận.
II. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO

TRANG
2
3
3
3
4
5
7
17
18
19
20

A. MỞ ĐẦU

mình, nhằm giúp trẻ sớm có tính cách mạnh dạn, cởi mở và tự tin hơn trong
quá trình giao tiếp.
Ngày nay trong sự phát triển của nền kinh tế tri thức, thời đại bùng nổ
công nghệ thông tin, ngôn ngữ nói được thay bằng ngôn ngữ viết qua máy tính
(gửiE.mall, chát, nhắn tin… trên mạng). Như vậy, việc rèn luyện bồi dưỡng kĩ
năng nói cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 1 nói riêng chưa được
chú trọng, chưa quan tâm đúng mức. Trong thực tế cho thấy, một số người có
trình độ cao khi viết một văn bản nào đó đọc nghe rất có tính thuyết phục nhưng
khi trình bày ý kiến trước đám đông lại gặp rất nhiều khó khăn.
Cho nên với học sinh lớp 1, các em là một thế hệ trẻ chập chững mới bước vào
đời lại không có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ, khả năng giao tiếp còn hạn
chế.
Các em còn nhút nhát, chưa tự tin trong lúc nói, tìm tiếng, tìm từ còn chậm
trong khi nói, nói không thành câu. Nói không rõ lời, chưa phát âm chuẩn,
nhiều học sinh nói còn kéo dài, chưa trôi chảy, chưa lưu loát, chưa biểu cảm.
2


Với lý do trên, tôi xin đã mạnh dạn nghiên cứu “ Một số biện pháp rèn
kỹ năng nói trong môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 1 ở trường tiểu học Nga
Liên 1 ”
II. Mục đích nghiên cứu:
- Giúp cho học sinh có ý thức trong việc sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp,
rèn cho học sinh nói đủ câu, lưu loát, suy nghĩ mạch lạc, diễn đạt rõ ràng, trong
sáng, có khả năng làm chủ được tiếng nói và chữ viết của mình.
- Giúp cho học sinh biết ứng xử các tình huống khi giao tiếp một cách
nhạy bén, lễ phép, thông minh hơn.
- Đưa ra những biện pháp bồi dưỡng kỹ năng nói cho học sinh lớp 1.
- Tạo cơ hội cho các em mạnh dạn, tự tin khi giao tiếp, khám phá diễn đạt
ý tưởng trước đám đông, thành công trong công việc. Đồng thời góp phần phát

khoa học nghiên cứu sự thụ đắc ngôn ngữ của trẻ, với nhiều trường phái khác
nhau. Tiêu biểu trong số đó là 4 trường phái: hành vi luận, bẩm sinh luận, vận
động luận và tri nhận luận.
Tâm lý học tri nhận và ngôn ngữ học tri nhận có quan điểm tương đối
toàn diện về khả năng lĩnh hội ngôn ngữ của trẻ em. Theo quan điểm này, khi trẻ
em bắt đầu thụ đắc ngôn ngữ (ngay từ những tháng đầu đời), chúng trước hết
xây dựng những phạm trù đó được phân biệt. Những hình dung có tính khái
niệm mà trẻ tạo dựng trong năm đầu tiên đối với các sự vật, quan hệ, đặc tính và
các sự kiện cung cấp một nền tảng tri nhận rộng lớn, để trên nền tảng đó, chúng
có thể tìm ra các từ ngữ từ trong chuỗi lời nói hướng đến trẻ. Theo tiến sĩ
Pamela Snow, đại học, những trẻ em không nhận được sự trợ giúp đầy đủ để
phát triển các kỹ năng giao tiếp bằng lời trong những năm đầu tiên của cuộc đời
thường khó khăn trong giao tiếp xã hội và phát triển cảm xúc khi chúng lớn lên.
Theo các nhà nghiên cứu tâm sinh lí trẻ em, từ 7 tuổi trở đi, trẻ em trở nên khó
học ngôn ngữ hơn. Quá trình tư duy của trẻ thay đổi kéo theo việc học ngôn ngữ
cũng thay đổi. Lúc này, trường tiểu học trở thành môi trường giáo dục tốt nhất
hướng dẫn trẻ phát triển vốn từ, học các cấu trúc chính xác của tiếng mẹ đẻ, mở
mang hiểu biết, hoàn thiện nhân cách.
Những điều nêu trên cho thấy, việc học tiếng nói chung và việc rèn kĩ
năng nói nói riêng ở tiểu học cần dựa trên nền tảng vốn sống, kinh nghiệm sử
dụng ngôn ngữ của trẻ để tiếp tục phát huy năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy
bằng ngôn ngữ của các em. Việc tìm ra những biện pháp phù hợp để phát triển
kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh tiểu học là trọng trách của các nhà nghiên cứu
giáo dục.
Phương pháp dạy học tiếng Việt ở tiểu học: Định hướng đổi mới phương
pháp dạy học của bộ môn Tiếng Việt là phát huy tính tích cực chủ động của học
sinh, tạo cơ hội để có thể tăng cường rèn luyện cho học sinh cả 4 kĩ năng sử
dụng tiếng Việt. Điểm mấu chốt để giúp học sinh phát huy tính tích cực chủ
động trong giờ học tiếng Việt là người giáo viên cần có những biện pháp huy
động vốn kiến thức, kĩ năng học sinh đã tích luỹ, rèn tập được có liên quan đến

viên đã làm cho những học sinh rụt rè ngày càng trở nên nhút nhát hơn.
- Nêu câu hỏi chưa phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp, câu hỏi dễ
lại dành cho học sinh khá, câu hỏi khó đôi khi muốn học sinh yếu trả lời,…
- Có sửa sai nhưng chưa kiên trì, uốn nắn trong mọi tình huống, mọi hoạt
động của bài cũng như ở những giờ học khác.
- Đa số các đồng chí trong thao giảng hoặc các tiết dự giờ rất ngại dạy các
tiết 2 của bài Tiếng Việt. Bởi vì tiết 2 có hoạt động luyện nói cho học sinh.
- Kỹ năng rèn nói cho học sinh chưa tốt: Chủ yếu là giáo viên đặt câu hỏi cho
học sinh trả lời chứ chưa biết bằng các câu hỏi gợi mở để giúp học sinh khá, giỏi
có thể nói được những câu có hình ảnh hơn.

5


- Trong phần luyện nói giáo viên chủ yếu sử dụng các hình ảnh có sẵn trong
SGK chứ chưa sưu tầm thêm các loại tranh ảnh khác phục vụ cho bài luyện nói
đạt kết quả cao hơn.
- Giáo viên nghiên cứu nội dung của chủ đề luyện nói, và tranh phục vụ cho
bài luyện nói chưa kỹ.
- Giáo viên chưa thực sự nhận thức hết vai trò của hoạt động luyện nói cho
học sinh trong quá trình dạy học nên dễ dẫn đến sa vào việc dạy luyện nói thành
tiết dạy học đạo đức.
- GV cũng chưa có biện pháp khuyến khích HS luyện nói hiệu quả.
GV chưa có biện pháp kiểm soát kết quả HS luyện nói theo nhóm khiến việc tổ
chức cho HS hoạt động nhóm chỉ mang tính hình thức, chưa hiệu quả.
1.2. Thực trạng học của học sinh:
- Các em chủ yếu là con em vùng nông thôn nên các em còn hạn chế về vốn
sống, vốn hiểu biết và kinh nghiệm giao tiếp dẫn đến việc các em không biết nói
gì với các chủ đề luyện nói theo yêu cầu bài học.
- Trong giờ học chưa chú ý lắng nghe một cách tích cực khi khi giáo viên

(Nói chưa đủ câu, nói
chưa lưu loát, chưa
đúng chủ đề)

số
lượng

Tỉ lệ

số
lượng

Tỉ lệ

số
lượng

tỉ lệ

6


Tháng 10/ 2015

3

10,7%

12


* Dạng bài thứ nhất: làm quen với âm và chữ
Ở giai đoạn này, phần luyện nói theo tranh tương đối tự do, theo chủ đề
của tranh, không gò bó trong các âm thanh vừa học. giáo viên gợi ý theo định
hướng, bằng các câu hỏi hướng dẫn học sinh nói qua những câu trả lời đơn giản,
nội dung gần gũi với trẻ em. Mục tiêu của phần luyện nói trong giai đoạn này là
giúp học sinh làm quen với không khí học tập mới, không rụt rè, nhút nhát, dám
mạnh dạn nói cho các bạn nghe và nghe các bạn nói theo hướng dẫn của giáo
viên trong môi trường giao tiếp mới- giao tiếp văn hóa, giao tiếp học đường.
Ví dụ:
Phần luyện nói bài 1. e
- Giáo viên nêu nhưng câu hỏi :
+ Quan sát tranh, các em thấy những gì? Các bạn nhỏ trong bức tranh
đang học gi?
+ Các bức tranh đầu chó điểm chung là gì?...
7


Kết thúc phần luyện nói giáo viên hỏi: Học là cần thiết nhưng rất vui. Ai
ai cũng phải đi học và học hành chăm chỉ. Vậy lớp ta có tích đi học đều và học
tập chăm chỉ không?
Phần luyện nói bài 3. bé
- Giáo viên có thể đưa ra câu hỏi gợi ý:
+ Quan sát tranh em thấy những gì?
+ Các bức tranh này có gì giống và có gì khác nhau
+ Em thích bức tranh nào nhất? Vì sao?
- GV phát triển chủ đề luyện nói:
+ Ngoài các hoạt động kể trên, em và các bạn còn những hoạt động nào
khác?
+ Ngoài giờ học tập, em thích làm gì nhất?...
* Dạng bài thứ hai: Dạy - học âm vần mới.



Yêu cầu luyện nói là một điểm mới của sách giáo khoa mới, có mục đích
giúp phát triển ngôn ngữ của trẻ, rèn cho các em sớm có tính cách mạnh dạn, cởi
mở, tự tin. Điều quan trọng là giáo viên phải biết cách khơi gợi, kích thích học
sinh nói năng, có hứng thú bộc lộ cảm xúc, ý nghĩ của mình. Ví dụ: Khi dạy bài
“ Ngôi nhà”, phần luyện nói, Giáo viên phải khéo léo khơi gợi để mỗi em học
sinh đều muốn bộc lộ mơ ước của mìnhvề một ngôi nhà tương lai. Hay dạy bài
Vì mẹ bây giờ mới về, phải biết cách làm cho học sinh hiểu yêu cầu hỏi nhau dựa
theo nội dung bài tập đọc. Ví dụ: Bạn có hay làm nũng cha mẹ không? Bạn có
cho làm nũng cha mẹ là một tính xấu không? Hãy kể về một lần bạn làm nũng
cha, mẹ…
Môn học vần - tập đọc lớp 1 mỗi một bài học vần, tập đọc đều có 1chủ đề
riêng. Tuy nhiên các chủ đề đó đều tập trung ở các chủ điểm như: gia đình, nhà
trường, thiên nhiên, tự nhiên, con vật, cây cối….
Phần học vần có 80 chủ đề, tập đọc có 32 nội dung. Thời gian dành cho
luyện nói thông thường 8-10 phút. Chương trình yêu cầu của luyện nói nâng dần
theo mức độ từ dễ đến khó, ngắn đến dài.
Tất cả các chủ đề luyện nói đó đều xoay quanh cuộc sống của các em và
nó cũng rất gần gũi, gắn liền với đời sống của các em. Bên cạnh đó cũng có một
số chủ đề luyện nói cũng còn xa thực tế mà các em khó có thể hiểu và nắm bắt
được như: thung lũng, suối, đèo, biển cả, Ba Vì….Các chủ đề luyện nói, luôn
gắn liền với mỗi bài học âm, vần và tập đọc trong suốt cả năm học.
Khi dạy học hoạt động luyện nói, giáo viên chú ý hướng dẫn các em nói
đủ 2 nội dung: nhận biết về chủ đề và cảm xúc của các em trước chủ đề đó.
3. Khảo sát phân loại đối tưọng học sinh trong lớp để lựa chọn hình thức,
phương pháp dạy học cho phù hợp.
Ngay khi bắt đầu năm học được 1tháng tôi tiến hành khảo sát phân loại
đối tượng học sinh trong lớp thành 3 nhóm:
- Nhóm 1: Nhóm các em nói, diễn đạt trôi chảy, đủ ý, thành câu, nói, diễn đạt

sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài 4 về dấu hỏi. Giáo viên đưa tranh con hổ hỏi: Tranh vẽ
gì? Thay vì phải trả lời: “Thưa cô, tranh vẽ con hổ ạ”. Thì học sinh thường chỉ
trả lời: “con hổ”. Hay: Trong tiếng “hổ” có dấu gì ? học sinh thường trả lời:
“dấu hỏi”, chứ không phải là: “Thưa cô, trong tiếng hổ có dấu hỏi”. Bởi lẽ do
thói quen hàng ngày giao tiếp, do vốn từ và khả năng nhớ nội dung câu hỏi của
học sinh còn hạn chế. Chính vì vậy ngay từ khi bắt đầu bước chân vào lớp 1, với
6 bài học đầu tiên về âm và dấu thanh. Đồng thời áp dụng với tất cả các tiết học
khác như: toán, tự nhiên xã hội, đạo đức…Tôi bắt đầu tập trung rèn luyện cho
học sinh kỹ năng nói cho đủ câu, đủ ý, biết cách trả lời câu hỏi của giáo viên đưa
ra.
Ví dụ: Khi dạy bài 7: Giáo viên đưa tranh cho học sinh quan sát và hỏi: Tranh
vẽ con gì ? (cho học sinh trả lời)
- Nếu học sinh trả lời “Con bê” hoặc không biết cách trả lời thì giáo viên
hướng dẫn học sinh cách trả lời như: Nhắc lại một phần câu hỏi, khi trả lời phải
kèm theo lời thưa cô (thầy). M: Thưa cô, tranh vẽ con bê. Sau đó cho học sinh
nhắc lại.
10


- Lúc đầu có thể giáo viên phải làm mẫu một vài lần, cho học sinh nhắc lại
câu trả lời với hình thức cá nhân, nối tiếp và đôi khi cho học sinh đọc câu trả lời
đồng thanh (cô đọc trước học sinh đọc lại sau). Với cách làm như vậy dần dần
hình thành thói quen cho học sinh nói đủ câu, đủ ý và trả lời câu hỏi rõ ràng đầy
đủ câu. Quan tâm uốn nắn sửa sai kịp thời cho các em ở mọi lúc, trong bất kỳ
môn học nào, sau vài lần sửa các em đã ý thức được việc nói phải đầy đủ câu.
Mặt khác học sinh lớp 1 các em còn rất ngây thơ, trong tâm trí các em cô
giáo luôn là hình mẫu chuẩn, lí tưởng. Chính vì vậy mà mỗi lời nói, cử chỉ của
cô giáo luôn là tấm gương để học sinh bắt chước.
5. Rèn cho học sinh kỹ năng nói thành câu, thành đoạn:

học sinh nền nếp, thói quen trình bày một vấn đề nào đó phải có sự lô gíc. Đây
cũng là tiền đề để học sinh có khả năng viết văn ở các lớp học tiếp theo.
6. Hướng dẫn học sinh luyện nói đúng chủ đề:
Mỗi chủ đề luyện nói luôn gắn liền với cuộc sống, môi trường quen thuộc,
gần gũi với sự hiểu biết của các em. Đặc biệt ở mỗi bài học vần, tập đọc sẽ có
chủ đề nói tương ứng. Chính vì vậy mà giáo viên cần xác định rõ, đúng mục tiêu
của chủ đề luyện nói để hướng dẫn học sinh luyện nói đúng chủ đề.
Chẳng hạn như: Chủ đề “Nói lời cảm ơn”, “Nói lời xin lỗi” ,”Vâng lời
cha mẹ”….. Nếu đi quá sâu vào chủ đề sẽ dễ lẫn sang dạy đạo đức. Vì thế, để
khắc phục điều này, tôi chỉ định hướng cho các em câu hỏi gợi ý xoay quanh
vấn đề trọng tâm cần luyện nói:
- Em chỉ kể cho cô và các bạn trong nhóm nghe về những lần mình đã cảm ơn ai
đó về điều gì?
- Hoặc em đã nói lời xin lỗi ai vì điều gi ?
- Kể những việc đã làm thể hiện em vâng lời cha mẹ …..
Hoặc những chủ đề về “Biển cả”,”Thung lũng, suối, đèo”,”Hươu, Nai,
Gấu, Voi, Cọp” “Sẻ, ri, bói cá, le le” Gió, mây, mưa, bão, lũ”…dễ lẫn sang dạy
tự nhiên xã hội. Do đó, tôi cũng cố gắng giúp học sinh hiểu rõ nội dung chủ đề
luyện nói bằng cách gợi ý những câu hỏi thật sát với chủ đề, không sa vào tìm
hiểu về đời sống của các động vật, sự vật, hiện tượng,….
Chẳng hạn những chủ đề về các sự vật, hiện tượng xảy ra trong thiên
nhiên như: gió, mây, mưa, bão, lũ….
Cho học sinh xem 1 số tranh ảnh liên quan đến các hiện tượng đó, học sinh sẽ
nêu được tên của các sự vật trên. Sau đó, giáo viên chỉ cần nêu câu hỏi gợi ý để
các em cùng thảo luận với nhau về các hiện tượng thiên nhiên và tác hại của
chúng.
Những chủ đề nói về động vật : GV có thể cho các em sắm vai tên của các con
vật trong chủ đề cần luyện nói. Nêu lên nhận xét riêng của em về chúng (Em
thích, không thích con vật nào đó? Nói lên cảm nhận của mình: tại sao em lại
thích, không thích con vật đó?)

biệt trong một lớp sẽ có nhiều đối tượng học sinh. Chính vì vậy mà giáo viên
cũng cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi gợi ý cho từng nhóm đối tượng, tuỳ nội
dung từng bài.
Chẳng hạn như: với các chủ đề nói về : cây cối, hoa trái …( giáo viên có thể
đưa những vật thật hoặc tranh ảnh để học quan sát lấy điểm tựa để luyện nói….)
Ở những bài chỉ có 1- 2 câu gợi ý SGV, giáo viên có thể ứng dụng CNTT
trong một phần nội dung của tiết học (ở phần luyện nói theo chủ đề ) để giúp
học sinh có cơ hội được xem, được thấy những gì có liên quan đến chủ đề mình
đang học qua đó có thể hiểu và nói tốt hơn.
Ví dụ: - Bài 17, chủ đề luyện nói: Thủ đô
Giáo viên cho học sinh quan sát tranh trong sách giáo khoa hoặc tranh
trong bộ Đ DDH và nêu một số câu hỏi gợi ý:
13


- Trong tranh, vẽ những gì?
- Các em có biết cô giáo đưa học sinh đi thăm cảnh gì?( Chùa Một Cột)
- Chùa Một Cột ở đâu?( Hà Nội)
- Hà nội còn được gọi là gì?( Thủ đô)
- Mỗi nước có mấy thủ đô? ( GV có thể giới thiệu Hà Nội là thủ đô của
nước Việt Nam).
- Em nào đã được đến Thủ đô? Em hãy kể một số cảnh đẹp về thủ đo mà
em biết?...
Giáo viên trình chiếu một số địa điểm, cảnh đẹp ở Thủ đô Hà Nội cho học sinh
biết.

Cảnh Hồ Gươm

Bưu điện Hà Nội


ảnh hỗ trợ giúp học sinh có thể cảm nhận, hiều được nội dung chủ đề luyện nói.
-

Trong khi hướng dẫn HS luyện nói giáo viên cũng cần chú trọng đến việc

phân hóa đối tượng học sinh trong lớp. Tùy từng đối tượng học sinh mà có cách
sử dụng câu hỏi gợi ý.
Đối với học sinh yếu, nói năng còn rụt rè, khi nói diễn đạt câu không hết ý
hay không diễn đạt được chủ đề luyện nói thì giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi
để gợi ý, hướng dẫn học sinh trả lời theo các gợi ý một cách đầy đủ, có hệ thống
16


theo chủ đề. Trong tiết dạy, tôi thường chú ý đến HS ít nói, thụ động, đặt những
câu hỏi dễ động viên các em cùng tham gia nói.
Ví dụ: Khi học những chủ đề quen thuộc như: chủ đề " Xanh, đỏ, tím,
vàng" - bài 64, chủ đề " Trong cặp sách của em" - bài 85, …giáo viên có thể
khuyến khích học sinh sưu tầm hình ảnh, vật thật mang đến lớp để quan sát ,
thảo luận cùng nhau qua đó có thể cùng nhau luyện nói. Chính đồ vật các em
chuẩn bị có khi là sở thích của các em, các em hiểu rõ về chúng hơn. Bởi vậy sẽ
tạo cho trẻ niềm vui, hứng thú khi các em được nói, kể về chúng với bạn bè của
mình. Điều đó cũng góp phần giúp nội dung luyện nói của giáo viên đạt hiệu
quả.
Trọng tâm khi dạy luyện nói cho HS, tôi thường chú ý rèn kỹ năng nói to,
rõ tiếng; nói thành câu, thành đoạn hoàn chỉnh, hay, giàu cảm xúc. Với một ngữ
điệu tự nhiên, chân thành.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Qua nhiều năm áp dụng và thực hiện kinh nghiệm trong việc hình thành
và rèn luyện kĩ năng nói cho học sinh khối lớp 1, tôi đã mang lại hiệu quả cao
cho việc dạy - học môn Tiếng Việt cũng như kĩ năng giao tiếp của các em ngày

đúng chủ đề

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

Số lượng

Tỉ lệ

Cuối học
kỳ 1

7

25%

12

42,8%

9

32,2%

Cuối học

chú ý đến những em hay giơ tay. Giáo viên cần đảm bảo tạo cơ hội cho tất cả
các học sinh lần lượt được nói trước lớp. Chính vì vậy, việc phân nhóm nhỏ để
cho các em được tập nói là rất cần thiết.
- Phối hợp nhịp nhàng các hoạt động ngoại khóa khác để phát triển kỹ
năng
nói.
- Thường xuyên động viên, khuyến khích học sinh tham gia giao tiếp.
- Xây dựng lớp học trong không khí học tập thoải mái, vui tươi, thân thiện
giữa thầy và trò, giữa học sinh với học sinh. Động viên, khuyến khích, uốn nắn
học sinh kịp thời ở tất cả các môn học, gần gũi trò chuyện cùng học sinh, nhất là
học sinh nhút nhát. Xây dựng tốt nề nếp lớp học, phối hợp nhịp nhàng các hình
thức tổ chức dạy học.
II. Kiến nghị:
Đối với các đ/c giáo viên dạy lớp 1: Cần quan tâm hơn tới việc luyện nói
cho các em học sinh trong tiết dạy Tiếng Việt. Giáo viên cần phải nghiên cứu
kỹ chủ đề dạy luyện nói, xây dựng hệ thống các câu hỏi gợi ý phù hợp để các
18


em học sinh có thể nói đúng chủ đề và nói một cách sáng tạo. Chứ không nên
hướng dẫn học sinh trả lời theo câu hỏi của giáo viên. Có thể sưu tầm một số
các tranh ảnh liên quan đến chủ đề luyện nói để các em có vốn hiểu biết phong
phú và nói tốt hơn. Nói tốt cũng chính là tiền đề để các em có thể viết bài tập
làm văn tốt hơn ở các lớp trên.
- Đối với nhà trường: Cần tạo điều kiện bổ sung cho các lớp 1 bộ tranh dạy
luyện nói. Tổ chức chuyên đề dạy phân môn Tiếng Việt lớp 1 trong đó có phần
luyện nói cho tất cả các đ/c giáo viên dự để rút kinh nghiệm dạy phần luyện nói
cho học sinh lớp 1 tốt hơn.
Trên đây là kinh nghiệm nghiên cứu của bản thân về rèn kỹ năng nói cho
học sinh lớp 1 thực tế đã áp dụng có hiệu quả. Rất mong được sự trao đổi, góp ý,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status